BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN THU MY
CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2017
BỘ NỘI VỤ
……/……
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
…………/…………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN THU MY
CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI TẠI VIỆT NAM
vừa qua diễn ra tại học viện.
Tôi muốn gửi tới Thầy Hà Quang Ngọc lời cảm ơn chân thành nhất,
cảm ơn thầy đã luôn dành thời gian quý báu để định hướng tư duy, cách thức
nghiên cứu cũng như hướng dẫn chi tiết về nội dung của đề tài trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu khó tránh khỏi những sai sót do
trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn cá nhân còn hạn chế, tôi rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô để hoàn thành tốt hơn bài
luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc Quý Thầy, Cô sức khỏe, niềm vui và nhiều
thành công trong sự nghiệp cao quý.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu............................................................................................................. 3
3. Mục đích của luận văn.......................................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ của luận văn......................................................................................................... 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn...................................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu của luận văn........................................................................ 6
7. Ý nghĩa của luận văn............................................................................................................. 6
8. Kết cấu luận văn....................................................................................................................... 7
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI............................................................................................... 8
1.1. Người cao tuổi và vấn đề già hóa dân số................................................................ 8
1.1.1. Khái niệm về người cao tuổi................................................................................ 8
1.1.2. Vị trí, vai trò của NCT............................................................................................. 8
1.1.3. Đặc điểm chung về người cao tuổi.................................................................... 9
3.2.1. Quan điểm, định hướng về hoàn thiện chính sách................................. 73
3.2.2. Yêu cầu hoàn thiện chính sách ASXH.......................................................... 74
3.2.3. Nội dung chính sách cần hoàn thiện.............................................................. 75
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách ASXH đối với NCT
ở Việt Nam:................................................................................................................................... 87
3.3.1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tính tất yếu
của già hóa dân số................................................................................................................ 87
3.3.2. Tăng cường vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp
trong việc xây dựng, vận động và thực hiện chính sách cho già hóa dân
số và người cao tuổi............................................................................................................ 89
3.3.4. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tổng quát về người cao tuổi........94
3.3.5. Xây dựng, nâng cấp các mô hình chăm sóc NCT dựa vào cộng
đồng.............................................................................................................................................. 95
3.3.6. Nâng độ tuổi lao động của nữ bằng độ tuổi lao động của nam......96
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 98
QU Đ NH CH VIẾT TẮT
ảo iểm
ảo iểm
i
BHXH
t
An sin
BHYT
50
tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015
...................................................................................................................................................................
50
Biểu 3: Dự báo tuổi thọ trung bình Việt Nam và thời gian trung bình hưởng
chế độ hưu trí tại Việt Nam
...................................................................................................................................................................
51
Biểu 4: Tỷ lệ người tham gia BHXH và người hưởng lương hưu
...................................................................................................................................................................
51
Biểu 5: Các chi phí BHXH
...................................................................................................................................................................
52
Biểu 6: Dự báo cơ cấu dân số đến năm 2049
...................................................................................................................................................................
69
Biểu 7: Dự báo một số chỉ tiêu chủ yếu
...................................................................................................................................................................
70
Biểu 8: Dự báo tuổi thọ trung bình Việt Nam (2005 – 2030)
...................................................................................................................................................................
dục con cháu về nhân cách mà còn giữ vai trò chủ đạo trong gia đình và xã
hội. Chính vì vậy, việc chăm sóc và đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần và
phát huy vai trò của người cao tuổi là bổn phận, trách nhiệm của các thế hệ
con cháu. Tuy nhiên trong cuộc sống hiện đại ngày nay, những giá trị gia đình
cũng như các mối quan hệ xã hội đã có nhiều chuyển biến khác biệt so với
trước đây dẫn đến những mâu thuẫn giữa các thế hệ ngày càng lớn. Sự mâu
thuẫn này vốn tồn tại như một lẽ tự nhiên. Nó là sự mâu thuẫn giữa tính kinh
nghiệm, truyền thống với tính sáng tạo. Khi xã hội chúng ta đang bước vào
thời đại khoa học công nghệ, thì việc gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp
của truyền thống ngày càng được quan tâm hơn nữa. Xã hội hiện đại giờ đây
cần phát phát triển theo xu hướng: Tích cực gìn giữ, phát huy những giá trị
của truyền thống, đồng thời giải quyết những mâu thuẫn giữa truyền thống và
sáng tạo mới để ngày càng phát triển hơn. Phát huy các giá trị văn hóa gia
đình truyền thống tốt đẹp bên cạnh việc tiếp thu các yếu tố mới, loại bỏ những
1
quan điểm lỗi thời, không còn phù hợp xã hội hiện đại, văn minh, đó là định
hướng trong xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta. Điều này cần có những
nghiên cứu sâu sắc trong sự chuyển động chung của xã hội để từ đó có những
giải pháp cụ thể, thiết thực, mang lại hiệu quả. Trước xu thế chung đặt ra đó
của toàn xã hội, tình hình gia tăng số lượng lớn người cao tuổi, sẽ phát sinh
nhiều nhu cầu mới, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách để đáp ứng
phù hợp hơn nữa.
Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn và yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt
động vì người cao tuổi, ngày 25/4/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 544/QĐ-TTg về việc lấy tháng 10 hàng năm là Tháng hành động vì
người cao tuổi Việt Nam. Đây là dịp nhắc nhở tất cả mọi người, các cấp các
ngành và lãnh đạo địa phương quan tâm chăm sóc người cao tuổi tốt hơn,
vậy tôi đã lựa chọn vấn đề “Chính sách an sinh xã hội dành cho người cao
tuổi tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ với hy vọng có thể
góp một phần giải pháp để tháo gỡ vấn đề trên.
2. T nn ng iên cứu
Vấn đề về chính sách dành cho người cao tuổi tại Việt Nam không phải
là vấn đề mới mẻ, nhưng những công trình để nghiên cứu, đánh giá chính sách
dành cho nhóm đối tượng này lại không nhiều. Thực tế hiện nay, trước tình
hình hình biến động, gia tăng số lượng của nhóm đối tượng NCT ở Việt Nam
do tác động của già hóa dân số đã đặt ra nhiều vấn đề mới khác liên quan.
Cho đến nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài như lĩnh vực chính sách dành cho người cao tuổi tại Việt Nam hay vấn
đề già hóa dân số có thể kể đến như sau:
- Nghiên cứu già hóa dân số của các quốc gia khác trên thế giới của TS.
Mạc Tiến Anh. Đây là một trong những đề tài đầu tiên tìm hiểu, đánh giá về
hiện tượng già hóa của một số nước trên Thế giới. Đề tài đưa ra những phân
3
tích về điều kiện thực tiễn của từng nước, những tác động, ảnh hướng của già
hóa dân số và cách giải quyết, ứng phó của Chính phủ các nước. Kết quả
nghiên cứu được đăng tải liên tục trên 3 số của Tạp chí ảo hiểm xã hội số
1/2005, số 2/2005 và số 4/2005.
- Cuốn sách “Những xu hướng biến đổi dân số ở Việt Nam”, Nhà xuất
bản Nông nghiệp, Hà Nội 2007) của PGS.TS. Nguyễn Đình Cử. Đây là
nghiên cứu chứa đựng những dự báo đầu tiên về xu hướng, tình hình biến đổi
cơ cấu của dân số Việt Nam trong dài hạn, là cơ sở hình thành, xây dựng
chính sách theo đòi hỏi của xã hội.
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Thực trạng đời sống người nghỉ hưu,
những giải pháp về cung cấp các dịch vụ xã hội nhằm cải thiện đời sống vật
chính sách ASXH.
- Phân tích nội dung các chính sách hiện hành về ASXH cho NCT ở
Việt Nam, thông qua những đánh giá về việc thực hiện chính sách hiện nay.
- Trên cơ sở nghiễn cứu lý luận, phân tích nội dung thực trạngthi hành
chính sách đề xuất định hướng xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
thực hiện chính sách ASXH dành cho người NCT ở Việt Nam trong tương lai.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Những nội dung và quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội dành
cho người cao tuổi tại Việt Nam.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về n i dung:
Trong khả năng có hạn, Luận văn về đề tài chính sách ASXH dành cho
NCT có nội dung chỉ nghiên cứu những chính sách an sinh xã hội cơ bản dành
cho NCT như chính sách về trợ cấp hưu trí, chính sách bảo trợ xã hội và chính
sách chăm sóc sức khỏe dành cho người cao tuổi tại Việt Nam.
5
Về thời gian:
Bắt đầu từ năm 2009 đến nay (Thời điểm Việt Nam thông qua Luật Người
Cao tuổi).
6. P ư ng p áp ng iên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu lý thuyết kết hợp với tổng kết kinh nghiệm
thực tiễn, đề tài sử dụng phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
- Phương pháp sử dụng tài liệu thứ cấp: Từ nguồn dữ liệu về điều tra dân
số của Tổng cục thống kê, các báo cáo về nhân khẩu học, các báo cáo số
người tham gia, người hưởng HXH, HYT, số liệu thu, chi quỹ của HXH Việt
Nam.
7
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1. Người cao tuổi và vấn đề già hóa dân số
1.1.1. Khái niệm về người cao tuổi
Việc xác định người cao tuổi trên thế giời không giống nhau. Ở đa số
các nước trên thế giới thì người cao tuổi là những người bắt đầu từ 60 tuổi.
Tuy nhiên, cũng có một số nước châu Âu phát triển như CHL Đức, Thụy
Điển, Tây an Nha, … với độ tuổi nghỉ hưu là 65 thì người cao tuổi ở những
nước này là những người có độ tuổi từ 65 trở lên; ở Singgapore là 62 tuổi, ...
Theo Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm
2009 quy định, người cao tuổi tại Việt Nam là công dân Việt Nam từ đủ 60
tuổi trở lên.
Như vậy, Người cao tuổi hay người cao niên hay người già là những
người lớn tuổi, thường có độ tuổi khoảng từ 60 trở lên, tùy vào mỗi quốc gia.
1.1.2. Vị trí, vai trò của NCT
Trong gia đình, NCT với kinh nghiệm sống đã góp phần quan trọng
trong việc giáo dục, khuyên dạy và truyền bá cho con, cháu, dòng họ và xã
hội kiến thức, kinh nghiệm để tiếp tục duy trì và phát triển mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, tạo ra nền tảng và sự kế thừa phát triển xã hội không ngừng
từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ngoài xã hội, có một bộ phận NCT còn đủ sức khoẻ vẫn tiếp tục làm
việc trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và tham gia lao động, sản xuất góp
phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Hiện nay, khi số lượng NCT ngày
càng gia tăng, tình trạng sức khỏe được cải thiện thì NCT cũng có thể trở
như truyền tải các giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác; và
hình thành các giá trị văn hoá mới.
9
Trong đời sống gia đình có thể dễ dàng nhận thấy người cao tuổi có vai
trò rất lớn trong việc hình thành những giá trị văn hoá gia đình. Đây là nhóm
người người chọn lọc, phát triển và cuối cùng là người truyền lại những giá trị
văn hoá tốt đẹp ấy cho các thế hệ sau.
Tuy nhiên, trong gia đình thời hiện đại, vai trò, vị trí của người cao tuổi
hiện đang có dấu hiệu giảm sút; nhiều NCT đang ngày càng cảm thấy cô đơn
trong chính ngôi nhà của mình. So với trước kia thì tiếng nói của NCT hiện
nay có vẻ như ít được lắng nghe và thực hiện. Có nhiều nguyên nhân khác
nhau dẫn đến hiện trạng này, về cơ bản có thể là do sự khác biệt về tâm lý lứa
tuổi và nhận thức thế hệ, khiến mối quan hệ giao tiếp giữa con cháu và ông bà
gặp không ít trở ngại. ên cạnh đó cũng là sự xung đột về văn hóa, nhận thức
giữa các thế hệ. NCT như bên trên phân tích có vai trò lớn trong việc truyền
lại những giá trị truyền thống cho các thế hệ mai sau, tuy nhiên đây cũng là
lớp người bảo thủ, khó có thể tiếp cận những thay đổi mới một cách nhanh
chóng, trong khi đó lớp người trẻ lại có xu hướng cập nhật nhanh chóng
những thay đổi, tiến bộ xã nhanh mà dễ dàng bỏ qua những giá trị truyền
thống đã có từ trước đó. Khi tiếp xúc với lớp người trẻ hơn NCT dễ xảy ra
những mặc cảm, sống khép kín, và không muốn giao tiếp. Đây cũng là một
trong những xu hướng nảy sinh thực tế. Khi NCT cảm thấy mối xung đột về
văn hóa với những người trẻ hơn, họ sẽ tìm đến nhau, xây dựng cộng đồng có
tiếng nói chung, phù hợp về trình độ, văn hóa cũng như về tâm lý.
1.1.3.3 .Đặc điểm về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi
Nhóm người cao tuổi là nhóm chịu tác động tiêu cực của vấn đề tuổi tác
biết về những loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe mới nhưng vẫn có sự hạn
chế về việc tiếp cận hơn so với nhóm NCT ở khu vực thành thị.
11
1.1.3.4. Đặc điểm về hoạt động kinh tế, thu nhập của người cao tuổi
Theo thời gian, tỷ lệ người cao tuổi tham gia lao động nhìn chung có xu
hướng giảm, khi tuổi càng tăng thì tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế càng giảm.
Thu nhập của người cao tuổi có thể bắt nguồn từ 3 nguồn cơ bản sau
đây:
- Từ lao động sản xuất hàng ngày
- Do tích lũy từ lúc còn trẻ tài sản, tiền tiết kiệm, hưu trí, ..
- Từ nguồn trợ cấp khác con cái, người thân, Nhà nước, ..
Nhu cầu được làm việc, tiếp tục cống hiến cho gia đình và xã hội phù
hợp với sức khỏe và điều kiện cũng là một yêu cầu của các vị cao niên. Một
số Nhà nước đã và đang nghiên cứu để sử dụng chất xám, khả năng của
những vị cao niên, nhất là những vị vừa mới rời khỏi dây chuyền sản xuất và
công tác, vẫn còn trí tuệ, kinh nghiệm và sức khỏe nhằm phát huy một cách
phù hợp sự cống hiến của họ. Được làm việc, được cống hiến tạo ra niềm vui
cho cuộc sống, do đó có tác dụng làm cho trí não và thân thể khỏe mạnh. Đây
còn là một quyền của người cao tuổi mà nhiều quốc gia đang quan tâm.
1.1.4. Vấn đề già hóa dân số
1.1.4.1. Khái niệm già hóa dân số
Già hóa dân số là hiện tượng tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số có xu
hướng liên tục tăng sau các năm. Một trong những chỉ số quan trọng biểu thị
xu hướng của già hóa dân số là chỉ số già hóa dân số, đó là tỉ số giữa dân số
từ 60 tuổi trở lên so với dân số dưới 15 tuổi, so với dân số chuẩn 100 người.
A1
Tỷ lệ (%)
1950
205
8,2
95
11,7
110
6,4
Dự báo 2020
606
10,0
232
19,4
374
7,73
Với số lượng cũng như tỷ trọng người cao tuổi trong dân số gia tăng
nhanh chóng ở nhiều quốc gia, điều quan trọng là cần nâng cao năng lực của
13
xã hội nhằm giải quyết các thách thức đặt ra từ chuyển đổi cơ cấu nhân khẩu
học này.
Quá trình chuyển đổi già hóa dân số được gọi là già hóa khi người cao
tuổi chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ dân số. Tỷ suất sinh giảm và
tuổi thọ tăng là hai yếu tố dẫn đến già hóa dân số. Tuổi thọ trung bình đã gia
tăng đáng kể trên toàn thế giới. Giai đoạn năm 2010- 2015, tuổi thọ trung bình
của các nước phát triển là 78, và của các nước đang phát triển là 68 tuổi. Đến
những năm 2045 – 2050, dự kiến tuổi thọ trung bình sẽ tăng lên đến 83 tuổi ở
các nước phát triển và 74 tuổi ở các nước đang phát triển. Năm 1950, toàn thế
giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Đến năm 2012, số người cao tuổi
tăng lên đến gần 810 triệu người. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong
vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người. Việc ra
tăng số lượng NCT lớn như vậy đặt ra rất nhiều yêu cầu cấp bách trong việc
xây dựng, hoàn thiện những chính sách dành cho đối tượng NCT nhằm thích
ứng với xu thế chung thế thế giới.
Trong tương lai, công nghệ ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống
tăng lên, tuổi thọ con người cũng tăng cao thì già hóa dân số trở thành một
thành tựu. Khi dân số người cao tuổi chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số cũng
đồng nghĩa với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm đi và số
người ngoài độ tuổi lao động sẽ tăng lên và sống lâu hơn. Như vậy, số người
làm ra của cải vật chất cho xã hội sẽ có xu hướng giảm đi và số người thụ
hưởng sẽ có xu hướng gia tăng. Các quốc gia trên thế giới sẽ có xu hướng tập
trung vào những chính sách dành cho người tuồi.
Thứ nhất, khi tuổi thọ tăng cao cùng với chất lượng cuộc sống ngày càng
Từ những quan niệm như vậy, có thể định nghĩa chính sách như sau:
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của một chủ thể có thể là cơ quan Nhà nước, là doanh nghiệp,.. nó bao gồm
các mục ti u mà chủ thể đó muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục
ti u đó.
Chính sách công:
Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ
máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng
1
5
được gọi là chính sách công. Chính sách công là một công cụ quản lý quan
trọng của Nhà nước. Thông qua việc ban hành và thực thi chính sách, mục
tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa. Cho đến nay có nhiều quan điểm về
khái niệm này:
William Jenkin cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp các quyết
định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị
gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục
tiêu đó”. Theo quan điểm của Wiliam N. Dunn thì: “Chính sách công là một
kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết
định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước
đề ra”. Còn Peter Aucoin lại khảng định: “Chính sách công bao gồm các hoạt
động thực tế do Chính phủ tiến hành”, . Guy Peter đưa ra định nghĩa: “Chính
sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay
gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”,…
Những đặc trưng trong mỗi luận cứ của mối tác giải phản ánh chính
sách công từ các góc độ khác nhau, song đều hàm chứa những nội dung thể
hiện bản chất của chính sách công, và cho ta thấy những đặc điểm chung của