BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
....…../………
BỘ NỘI VỤ
…….../………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN THU MY
CHÍNH SÁCH AN NINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
....…../………
BỘ NỘI VỤ
…….../………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN THU MY
CHÍNH SÁCH AN NINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI TẠI VIỆT NAM
ngày
1
tháng
năm 2017.
Học
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
An sinh xã hội luôn là vấn đề thường trực đặt ra trong xã hội chúng ta.
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì việc nâng cao chất lượng
sống cho mỗi người dân trong xã hội lại càng được chú trọng. Điều này
đang được cả thế giới quan tâm và Việt Nam chúng ta cũng không nằm
ngoài số đó.
Việt Nam là đất nước giàu truyền thống dân tộc. Một trong những đạo lý
đó là truyền thống “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đạo
lý đề cao giá trị nhân văn của những thế hệ người đi trước đã dành tặng lại.
Do đó, việc chăm sóc phụng dưỡng người cao tuổi là trách nhiệm của mỗi
cá nhân, tổ chức trong xã hội. Người cao tuổi không chỉ có công sinh
thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách mà còn giữ vai trò chủ
đạo trong gia đình và xã hội. Tuy nhiên trong cuộc sống hiện đại ngày nay,
những giá trị gia đình cũng như các mối quan hệ xã hội đã có nhiều chuyển
biến khác biệt so với trước đây dẫn đến những mâu thuẫn giữa các thế hệ
ngày càng lớn. Sự mâu thuẫn này vốn tồn tại như một lẽ tự nhiên. Nó là sự
mâu thuẫn giữa tính kinh nghiệm, truyền thống với tính sáng tạo. Khi xã
hội chúng ta đang bước vào thời đại khoa học công nghệ, thì việc gìn giữ
Nghiên cứu già hóa dân số của các quốc gia khác trên thế giới của
TS. Mạc Tiến Anh. Đây là một trong những đề tài đầu tiên tìm hiểu, đánh
giá về hiện tượng già hóa của một số nước trên Thế giới. Đề tài đưa ra
những phân tích về điều kiện thực tiễn của từng nước, những tác động, ảnh
hướng của già hóa dân số và cách giải quyết, ứng phó của Chính phủ các
nước. Kết quả nghiên cứu được đăng tải liên tục trên 3 số của Tạp chí ảo
hiểm xã hội số
-
, số
và số
.
Cuốn sách “Những xu hướng biến đổi dân số ở Việt Nam”, Nhà xuất
bản Nông nghiệp, Hà Nội (
7) của PGS.TS. Nguyễn Đình Cử. Đây là
nghiên cứu chứa đựng những dự báo đầu tiên về xu hướng, tình hình biến
2
đổi cơ cấu của dân số Việt Nam trong dài hạn, là cơ sở hình thành, xây
dựng chính sách theo đòi hỏi của xã hội.
-
đã bao quát được những tác động tích cực và tiêu cực chủ yếu của việc cân
đối và xử lý quỹ
HXH,
HYT mà chưa thực sự quan tâm, đánh giá tới
ảnh hưởng toàn bộ các mặt của chính sách: tác động, đối tượng hay tổ chức
thực hiện chính sách. Đề tài đã cung cấp được nguồn số liệu mới, gần như
chính xác, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, phân tích của luận văn.
3. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề, lý luận về chính sách an sinh xã hội
dành cho người cao tuổi và phân tích, đánh giá việc tổ chức thực hiện các
chính sách trên, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất
lượng của những chính sách an sinh xã hội hiện hành đối với người cao
tuổi.
3
4. Nhiệm vụ của luận văn
- Tìm hiểu những công trình nghiên cứu về an sinh xã hội và chính sách
an sinh xã hội cho NCT, để làm rõ những vấn đề về lý luận chung của
những chính sách ASXH.
- Phân tích nội dung các chính sách hiện hành về ASXH cho NCT ở Việt
Nam thông qua những đánh giá về việc thực hiện chính sách hiện nay.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích nội dung, thực trạng thi hành
chính sách đề xuất định hướng xây dựng, hoàn thiện chính sách và đưa ra
một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện ASXH dành cho người
NCT ở Việt Nam trong tương lai.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
HXH Việt Nam qua các năm.
- Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, loại trừ.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến, áp dụng kinh nghiệm các chuyên
gia về vấn đề này.
- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên những quan điểm của Đảng và
nhà nước về sự quan tâm, chăm sóc đối với những người cao tuổi, để từ đó
có những góc nhìn và cách tiếp cận vấn đề mới.
7. Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm
sáng rõ tình hình, đặc điểm, nội dung của những chính sách an sinh xã
hội dành cho người cao tuổi không chỉ ở Việt Nam mà còn đối với những
quốc gia khác đang trong xu thế già hóa dân số trên thế giới hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao
chất lượng chăm sóc, quan tâm đến người cao tuổi, ngày càng đáp ứng
những nhu cầu phát sinh trước tình hình xã hội đang thay đổi từng ngày.
Phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn theo các quan niệm của
người phương Đông đối với người cao tuổi, xây dựng chính sách phù
hợp với bản chất của đất nước Việt Nam. Khích lệ người già sống lâu, có
tinh thần phấn đấu cho riêng bản thân có thể tiếp tục phục vụ cho xã hội.
8. Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về chính sách an sinh xã hội dành cho người
cao tuổi.
Chương II: Thực trạng những chính sách ASXH dành cho người cao
tuổi tại Việt Nam.
5
Chương III: Hoàn thiện chính sách ASXH dành cho người cao tuổi tại
Việt Nam
hội kiến thức, kinh nghiệm để tiếp tục duy trì và phát triển mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, tạo ra nền tảng và sự kế thừa phát triển xã hội không
ngừng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ngoài xã hội, có một bộ phận NCT còn đủ sức khoẻ vẫn tiếp tục làm
việc trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và tham gia lao động, sản xuất
6
góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Hiện nay, khi số lượng NCT
ngày càng gia tăng, tình trạng sức khỏe được cải thiện thì NCT cũng có thể
trở thành nguồn nhân lực giàu kinh nghiệm cho phát triển toàn diện các
mặt về văn hóa, kinh tế và xã hội.
1.1.3. Đặc điểm chung về ngƣời cao tuổi
1.1.3.1. Đặc điểm về nhân khẩu học
Thứ nhất, hiện nay số lượng dân số là người cao tuổi đang tăng nhanh
nhất so với tất cả các nhóm dân số khác.
Thứ hai, tỷ lệ giới tính ngày càng nghiêng về nữ giới.
Thứ ba, mức độ già hóa dân số ở các vùng có điều kiện và trình độ phát
triển kinh tế - xã hội khác nhau là rất khác nhau. Thường thì ở khu vực
thành thị, trình độ hiểu biết cao, cuộc sống vật chất tốt hơn, điều kiện chăm
sóc sức khỏe tốt hơn, trong khi đó tại khu vực nông thôn, nhất là những
nước chưa phát triển hoặc đang phát triển, nhận thức và điều kiện sống còn
hạn chế, nên tuổi thọ của người dân ở nông thôn luôn thấp hơn người dân ở
thành thị, bỏ qua sự tác động khách quan của vấn đề di cư.
1.1.3.2. Đặc điểm đời sống gia đình, văn hóa và tinh thần của ngƣời
cao tuổi
Trong cuộc sống văn hóa, gia đình của người Việt Nam nói riêng hay
trên toàn thế giới nói chung đều có những nhiệm vụ, chức năng quan trọng
như truyền tải các giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác; và
hình thành các giá trị văn hoá mới.
100 người.
A
1
=
P60+
*
P0-14
1
00
Một quốc gia có cơ cấu dân số già khi tỷ lệ người trên 6 tuổi chiếm từ
% dân số
8
1.1.4.2. Xu hƣớng già hóa của các nƣớc trên thế giới
Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh nhật tròn 6 tuổi –
trung bình một năm có gần 8 triệu người tròn 6 tuổi. Hiện nay trên thế
giới cứ chín người có một người từ 6 tuổi trở lên và con số này dự tính
đến năm
sẽ tăng lên là cứ năm người sẽ có một người từ 6 tuổi trở
lên. Già hóa dân số đang gia tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển.
Hiện nay, có 7 trong số
-
Trợ cấp gia đình
-
Quỹ tiết kiệm xã hội
-
Các dịch vụ xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng
1.2.2. Ý nghĩa, vai trò của Chính sách an sinh
hội
Ý nghĩa
Bản chất sâu xa của ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống
cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua
9
các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên
trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc. Có thể
thấy rõ bản chất của ASXH từ những khía cạnh sau:
- Những chính sách ASXH biểu hiện rõ sự quan tâm, chăm sóc những
nhu cầu cơ bản của nhà nước đối với nhân dân
- Chính sách ASXH luôn thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp
- Chính sách ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau,
tương thân tương ái của cộng đồng
Đánh giá trƣớc và đánh giá sau đối với chính sách: So sánh trước – sau
này được thiết kế để chỉ ra tác động của chương trình.
1.2.3.2. Tiêu chí đánh giá chính sách an sinh
hội
Luận văn sẽ xem xét, đánh giá chính sách an sinh xã hội dựa trên những
tiêu chí sau:
Đối tƣợng của chính sách: Tiêu chí này để xác định việc ban hành chính
sách đã đúng đối tượng chưa, chính sách ban hành đã bao phủ được hết đối
tượng chưa.
Hệ thống văn bản đ ban hành: Các văn bản quy định là cơ sở cho việc
thực thi. Do đó, việc đánh giá hệ thống văn bản của chính sách góp phần bổ
sung, nâng cao hiệu quả của việc thực thi chính sách.
Hiệu quả chính sách: Phần đánh giá được thực hiện trên những con số
thực tế có thể thu thập được. Đây là kết quả thu được sau khi triển khai, thực
thi chính sách. Nó thể hiện phần nào hiệu quả của chính sách, chính sách đã
đáp ứng được bao nhiêu phần, hoặc những yêu cầu mà xã hội đã đặt ra.
Những khó khăn, bất cập:
ên cạnh việc đánh giá những việc đã làm
được, chúng ta còn phải đánh giá những việc chưa làm được, trong đó lưu ý
đến những khó khăn, bất cập mà khi thực thi chính sách đã phát sinh.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về chính sách dành cho ngƣời cao tuổi
trƣớc vấn đề già hóa dân số
1.3.1. Tại Hàn Quốc
1.3.2. Tại Nhật Bản
1.3.3. Tại Thái Lan
% tổng lượng thuốc
của toàn xã hội và xu hướng tử vong trong các cơ sở y tế tăng lên cũng làm
gia tăng chi phí y tế. Theo thống kê của Cục ảo trợ xã hội ( ộ Lao động Thương binh và Xã hội), hiện cả nước có hơn , triệu NCT đủ điều kiện
được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng đầy đủ và đúng thời gian quy định
(khoảng 6% tổng số NCT).
2.2. Những chính sách ASXH cơ bản dành cho NCT ở Việt Nam
2.2.1. Chính sách ảo trợ
hội Trợ gi p
hội
2.2.1.1. Nội dung chính sách Bảo trợ xã hội (Trợ giúp xã hội)
Chính sách Bảo trợ xã hội đối với NCT được quy định cụ thể như sau:
- Người cao tuổi thuộc đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng BHYT, trợ
cấp xã hội hàng tháng và trợ cấp mai táng khi chết.
- Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và
quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng
12
và được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội thì được hưởng các chế độ sau
đây:
+ Trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng
+ Cấp tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày
+ Được hưởng BHYT
+ Cấp thuốc chưa bệnh thông thường
+ Cấp dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng
+ Mai táng khi chết
13
mức độ bao phủ đối tượng còn thấp, mức hưởng chưa đáp ứng nhu cầu
sống của NCT.
2.2.1.3. Đánh giá về chính sách BTXH trong thời gian qua
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và các Nghị quyết của Quốc
hội, các chính sách trợ giúp xã hội thời gian qua đã đạt được những kết quả
chính như sau:
Thứ nhất, đã xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tạo
cơ sở pháp lý cho thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội.
Thứ hai, về nội dung chính sách ảo trợ xã hội cơ bản đã bao gồm được
những đối tượng là NCT cần sự trợ giúp của xã hội. Tuy nhiên vẫn còn
những đối tượng là chính sách vẫn chưa bao phủ đến như những NCT
thuộc hộ gia đình cận nghèo, những người già neo đơn không thuộc diện
trợ cấp của chính sách.
Thứ ba, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách trợ giúp xã hội thường
xuyên.
Thứ tư, bên cạnh những kết quả mà chính sách
ảo trợ xã hội đã đạt
được trong thời gian qua thì vẫn còn tồn tại một số những bất cập. Đối với
những quy định, văn bản tuy đã tương đối hoàn thiện, nhưng mức độ tiếp
cận và sự hiểu biết của đối tượng đối với các loại văn bản chưa cao, dẫn tới
nhận thức còn hạn chế, đối tượng chưa nhận được đầy đủ quyền lợi mà
chính sách mang lại. Nội dung của chính sách hướng tới những đối tượng
có hoàn cảnh yếu thế là NCT nhưng lại chưa bao quát được hầu hết số đối
tượng này, mới chỉ tập trung vào những đối tượng trên 8 tuổi. Trong quá
trình thực hiện vẫn còn một số vướng mắc, chưa đồng bộ giữa các địa
thì cũng đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng.
2.2.2.2. Thực tiễn triển khai chính sách hƣu trí trƣớc tác động già
hóa dân số
Cùng với xu hướng già hóa dân số của Việt Nam, thời gian trung bình
hưởng chế hộ hưu trí cũng tăng lên quan các năm. Nếu tính theo tuổi thọ
trung bình của Việt Nam thì thời gian trung bình hưởng chế độ hưu trí năm
là
,
năm đến năm
là
,7 năm. Nếu như giai đoạn
-
thời gian trung bình hưởng lương hưu là 6,8 năm, ước tính giai đoạn
2015 -
là 8,8 năm và đến giai đoạn
-
3 là
, năm.
Khác với chính sách bảo trợ xã hội hay chính sách về y tế, đó là
tiêu cực do làm giả hồ sơ hưởng chế độ hưu trí.
Ngoài những cải cách tiến bộ đã đạt được như trên, chế độ hưu trí
cũng còn tồn tại một số vấn đề. Trong quá trình thực hiện chính sách, do
số lượng đối tượng càng một tăng, cơ quan quản lý cao nhất là HXH Việt
Nam cũng đã nghiên cứu, thay đổi nhiều phương thức để chi trả sao cho
hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất. Hiện nay
HXH Việt Nam phối hợp
với bưu điện để có thể chi trả qua hệ thống bưu điện và chi trả qua tài
khoản cá nhân. Tuy nhiên giao thời của mỗi phương thức cũng còn nhiều
bất cập.
Một trong những yêu tố bất cập khác của chế độ hưu trí là nguồn thu
vẫn còn tình trạng trốn đóng, nợ đọng HXH của các doanh nghiệp, chủ
sử dụng lao động. Điều nay gây ra tổn thất cho quỹ
HXH, đồng thời
người lao động bị thiệt hại về quyền lợi sau khi hết tuổi lao động.
2.2.3. Chế độ chăm sóc sức khỏe – Chính sách BHYT
2.2.3.1. Nội dung chính sách y tế
Trong quy định của Luật Người Cao tuổi (2009) đã nói rõ về những
ưu tiên trong khám, chữa bệnh cho người cao tuổi tại Việt Nam như sau:
16
- Người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên khám trước người bệnh khác
trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng;
- Được bố trí giường nằm phù hợp khi điều trị nội trú.
Đối với các bệnh viện, trừ bệnh viện chuyên khoa nhi, có trách nhiệm
7 của Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam,
Thứ trưởng ộ Y tế Phạm Lê Tuấn cho biết, xu thế trên thế giới là chuyển
công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi từ trong bệnh viện sang
17
cộng đồng. ộ Y tế đang triển khai thí điểm mô hình chăm sóc sức khỏe
toàn diện, dài hạn cho người cao tuổi tại huyện Sóc Sơn (Hà Nội) đem lại
hiệu quả tốt.
Người già thường mắc các bệnh đòi hỏi dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn,
khi đó người già đang hưởng lương hưu sẽ được quỹ
chi phí nhưng không vượt quá
HYT chi trả 9 %
tháng lương cơ sở cho một lần sử dụng
dịch vụ kỹ thuật đó.
2.2.3.3. Đánh giá chung về Chính sách y tế
Y tế là ngành đặc biệt. Các chính sách về y tế không mang lại lợi ích về
tài chính nhưng lại đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn. Điều này đòi hỏi
những chính sách đưa ra đều phải đáp ứng những yêu cầu rất cao. Trong
thời gian vừa qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì ngành Y tế đang
phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có sự gia tăng về số lượng,
mức độ, nhu cầu về CSSK cho đối tượng NCT ở Việt Nam.
Việc triển khai CSSK NCT còn gặp nhiều khó khăn do công tác NCT
của một số bộ, ngành, địa phương còn hạn chế về nhận thức, lập kế hoạch,
phối hợp hoạt động, triển khai các chính sách ưu tiên, ưu đãi cho người cao
tuổi. Mức sống của người cao tuổi tại nhiều tỉnh, thành phố còn thấp, một
Việt Nam từ đủ 6 tuổi trở lên thì được coi là người cao tuổi. Tuy nhiên,
điều này cũng đang gây ra sự mâu thuẫn về việc xác định đối tượng cho
nhóm chính sách này. Theo quy định của Luật
ảo hiểm xã hội (
),
đối tượng được xác định đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí là đối tượng
có thời gian tham gia đóng
HXH từ đủ
đối với nam là 6 tuổi, và đối với nữ là
năm, và đến tuổi nghỉ hưu,
tuổi. Như vậy, nữ ngoài độ tuổi
đã được tính là ngoài độ tuổi lao động, nhưng đối chiếu với Luật
Người cao tuổi (
9) thì vẫn chưa đủ điều kiện để được tính là người
cao tuổi. Vì vậy, khi xây dựng những chính sách an sinh xã hội dành cho
NCT ở nước ta cũng cần lưu ý đến bất cập này để tránh xảy ra thiếu sót,
bỏ quên đối tượng.
Mặt khác, đối tượng của nhóm chính sách này hiện nay đang gia
tăng với tốc độ rất nhanh hàng năm, nó đặt ra nhiều thách thức cho xã hội.
Vì vậy việc xây dựng chính sách trở nên vô cùng cấp thiết.
Ngoài sự tác động của môi trường trực tiếp trong đất nước ta, thì
những chính sách ASXH dành cho NCT ở Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh
hưởng từ những chính sách ASXH khác trên thế giới (bao gồm cả những
20
chính sách ASXH nói chung và những chính sách ASXH dành cho NCT
nói riêng trên toàn thế giới).
Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh nhật tròn 6 tuổi –
trung bình một năm có gần 8 triệu người tròn 6 tuổi. Hiện nay trên thế
giới cứ chín người có một người từ 6 tuổi trở lên và con số này dự tính
đến năm
sẽ tăng lên là cứ năm người sẽ có một người từ 6 tuổi trở
lên. Già hóa dân số đang gia tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển,
bao gồm các nước có nhóm dân số trẻ đông đảo. Hiện nay, có 7 trong số
nước có hơn
triệu người già là các nước đang phát triển. Già hóa là một
thành tựu của quá trình phát triển. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra
những thách thức về mặt xã hội, kinh tế và văn hóa.
Với số lượng cũng như tỷ trọng người cao tuổi trong dân số gia tăng
nhanh chóng ở nhiều quốc gia, điều quan trọng là cần nâng cao năng lực
của xã hội nhằm giải quyết các thách thức đặt ra từ chuyển đổi cơ cấu nhân
khẩu học này.
Quá trình chuyển đổi già hóa dân số được gọi là già hóa khi người cao
tuổi chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ dân số. Dự tính con số này
sẽ đạt
Số dân nước ta tại thời điểm Tổng điều tra
năm cuối của thời kỳ dự báo (năm
9 là 8 ,8 triệu người, và vào
9), số dân nước ta là
theo phương án trung bình. Như vậy, trong vòng
năm, từ
8,7 triệu người
9-2049, số dân
nước ta tăng thêm khoảng 6,6%. Sự gia tăng của nhóm dân số 6 tuổi trở
lên tăng từ 11,18% năm
19 lên 24,79% năm
9.
3.2. Hoàn thiện chính sách ASXH đối với Ngƣời cao tuổi
3.2.1. Quan điểm, định hƣớng về hoàn thiện chính sách
Trên quan điểm hướng tới xây dựng hệ thống an sinh xã hội dành
cho NCT đa dạng, toàn diện, từng bước mở rộng diện bao phủ, có tính
chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư
trong một thế hệ và giữa các thế hệ đang là đích đến của việc học tập
các quốc gia trên thế giới.
3.2.2. Yêu cầu hoàn thiện chính sách ASXH
Với tình hình già hóa dân số hiện nay, số lượng NCT gia tăng với tốc