BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
---/---
BỘ NỘI VỤ
---/---
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Lƣơng Ngọc Thành
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
---/---
BỘ NỘI VỤ
---/---
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Lƣơng Ngọc Thành
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và rõ ràng. Đề tài nghiên cứu
một cách độc lập, không có sự sao chép kết quả của bất cứ để tài nào đã có
trong lĩnh vực này. Lời cam đoan này của tôi là đúng sự thật và tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CẤP HUYỆN ............................................ 9
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ .... 9
1.1.1. Khái niệm văn hóa và văn hóa các dân tộc thiểu số .............................. 9
1.1.2. Đặc điểm văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam ............................... 16
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
CẤP HUYỆN ............................................................................................... 17
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về văn hóa ............................................. 17
1.2.2. Quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số .............................. 19
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số ở cấp huyện
………………………………………………………………………….24
1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN
TỘC THIỂU SỐ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI ................................................................... 31
1.3.1. Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở huyện Hữu Lũng tỉnh
Lạng Sơn
................................................................................................ 31
1.3.2. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở huyện Phong Thổ,
Lai Châu…... ………………………………………………………………...36
1.3.3. Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở
LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN BA VÌ .................................................................................. 74
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VĂN
HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ ...................................................... 74
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 77
3.2.1. Nhận thức có tính hệ thống và tính khoa học đối với các giá trị văn hóa
dân tộc thiểu số cần đƣợc bảo tồn và phát huy.............................................. 77
3.2.2. Xây dựng và triển khai hệ thống chính sách, pháp luật về bảo tồn, phát
huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số một cách cụ thể, phù hợp ................ 80
3.2.3. Tăng cƣờng đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác
quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số............................................................. 81
3.2.4. Tăng cƣờng huy động các nguồn lực phục vụ quản lý nhà nƣớc về văn
hóa các dân tộc thiểu số ................................................................................ 84
3.2.5. Phát huy văn hóa dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch, phát triển
kinh tế làng nghề .......................................................................................... 86
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ............................................................................... 89
KẾT LUẬN ................................................................................................. 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 92
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
QLNN
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
của đất nƣớc. Một dân tộc nếu để mai một truyền thống văn hóa, sẽ khó giữ
đƣợc bản sắc của dân tộc mình. Văn hóa suy thoái sẽ gây trở ngại trực tiếp
đến tiến trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc, với nền văn hóa nhiều
màu sắc của 54 dân tộc anh em. Các dân tộc cùng nhau chung sống từ lâu đời,
có chung một sứ mệnh lịch sử, cùng chung một sự nghiệp, cho nên đã nảy
sinh một cách khách quan những mối quan hệ về các mặt trong đời sống xã
hội, tạo nên nền văn hóa chung thống nhất từ sự đa dạng các sắc thái, bản sắc
của nhiều tộc ngƣời. Năm 1961, trong bài trả lời phỏng vấn báo Nhân
đạo thƣờng trú tại Hà Nội, trƣớc câu hỏi của phóng viên về nguyên nhân làm
nên sức mạnh kỳ diệu của nhân dân trong chín năm kháng chiến chống Pháp,
để bảo vệ chính quyền non trẻ cũng nhƣ khí thế mãnh liệt của dân tộc Việt
Nam trong công cuộc xây dựng đất nƣớc sau khi hòa bình lập lại, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nhân dân nước chúng tôi có ý chí phi thường là do
lòng tự trọng muốn sống làm người chứ không chịu làm nô lệ. Điều này cũng
đúng với những nhà tri thức nước chúng tôi thiết tha với nền văn hóa dân
tộc,… Có lẽ phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát
triển văn hóa,… Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân
chúng tôi tiến bộ” [17, tr. 190]. Những khẳng định đó của Ngƣời đã nói lên
vai trò quan trọng của văn hóa trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân
1
tộc, cũng nhƣ trong công cuộc hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sứ mệnh
lịch sử hiện nay là xây dựng nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và nền văn hóa
đậm đà bản sắc dân tộc. Do vậy, đòi hỏi chúng ta phải biết kế thừa vốn văn
hóa cổ truyền tốt đẹp, biết chủ động tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, kết
hợp hài hòa giá trị văn hóa của các dân tộc trong nền văn hóa chung thống
nhất, tạo điều kiện để các dân tộc phát triển. Đây cũng là nội dung quan trọng
trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay.
quan tâm nghiên cứu của Đảng, Nhà nƣớc, các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt
động thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi công trình có những góc
độ tiếp cận, phạm vi và cấp độ nghiên cứu khác nhau. Có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nhóm các giáo trình về văn hóa, cung cấp cơ sở lý luận, những
kiến thức tổng quan về văn hóa, văn hóa các dân tộc Việt Nam, nhƣ:
- Trần Ngọc Thêm (1996), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb
Giáo dục;
- Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng (2000),
Nxb Chính trị Quốc gia;
- Vũ Ngọc Khánh, Giáo trình Văn hóa dân gian người Việt (2007), Nxb
Quân đội nhân dân
- Trần Quốc Vƣợng (2010), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb
Giáo dục;
Các cuốn giáo trình này cung cấp cho ngƣời đọc hiểu một cách khái quát
về đặc điểm, cũng nhƣ những nét độc đáo về văn hóa Việt Nam thông qua các
phong tục, tín ngƣỡng, lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam.
3
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Việt
Nam có thể kể đến các công trình sau:
- Lê Ngọc Thắng, Lê Bá Nam (1994), Bản sắc văn hóa các dân tộc ở
Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc;
- Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa, tộc người,
Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội;
- Nguyễn Văn Huy (1998), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam,
Nxb Giáo dục;
- Trƣờng Lƣu (2003), Toàn cầu hóa về vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc,
riêng trên địa bàn huyện Ba Vì. Tuy nhiên chƣa có công trình nào đề cập trực
tiếp đến hoạt động quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa
bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, do đó việc lựa chọn đề tài này hoàn toàn
không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã đƣợc công bố.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà
nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì.
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Các dân tộc thiểu số sống quần cƣ ở vùng ven chân
núi Tản gồm 7 xã miền núi của huyện Ba Vì gồm các xã: Ba Trại, Ba Vì, Tản
Lĩnh, Minh Quang, Khánh Thƣợng, Vân Hòa, Yên Bài. Do đó, không gian
nghiên cứu cũng tập trung vào địa bàn 7 xã này.
5
Về thời gian: Ba Vì trƣớc đây là huyện thuộc tỉnh Hà Tây, kể từ ngày
01/8/2008 khi địa giới hành chính thủ đô Hà Nội đƣợc mở rộng, Ba Vì trở
thành huyện thuộc Hà Nội. Do đó, trong công tác quản lý nhà nƣớc nói
chung, quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng có những
thay đổi nhất định. Do đó, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản lý nhà
nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số ở Ba Vì kể từ tháng 8/2008 đến nay
(2017).
Về nội dung: Nghiên cứu tổ chức bộ máy việc thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện; việc
xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nƣớc về bảo tồn
và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số; việc tổ chức hoạt động tuyên truyền,
quảng bá sản phẩm văn hóa các dân tộc thiểu số; việc huy động các nguồn lực
xã hội tham gia vào việc bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về
văn hóa, lý luận về dân tộc thiểu số, lý luận về văn hóa dân tộc thiểu số, lý
luận về vấn đề bảo tồn, quản lý, phát huy văn hóa dân tộc thiểu số…
Luận văn là sự vận dụng lý luận nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc đối với
lĩnh vực văn hóa vào một trƣờng hợp cụ thể là: các dân tộc thiểu số trên địa
bàn huyện Ba Vì.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
7
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ bổ sung, gợi mở, góp phần nâng cao
hiệu quả công tác quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa
bàn huyện Ba Vì.
Luận văn đƣa ra các giải pháp, kiến nghị, giúp cho các cơ quan chức
năng làm tốt công tác quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số của
huyện Ba Vì nói riêng, cả nƣớc nói chung.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
ở các khóa đào tạo và các chƣơng trình bồi dƣỡng cho cán bộ văn hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn đƣợc kết cấu thành 4 phần, cụ thể: Phần mở đầu, nội dung
chính, kết luận và tài liệu tham khảo. Trong đó, phần nội dung chính của Luận
văn đƣợc chia thành 3 chƣơng, bao gồm:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu
số ở cấp huyện
Chƣơng 2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về văn hóa các dân tộc thiểu số
trên địa bàn huyện Ba Vì
Chƣơng 3. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc về văn
hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì trong thời gian tới.
hoá ở đây đƣợc dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục
tùng, dùng văn hoá mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).
Ở phƣơng Tây, để chỉ đối tƣợng mà chúng ta nghiên cứu, ngƣời Pháp,
ngƣời Nga có từ “kuitura”. Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ
“cultus animi” là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ “cultus” là văn hoá với hai khía
cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo
cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những
phẩm chất tốt đẹp.
Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá”, UNESCO (1982) xác
định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những
nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách
của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ
thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời,
những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng. Văn hoá đem
lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và
dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán đƣợc
những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hoá mà con ngƣời
tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn
thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt
những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vƣợt trội lên bản
thân” [24, tr.169].
Ở Việt Nam, cũng đã có một số nhà nghiên cứu đƣa ra các cách hiểu
khác nhau về khái niệm văn hóa, có thể kể đến nhƣ:
10
quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Nhƣng văn hoá là
một kiến trúc thƣợng tầng (báo Cứu quốc, tháng 8- 1945)” [17, tr.2].
Theo nghĩa rất hẹp, văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con
ngƣời đƣợc đánh giá bằng trình độ học vấn phổ thông, thể hiện ỏ việc Hồ Chí
Minh yêu cầu mọi ngƣời “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ”...
Đặc biệt, năm 1943 Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục
đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp
của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã
sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn” [17, tr.27]. Đây có thể coi là định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh, và
đây cũng là lần duy nhất, không thấy Hồ Chí Minh trở lại định nghĩa văn hóa
này.
Văn hóa là sản phẩm của loài ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển
trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham
gia vào việc tạo nên con ngƣời, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn
hóa đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội
hóa. Văn hóa đƣợc tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác
xã hội của con ngƣời. Văn hóa là trình độ phát triển của con ngƣời và của xã
hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động
của con ngƣời cũng nhƣ trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con ngƣời
tạo ra và đƣợc con ngƣời thừa nhận, bao gồm trong đó là Chân – Thiện – Mỹ.
12
Nhƣ vậy, trên thực tế, có rất nhiều quan niệm, cách định nghĩa thuật ngữ
văn hóa. Nhƣng cho đến nay, vẫn chƣa có đƣợc một sự nhất trí chung và cũng
chƣa có định nghĩa nào thoả mãn đƣợc cả về định tính và định lƣợng. Điều
chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, có
những nét đặc thù về văn hoá; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển
cao hơn những nhân tố tộc ngƣời ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự
giác tộc ngƣời của dân cƣ cộng đồng đó. Theo nghĩa này dân tộc là một bộ
phận của quốc gia, là dân tộc-tộc ngƣời.
Tiếp cận ở nghĩa rộng, dân tộc chỉ một cộng đồng ngƣời ổn định làm
thành nhân dân một nƣớc, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc
ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi
quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh
chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nƣớc và giữ nƣớc. Theo nghĩa
này, dân tộc là dân cƣ của một quốc gia nhất định, là quốc gia-dân tộc hay
dân tộc-quốc gia
Thứ hai, khái niệm “Dân tộc thiểu số”
Thuật ngữ “Dân tộc thiểu số” hiện nay đƣợc sử dụng tƣơng đối phổ biến
ở tầm quốc gia lẫn quốc tế, trong đó, có những cách hiểu mang tính chất khoa
học, đúng đắn, những cũng có nhiều cách hiểu lệch lạc, sai lầm.
Có không ít ngƣời khi bàn về thuật ngữ “dân tộc thiểu số” thƣờng cho
rằng đó là các tộc ngƣời, nhóm ngƣời lạc hậu, chậm tiến, kém phát triển hoặc
chậm phát triển. Họ thƣờng sử dụng thuật ngữ này với hàm ý miệt thị, coi
thƣờng các nhóm ngƣời, dân tộc cụ thể nào đó, xuất phát từ nguyên nhân hạn
14
chế về nhận thức, tƣ tƣởng, ý thức hệ hoặc xuất phát từ mục đích chính trị vốn
bị chi phối bởi quan điểm của giai cấp thống trị ở mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, đây không phải là cách hiểu đƣợc chấp nhận trong các ngành
khoa học liên quan.
Theo chuyên ngành Dân tộc học này, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” chỉ có
cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá trình phát
triển của lịch sử, cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và
lối sống mà dựa trên đó mỗi dân tộc thiểu số tự khẳng định bản sắc riêng của
mình.
1.1.2. Đặc điểm văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Thứ nhất, diễn ra trong không gian tƣơng đối hẹp. Đây là đặc điểm tất
yếu xuất phát từ số lƣợng cƣ dân của các nhóm dân tộc thiểu số. Với dân số ít
nên sự quần cƣ của các nhóm dân tộc thiểu số chiếm một khoảng không gian
chật hẹp hơn nhiều so với các nhóm dân tộc đa số. Do không gian sinh hoạt
nhỏ hẹp nên các giá trị văn hóa vật thể của các dân tộc thiểu số thƣờng đƣợc
tập trung với mật độ cao, gắn liền với không gian sinh hoạt chung.
Thứ hai, diễn ra ra ở các địa bàn vùng đồi núi tƣơng đối hiểm trở. Do
những khác biệt về tín ngƣỡng, tính cảnh giác, nhu cầu về sự an toàn trong
mối tƣơng quan với các nhóm đa số, các dân tộc thiểu số thƣờng lựa chọn các
vùng đồi núi tƣơng đối hiểm trở, khó khăn về giao thông, đi lại để làm nơi
sinh sống của mình. Chẳng hạn, dân tộc H’Mông thƣờng chọn các rẻo cao,
những đỉnh núi cao đƣợc quan niệm là nơi tiếp giáp giữa đất trời làm nơi sinh
16
sống. Đặc điểm này cũng phù hợp với lịch sử các cuộc di cƣ của ngƣời
H’Mông trong quá trình cạnh tranh về nơi sinh tồn với các dân tộc khác.
Thứ ba, có tính tƣơng đối khép kín, hƣớng nội. Các nhóm dân tộc thiểu
số thƣờng có tính cách chung là tƣơng đối dè dặt trong việc tiếp xúc với các
nhóm khác. Trái lại, họ thƣờng chú trọng đến các giao tiếp trong nội bộ nhóm
mình, chú trọng tạo ra các liên kết bền chặt giữa các thành viên trong nhóm.
Thứ tư, có tính cố kết, sự tƣơng tác các thành viên trong cộng đồng rất
cao. Bắt nguồn từ tính tƣơng cận về huyết thống trong các cộng đồng nhỏ ban
đầu, cùng với tính hƣớng nội và khép kín đã hình thành nên sự cố kết rất cao