A.
PHẦN DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tỉ lệ sinh đẻ giảm, điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt,
tuổi thọ trung bình kéo dài, cùng với những nguyên nhân chính trị - xã hội khác khiến
cho tỉ lệ người cao tuổi ngày càng gia tăng. Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng “kỉ nguyên
của người cao tuổi” sẽ nổi lên trong thế kỉ 21. Những dự báo trên đã thành hiện thực
khi nhóm người cao tuổi nhất thế giới tại thời điểm năm 2005 chiếm 18% tổng dân số
toàn thế giới, 24% tại các quốc gia phát triển và 15% tại các quốc gia kém phát triển.
Dự kiến đến năm 2025 sẽ đạt tới 1,2 tỷ người cao tuổi chiếm khoảng 20% dân số thế
giới.
Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số với tốc độ ngày càng
nhanh. Theo kết quả sơ bộ Tốc độ tăng dân số 2009, tỷ lệ người cao tuổi hơn 9%. Tuổi
thọ bình quân chung là 72,8 tuổi. Tuổi thọ bình quân của Việt Nam đang tăng nhanh
so sánh giữa hai cuộc Tốc độ tăng dân số 1999 và 2009, tuổi thọ bình quân của nam
tăng 3,7 tuổi từ 66,5 tuổi lên 70,2 tuổi. Nữ tăng 5,5 tuổi từ 70,1 tuổi lên 75,6 tuổi. Số
cụ hơn 100 tuổi tăng gấp 2 lần so với Tốc độ tăng dân số 1999 (khoảng 7.200 cụ).
Theo dự báo nước ta bước vào giai đoạn già hóa dân số vào năm 2015 nhưng thực tế
hiện nay là ngay từ những năm 2010. Theo phân tich và nhận định của các nhà nhân
khẩu học kinh tế trong nước và ngoài nước, cơ cấu dân số Việt Nam đã bước vào giai
đoạn “Cơ cấu dân số vàng” hay “cửa sổ cơ hội dân số” hoặc “dư lợi dân số”. Thông
thường cơ cấu dân số của một quốc gia sẽ chuyển đổi từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu
dân số “Dư lợi nhân khẩu học” rồi tiếp đến cơ cấu dân số già. Dân số Việt Nam có sự
chuyển đổi đặc biệt tức là vừa bước vào giai đoạn nhiều người trong tuổi lao động
nhưng đồng thời cũng già hóa. Chỉ tiêu về chất lượng dân số tuy đạt mục tiêu Chiến
lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 đề ra, nhưng mức xuất phát điểm còn
thấp về cả thể chất, trí tuệ và tinh thần. Mặc dù tuổi thọ bình quân đạt 72,8 tuổi vào
năm 2009, song tuổi thọ khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi và đứng thứ 116/182 nước trên thế
giới. Người cao tuổi là mối quan tâm không chỉ của cá nhân, gia đình mà cả xã hội vì
3. Nhiệm vụ của đề tài
Tìm hiểu các đặc trưng về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi (sức khỏe – y tế,
tinh thần, vật chất) ở Thành phố Quy Nhơn.
Tìm hiểu những yếu tố xã hội – văn hóa của người cao tuổi như về giới tính, độ
tuổi, nghề nghiệp trước đây, thu nhập, …
2
Làm rõ việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi thông qua sự giúp đỡ về: chăm
sóc sức khỏe, trò chuyện thăm hỏi, sinh hoạt hàng ngày, tiền/vật dụng lớn, thực
phẩm/vật dụng nhỏ, việc làm/ sản xuất kinh doanh.
Đưa ra các giải pháp và định hướng đối với việc hỗ trợ xã hội cho người cao
tuổi.
Cuối cùng, trên cơ sở phân tích và nhận định về vấn đề, luận văn đưa ra kết
luận và một số kiến nghị đối với việc hỗ trợ xã hội cho người cao tuổi, nhằm nâng cao
sự trợ giúp của cộng đồng và xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe, tinh thần cũng
như vật chất cho người cao tuổi.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là việc hỗ trợ xã hội đối với người cao
tuổi,. Khách thể nghiên cứu là quá trình sống của người cao tuổi (có độ tuổi từ 60 trở
lên). Phạm vi nghiên cứu là khảo sát tại Phường Nguyễn Văn Cừ, Thành phố Quy
Nhơn, Tỉnh Bình Định.
5. Các giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận và những lí thuyết tiếp cận đã trình bày ở trên, tác giả đưa ra
các giả thuyết mà luận văn phải kiểm chứng:
- Giả thuyết thứ nhất: Người cao tuổi tại Thành phố Quy Nhơn đã thiết lập cho
mình một mạng lưới xã hội ở mức độ rộng hẹp nhất định, giúp họ giải quyết những
khó khăn cả về vật chất và tinh thần trong cuộc sống.
- Giả thuyết thứ hai: Sự hỗ trợ xã hội của người cao tuổi có sự khác nhau tùy
cũng được quan tâm một cách toàn diện. Chăm lo cho cuộc sống người cao tuổi là một
trong những nhiệm vụ quan trọng không chỉ của cá nhân, gia đình mà toàn xã hội. Vì
vậy, kết quả nghiên cứu sẽ là một gợi ý để nhận thức rõ hơn về người cao tuổi hiện
nay trên mọi mặt đời sống: tinh thần, vật chất, sức khỏe – y tế.Thấy được tầm quan
trọng của việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi, để từ đó phát huy hơn nữa việc trợ
giúp vật chất và tinh thần cho họ.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận trong nghiên cứu luận văn này là phương pháp duy vật biện
chứng.
Phương pháp điều tra xã hội học cụ thể.
Một số phương pháp chung: diễn dịch, quan sát, lắng nghe, phân tich, tổng
hợp.
7.2 Phương pháp cụ thể và kĩ thuật điều tra
7.2.1 Thu thập thông tin
4
7.2.1.1 Thu thập thông tin tư liệu
Thu thập những luận văn, khóa luận, sách, bài báo, bài viết trích trên các tạp
chí, phương tiện truyền thông, … về vấn đề hỗ trợ xã hội và người cao tuổi.
7.2.1.2 Thu thập thông tin định lượng
Phỏng vấn dựa trên phiếu thu thập ý kiến. Phiếu điều tra gồm tất cả 26 câu hỏi.
Bảng hỏi được chia làm ba phần: Phần một với 5 câu hỏi về đặc điểm nhân
khẩu – xã hội của đối tượng dùng để mô tả đặc điểm mẫu điều tra, đồng thời cũng là
những phân tổ chính khi xử lý thông tin định lượng. Phần hai gồm 19 câu hỏi mô tả về
đặc trưng hỗ trợ xã hội của người cao tuổi về mọi mặt: vật chất, tinh thần, sức khỏe – y
tế. Phần ba gồm 2 câu hỏi khảo sát thêm về hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi.
7.2.1.3 Thu thập thông tin định tính
quan trong các câu hỏi, để từ đó có một kết luận chính xác nhất.
7.2.3.3 Thông tin định tính
Các thông tin thu được tôi phân loại, chọn lọc dưới dạng trích dẫn từ các biên
bản gỡ băng hay báo cáo quan sát kết hợp với những thông tin định lượng số liệu
thồng kê để dẫn giải và phân tich vấn đề.
6
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ HỖ TRỢ XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.Khái quát tình hình nghiên cứu vấn đề
1.1 Người cao tuổi trên thế giới
Theo thống kê, thế giới hiện có 497 triệu, chiếm gần 2/3 NCT sống ở các nước
nghèo và khoảng hơn 180 triệu người sống trong cảnh nghèo khó. Theo dự báo, đến
năm 2045, số người trên 60 tuổi trên thế giới sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi. Ở
các nước trung bình và kém phát triển, hơn 50% người trên 60 tuổi vẫn làm việc, chủ
yếu ở các thành phần phi chính thức. Thế giới cũng đang chứng kiến ¾ người cao tuổi
sống trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu; 2/3 số NCT bị
bệnh kinh niên sống ở các nước tủng binh và kém phát triển.
Ở nhiều nước Châu Phi, NCT là người chăm sóc chủ yếu đối với 40% người bị
HIV/AIDS hoặc trẻ em bị mồ côi do AIDS. Trong những thế kỷ qua, sự gia tăng người
cao tuổi trong tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quan tâm. Trong thế kỷ này, nó
đặt ra những thách thức lớn nhưng cũng không ít cơ hội. Hàng triệu người cao tuổi ở
các nước phát triển trung bình và thu nhập thấp đang đối mặt với những vấn đề về
nghèo đói và bệnh tật.
Tuy vậy, các chính sách phát triển quốc tế và các hoạt động thường không bao
gồm người cao tuổi. Chương trình phát triển Thiên niên kỷ không trực tiếp liên quan
đến tuổi già. Trong khi cam kết giảm tỷ lệ người cực nghèo xuống 50% vào năm 2015,
kỳ thị và bạo lực đối với người cao tuổi, Tổ chức Người cao tuổi quốc tế sẽ đáp ứng
với những nhu cầu và khả năng của người cao tuổi cũng như nâng cao nhận thức của
các cơ quan, tổ chức cũng như của toàn xã hội về những vấn đề sau:
1. Nâng cao năng lực người cao tuổi trong đảm bảo an sinh thu nhập.
2. Nâng cao khả năng người cao tuổi và những người trợ giúp họ trong chăm
sóc sức khoẻ, các dịch vụ hỗ trợ.
3. Nâng cao khả năng để người cao tuổi tham gia tích cực vào giải quyết các
trường hợp khẩn cấp và hồi phục.
4. Tạo ra các phong trào mang tính quốc tế và quốc gia trợ giúp NCT vượt qua
sự kỳ thị và bảo đảm các quyền của họ.
5. Hỗ trợ mạng lưới toàn cầu của các tổ chức để các tổ chức của NCT và làm
việc cho NCT có hiệu quả.
Để làm được điều này, trong thời gian tới, Tổ chức NCT quốc tế dự kiến sẽ
tăng 2/3 các dịch vụ trực tiếp hỗ trợ NCT và gia đình họ. Đồng thời tăng cường các
8
hoạt động thúc đẩy cải thiện cách nhìn nhận về chế độ lương hưu, dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ, tăng thêm sự đáp ứng phù hợp trong những trường hợp khẩn cấp để đem lại
lợi ích cho nhiều triệu người cao tuổi và tăng cường mở rộng chính sách, công tác vận
động cùng với các hoạt động hỗ trợ trong các trường hợp khẩn cấp. HAI cũng đã đặt ra
15 chỉ tiêu cụ thể trong những năm tới là:
- Trợ giúp để 20% NCT ở 30 nước có thu nhập trung bình và thấp được nhận
trợ cấp của Chính phủ.
- Các hộ gia đình có NCT ở 25 nước cải thiện được thu nhập và an ninh lương
thực.
- Người cao tuổi ở 15 nước có khả năng có khả năng phòng ngừa và quản lý
bệnh mãn tính.
- Người cao tuổi ở 20 nước có khả năng đảm bảo tiếp cận miễn phí các dịch vụ
tuổi trong nghiên cứu xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970, các nhà y khoa
là những người đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu y học về người cao tuổi. Năm
1970, thành lập chương trình Nghiên cứu Y học Tuổi già và mười năm sau trở thành
đơn vị nghiên cứu Y học Tuổi già của Bộ Y tế.
Năm 1977, chương trình nghiên cứu y học người cao tuổi do Phạm Khuê chỉ
đạo thực hiện cuộc khảo sát lớn đầu tiên về sức khỏe người cao tuổi trên một mẫu gồm
13.399 người từ 60 tuổi trở lên ở phía Bắc. Cuộc khảo sát tập trung cung cấp một bức
tranh dịch tễ học về bệnh tật và sức khỏe của người cao tuổi miền Bắc. Tháng 9 năm
1984, Bệnh viện Việt Xô đã tiếp tục tìm hiểu sức khỏe và đời sống của người cao tuổi
thông qua khảo sát các cụ nghỉ hưu Hà Nội. Vào thời điểm giữa hai thập niên 1980 và
1990, các bác sĩ lão khoa tiến hành một cuộc khảo cứu với bảng hỏi có tham khảo
chương trình nghiên cứu do Tổ chức Y tế Thế giới tiến hành ở vùng Tây Thái Bình
Dương, đánh dấu bước tiến về nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam trong lỗ lực hội
nhập thế giới. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết người cao tuổi có hoàn cảnh
kinh tế khó khăn, phải làm thêm nhiều việc để tăng thu nhập.
Năm 1989, những nghiên cứu dân số và lao động về tuổi già bắt đầu với một
báo cáo quan trọng về người cao tuổi theo yêu cầu của ESCAP được hoàn thành. Đây
là báo cáo dân số học đầu tiên về tuổi già Việt Nam được giới thiệu ra quốc tế. Tiếp
sau đó là những khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về người cao tuổi,
những khảo sát là công cụ quan trọng của quá trình làm chính sách. Có thể kể đến
nghiên cứu của Trịnh Văn Lễ về người nghỉ hưu, tác giả chỉ ra chế độ bảo hiểm xã hội
đối với người nghỉ hưu hình thành rất sớm từ 1950. Đến đầu năm 1991, Viện bảo vệ
sức khỏe người cao tuổi có chủ trì một hội thảo lớn về lão khoa xã hội. Các công trình
10
giới thiệu và được xuất bản. Đây là mốc quan trọng cho nghiên cứu xã hội học người
cao tuổi.
Năm 1983, trong khuôn khổ một chương trình nghiên cứu quốc gia về nhà ở,
như Nguyễn Phương Lan “Tìm hiểu đời sống văn hóa người cao tuổi” dưới góc độ
văn hóa học, Nguyễn Trung Nghĩa với khóa luận Xã hội học “ Tìm hiểu đời sống văn
hóa tinh thần của cán bộ công nhân viên hưu trí” tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết
quả các nghiên cứu cho thấy, tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần là nhu cầu cấp
thiết đối với người cao tuổi.
Như vậy, qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu về người cao tuổi từ trước tới
nay, xét về phạm vi nghiên cứu cho thấy, phần nhiều những cuộc nghiên cứu người
cao tuổi tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Hồng và một số tỉnh lân cận khác. Cuộc
khảo sát đầu tiên được thực hiện ở phía Nam do Trương Sỹ Ánh và cộng sự tiến hành
vào năm 1997 với cỡ mầu 840 người từ 60 tuổi trở lên tại 28 điểm nghiên cứu ở Thành
phố Hồ Chí Minh và 6 tỉnh xung quanh. Trong khi đó người cao tuổi miền Trung lại ít
được chú ý, có chăng là nghiên cứu về “ Người cao tuổi ở miền Trung và Nam Bộ Việt
Nam năm 2000 – phác thảo về một số kết quả nghiên cứu định tính” của Bế Quỳnh
Nga đề cập đến vấn đề lao động và sắp xếp gia đình người cao tuổi. Luận văn nghiên
cứu về vấn đề hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi ở Thành phố Quy Nhơn sẽ bổ xung
thêm vào nghiên cứu người cao tuổi tai khu vực miền Trung.
2. Các khái niệm liên quan tới đề tài
2.1 Hỗ trợ xã hội
Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống
thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi
ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia
đình.
Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc
bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát
huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc
sống của cộng đồng.
Trợ giúp xã hội có đặc điểm:
- Thuế được dùng để tài trợ cho các chương trình xã hội đa dạng để chi trả trợ
Người cao tuổi hay người già là một thuật ngữ dùng để chỉ những người nhìn
chung đã có nhiều tuổi. Lâu nay ta vẫn quen dùng khái niệm “người già”. Theo từ điển
tiếng Việt, già tức là “ở vào tuổi có những hiện tượng sinh lý suy yếu dần trong gia
đoạn cuối của quá trình sống tự nhiên”. Như vậy, về mặt thuật ngữ “người già” hoặc
“người cao tuổi” cũng chỉ là hai cách gọi khác nhau mang cùng một nội dung chỉ
“người đã nhiều tuổi so với tuổi đời trung bình”. Theo quy đinh hành chính quốc tế,
13
người từ 60 tuổi trở lên gọi là người cao tuổi. Luận văn sử dụng thuật ngữ “người cao
tuổi”.
3. Cơ sở lí luận của vấn đề hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
Người phương Đông từ lâu đã rất quen thuộc với hình ảnh về cái lưới trời lồng
lộng bao bọc lấy con người, quy định danh phận của con người. Trong khoa học xã
hội, C.Mác đã đưa ra quan niêm gốc về mối quan hệ giữa con người và xã hội nói
chung và quan hệ sản xuất nói riêng. Mác viết “Tổng hợp lại những quan hệ sản xuất
hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội”. Theo Mác, bản
chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt mà
“Trong tính hiện thực cố hữu, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã
hội”. Con người sống thành xã hội, tồn tại và phát triển như một thực thể xã hội, vì thế
liên hệ xã hội là một nền tảng của cuộc sống. Mọi cá nhân đều có liên hệ với người
khác (bố mẹ, anh em, họ hàng, xóm giềng, bạn bè, thể chế xã hội, …) bằng cách nào
đó, nằm trong một cấu trúc xã hội phức tạp bao quanh mình. Liên hệ xã hội phát triển
và thay đổi của cá nhân và bối cảnh sống.
Như vậy, mỗi cá nhân để tồn tại và phát triển, phải tham gia vào các mối quan
hệ xã hội, thực hiện những tương tác và những sự trợ giúp của các cá nhân khác trong
xã hội, qua đó, vai trò và vị trí của cá nhân sẽ được thể hiện.
Tuổi già trong xã hội được xem xét ở ba cấp độ với những đặc điểm chung
được chia sẻ: Ở cấp độ cá nhân, tuổi già được đánh dấu bởi sự suy giảm sự sắc bén của
riêng nên dựa trên quan điểm duy vật biện chứng sẽ cho ta cái nhin toàn diện về vấn
đề.
4. Cách tiếp cận luận văn
Việt Nam là một nước đang phát triển, số người cao tuổi đang có xu hướng
tăng nhanh. Theo dự báo, Việt Nam sẽ chính thức trở thành một quốc gia có dân số già
vào năm 2014 (tỉ lệ người trên 60 tuổi lớn hơn 10% dân số). Như vậy, chỉ trong vòng 3
năm nữa nước ta sẽ phải đối mặt với các khó khăn do việc “già hóa dân số” mang lại.
Hiện nay, hệ thống cơ sở hạ tầng và mặt bằng kinh tế chưa cao. Nếu ta không chuẩn bị
tốt ngay từ bây giờ thì trong những năm tới đây áp lực của việc “già hóa dân số” sẽ
ngày càng đè nặng lên xã hội. Hậu quả là việc chăm sóc mang tính toàn diện đối với
người cao tuổi ở nước ta khó có thể thực hiện tốt được.
Chính vì vậy, trong luận văn này, đối tượng tác giả chọn để nghiên cứu như tên
đề tài đã dẫn, đó là hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi. Vấn đề chăm sóc sức khỏe – y
tế, tinh thần, vật chất cho người cao tuổi là vấn đề rất được quan tâm không chỉ ở mức
độ gia đình mà còn ngoài xã hội. Tác giả sử dụng một số cách tiếp cân như hỗ trợ xã
hội (bao gồm hỗ trợ về sức khỏe – y tế, tinh thần, vật chất), lí thuyết tương tác xã hội,
15
cách tiếp cận “chiến lược sống” hay “sinh kế bền vững”, các lí thuyết nghiên cứu
người cao tuổi như lí thuyết gỡ bỏ, lí thuyết hoạt động. Đồng thời, trên cơ sở thực tiễn
tình hình người cao tuổi tại Thành phố Quy Nhơn, thu thập các thông tin cần thiết của
địa phương liên quan tới người cao tuổi, sử dụng các thông tin thực nghiệm thực hiện
bằng bảng hỏi, một số thông tin từ phỏng vấn sâu các đối tượng để giải quyết nhiệm
vụ để tài đặt ra.
Tuy nhiên, góc tiếp cận của đề tài không chỉ dừng lại ở việc xem xét các thực
trạng hỗ trợ xã hội mà còn tập trung vào vai trò của nó đối với người cao tuổi. Trên cơ
sở đó có thể đưa ra một số những giải pháp hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi của
nhóm xã hội này. Hơn thế nữa, đề tài tìm hiểu việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi
cao tuổi là một nhóm xã hội đặc thù tiêu biểu cho một lối sống đặc thù. Là sự tổng hòa
các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, do đó phương thức sống của họ vừa
phản ánh dấu ấn xã hội vừa mang nét đặc thù của nhóm xã hội riêng biệt. Ngoài ra,
tương tác xã hội còn là cơ sở để tìm hiểu nội dung và bản chất các hoạt động đang diễn
ra của người cao tuổi.
Lí thuyết tương tác còn cho rằng, người cao tuổi nếu vẫn tiếp tục tich cực tham
gia vào xã hội thì sẽ được điều chỉnh tốt nhất. Người cao tuổi nên giữ vai trò tich cực
trong xã hội bằng cách thay những hoạt động đã mất bằng những hoạt động mới. Thực
chất người cao tuổi cũng có nhu cầu tương tác xã hội không kém các nhóm khác trong
xã hội. Nói cách khác, quá trình tương tác xã hội của người cao tuổi ít hay nhiều đều
thể hiện tính tich cực chính trị, xã hội. Vì vậy, phát huy được sự chủ động tich cực,
sáng tạo của người cao tuổi trong công cuộc xây dựng gia đình, cộng đồng là những
đóng góp quý báu từ nhóm xã hội này.
5.2 Cách tiếp cận “chiến lược sống” hay “sinh kế bền vững”
“Chiến lược sống” (livelihood strategy) hay “sinh kế bền vững” (sustainable
livelihood) là các khái niệm mới còn chưa có sự thống nhất. Các khái niệm này được
sử dụng đầu tiên như một khái niệm phát triển vào những năm 1990. Chambers và
Conway (1991) đã có những ý tưởng đầu tiên về khái niệm này như sau: “Sinh kế”
được cấu thành bởi con người và khả năng của họ; những ý nghĩa trong cuộc sống bao
gồm thức ăn, thu nhập và tài sản có giá trị (tài sản có giá trị hữu hình như các nguồn
tài nguyên … và tài sản có giá trị vô hình như phương tiện để tiếp cận nguồn tài
nguyên đó). Một “sinh kế” được xem là bền vững về mặt xã hội khi nó có thể ngăn
chặn cũng như phục hội việc suy sụp và những cú sốc trong cuộc sống của mỗi cá
nhân và mở ra những triển vọng mới cho tương lai của họ và các thế hệ sau.
Nhìn chung, “livelihood” hay “sinh kế” nhấn mạnh tới những đặc điểm sau đây
của cuộc sống con người: (1) mối tương tác giữa phương kế sinh nhai của con người
17
thứ tự nhiều vai trò và địa vị khác nhau từ người lớn tuổi sang những người trẻ hơn.
18
Như thế, các mẫu địa vị và vai trò vẫn còn ổn định mặc dù con người đảm nhận nhiều
địa vị và vai trò phải được chuyển giao cho lớp trẻ trong khi người lớn vẫn còn hoạt
động chức năng hiệu quả.
5.3.2 Lí thuyết hoạt động
Lí thuyết hoạt động (lí thuyết thay thế) liên quan đến mức độ hoạt động xã hội
cao đối với sự thỏa mãn cá nhân ở tuổi già. Lí thuyết phần lớn được phát triển nhằm
đáp lại lí thuyết gỡ bỏ. Lí thuyết hoạt động gợi đến mô hình tương tác xã hội. Tiếp cận
này nhấn mạnh cá nhân xây dựng thế giới bản ngã và nhận dạng xã hội trên cơ sở địa
vị và vai trò của họ trong xã hội.
Lí thuyết hàm ý người cao tuổi nên cố gắng giữ vai trò trong xã hội bằng cách
thay thế những hoạt động đã mất bằng những hoạt động mới. Vì thế lí thuyết hoạt
động ám chỉ tuổi già phải được xem là giai đoạn cuối đời sống mà cá nhân có nhiều
khả năng thay đổi, phản ánh nhu cầu và khả năng của từng cá nhân.
Như vậy, lí thuyết hoạt động là phản ứng quan trọng với lí thuyết gỡ bỏ vì nó
tập trung sự chú ý đến chính bản thân người cao tuổi hơn nhu cầu xã hội.
Tiểu kết: Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, em đã tìm hiểu được một
số những lí thuyết cùng như các vấn đề có liên quan tới đề tài. Trong chương 1 này,
em đã nêu ra cơ sở lí luận cho đề tài, cách tiếp cận luận văn, các lí thuyết tiếp cận, các
lí thuyết nghiên cứu người cao tuổi cũng như những khái niệm liên quan tới vấn đề
nhằm làm rõ hơn đề tài nghiên cứu đó là “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa
bàn Thành phố Quy Nhơn”. Ngoài ra, e đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, là những
hướng nghiên cứu và những giả thuyết này sẽ được chứng mình qua quá trình khảo sát
thực trạng hỗ trợ xã hội tại thành phố Quy Nhơn.
19
Sự biến đổi cơ cấu dân cư, lao động và lành nghề: Thành phố Quy Nhơn là nơi
hội tụ khá đông đảo cư dân ở khắp nơi trên đất nước. Ngoài người dân bản địa còn có
người Bắc di cư và người dân các tỉnh lân cận như Quảng Ngãi, Phú Yên, đặc biệt là
20
vùng Tây Nguyên, trong đó có cả bốn dân tộc anh em: Bana, Chăm, Hrê và người
Kinh. Sự biến đổi kinh tế và dân cư cũng đồng thời tạo ra sự chuyển dịch lao động và
ngành nghề giữa các khu vực kinh tế, tạo nên thị trường lao động sôi động và cạnh
tranh mạnh mẽ, và làm giảm tỉ lệ gia tăng thất nghiệp hiện nay là 5,1% (năm 2004 là
5,24%). Theo Niên giám thống kê năm 2005, số người được sắp xếp làm việc tính theo
đơn vị người: dân số trong độ tuổi lao động là 150.468 người, trong đó số người có
khả năng lao động là 148.598 người và số người ngoài độ tuổi lao động có việc làm là
6.878 người( nguồn: số liệu theo Niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn năm 2005).
Sự biến đổi văn hóa: Những năm gần đây thành phố Quy Nhơn rất chú trọng tới
việc giữ gìn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng
dụng văn hóa ngày càng cao của cư dân thành phố. Nhiều hoạt động văn hóa, thông
tin, thể thao được tổ chức chào mừng kỉ niệm ngày lễ lớn, những ngày lễ kỉ niệm
truyền thống của các ngành nghề … Đại hội thi đua yêu nước toàn tỉnh lần thứ V giai
đoạn 2001 - 2005, thi đấu võ thuật cổ truyền toàn quốc năm 2005, triển lãm Mĩ thuật
khu vực miền Trung và Tây Nguyên lần thứ X năm 2005, … Đặc biệt, một số hoạt
động văn hóa, văn nghệ hướng đến riêng đối tượng người cao tuổi như tổ chức các
cuộc thi “Về nguồn”, “Sống vui, khỏe, có ích”, thi giao lưu ca hát giữa các hội Người
cao tuổi, các Câu lạc bộ dưỡng sinh, … thu hút sự quan tâm và sự tham gia đông đảo
của người cao tuổi (nguồn: số liệu theo Niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn năm
2005).
Sự biến đổi trong chính sách xã hội và phúc lợi xã hội: Qua hơn 20 năm đổi
mới, thành phố đã tiến hành thực hiện chi trả cho các đối tượng chính sách kịp thời,
chu đáo, lập quỹ phúc lợi để giúp đỡ người nghèo, người cao tuổi. Thành phố đã đưa
ra nhiều cuộc vận động chăm lo cho đời sống người cao tuổi đặc biệt là người cao tuổi
học là 16,9%, không có người cao tuổi có học vấn trên ĐH. Có thể thấy mức học vấn
của người cao tuổi như trên ở mức tương đối khá. Kết quả này được lí giải từ phong
trào bình dân học vụ nở rộ trong cả nước và tại Tỉnh Bình Định nói riêng sau Cách
mạng tháng Tám và phong trao bổ túc văn hóa sau ngày thống nhất đất nước. Tuy
nhiên, tỉ lệ người mù chữ cũng chiếm 2,3%. Với các kết quả thu được về trình độ học
vấn của người cao tuổi ở trên ta cũng dễ có thể hiểu được lớp người cao tuổi càng cao
sẽ tương ứng với hoàn cảnh lịch sử của đất nước và trong số đó nhiều người không có
điều kiện để học tâp.
Cụ ông có trình độ học vấn cao hơn cụ bà, ở đại học, cao đẳng và trung cấp
chuyên nghiệp tỉ lệ cụ ông là 24,5% tương ứng với cụ bà là 9,1%; Ở trung học phổ
thông cụ ông là 24,5 tương ứng với cụ bà là 20,7%. Tỉ lệ cụ bà có trình độ học vấn tiểu
học và trung học cơ sở cao hơn cụ ông, cụ thể ở bậc tiểu học tỉ lệ cụ bà là 36,4% tương
22
ứng với cụ ông là 32,1%, ở bậc THCS tỉ lệ cụ bà là 29,9% còn cụ ông là 16,9%. Tỉ lệ
mù chữ ở cụ bà cũng cao hơn cụ ông là 3,9% tương ứng với 1,9%.
Kết quả khảo sát tình trạng hôn nhân của người cao tuổi cho thấy, 42,3% người
cao tuổi đang sống với vợ hoặc chồng, trong đó tỉ lệ cụ ông đang sống cùng vợ cao
hơn cụ bà đang sống cùng chồng (48,1% so với 41,0%) và phần lớn thuộc nhóm tuổi
từ 70 tới 79 tuổi (chiếm 53,2%). Trong khi đó người cao tuổi sống một mình chiếm tỉ
lệ khá cao, nguyên nhân lớn nhất đó là góa vợ/chồng chiếm 50,8% (cụ bà cao hơn cụ
ông là 56,4 so với 40,7 và tập trung ở độ tuổi 80 – 89 là 69,3%). Nguyên nhân do
người cao tuổi li thân, li hôn chiếm 3,8% (trong đó cụ ông chiếm tỉ lệ cao hơn cụ bà là
3,8% so với 1,3%). Nguyên nhân do người cao tuổi chưa từng kết hôn chiếm 1,5%
(tập trung ở cụ ông chiếm 3,8%). Đây là những con số cho ta thấy người cao tuổi
không chỉ thiệt thòi về hạnh phúc tuổi già mà còn phải chịu cảnh hiu quạnh cô đơn. Và
đối với tỉ lệ người cao tuổi tái hôn chiếm 1,5%, bằng với tỉ lệ người cao tuổi chưa từng
kết hôn (cụ ông là 1,9% và ở cụ bà là 1,3%, ở độ tuổi 70 – 79 tuổi là 2,1%).
trên 90 tuổi là 20, 0%). Có 8,1% người được con cháu giúp đỡ (tỉ lệ cụ bà cao hơn cụ
ông là 9,3% so với 5,2% thuộc độ tuổi 60 – 69 là 4,9%, 70 – 79 là 9,6%, 80 – 89 là
10,0%). Tỉ lệ người cao tuổi được trợ cấp xã hội chỉ chiếm 1,4% (cụ bà cao hơn cụ
ông là 2,3% so với 1,7%) và người khác giúp đỡ là 0,0%.
Về bình quân thu nhập, người cao tuổi có thu nhập thấp nhất là 500 ngàn đồng
và cao nhất là 3 triệu 8 trăm nghìn đồng. Nguồn thu nhập này dao động trong khoảng
từ 1 triệu đồng tới 2 triệu đồng chiếm cao nhất là 43,1%, từ 2 triệu đồng tới 3 triệu
đồng chiếm 36,2%, trên 3 triệu đồng chiếm 13,8% và thấp nhất là từ 500 ngàn đồng
tới 1 triệu chiếm 6,9%.
Cụ bà có thu nhập dưới 1 triệu đồng cao hơn cụ ông (5,3% so với 1,8%) và cụ
bà cũng có thu nhập từ 1 triệu đồng tới 2 triệu cao hơn cụ ông (54,7 so với 32,7%).
Tuy nhiên, ở mức thu nhập cao hơn là từ 2 triệu đồng tới 3 triệu đồng và trên 3 triệu
đồng thì cụ ông có mức thu nhập cao hơn cụ bà (45,4% so với 32,0% và 20,0% so với
8,0%).
Người trong nhóm tuổi từ 60 – 69 có thu nhập cao hơn ngoài 70 tuổi.
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rõ qua các con số ở trên, người cao tuổi có
mức thu nhập trung bình so với mặt bằng thu nhập chung. Và với mức thu nhập đó đối
với người cao tuổi chỉ đủ chi trả cuộc sống khá đắt đỏ nơi đô thị, nhiều người cao tuổi
phải tìm đến sự trợ giúp của con cháu hoặc dù đã già vẫn phải làm việc để có thể đủ
chi trả cuộc sống hàng ngày cho gia đình và bản thân. Đây có thể được coi là một
trong những khó khăn của người cao tuổi tại Quy Nhơn nói riêng và người cao tuổi nói
chung.
24
Và trong mẫu khảo sát có tới 41,5% người cao tuổi hiện vẫn đang tham gia lao
động trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau như buôn bán tạp hóa, bán quán ăn,
giữ trẻ, bán vé số, … hay những công việc nặng nhọc hơn là đạp xích lô, thợ hồ, chạy
xe ôm, xe ba gác, … Trong số những người cao tuổi này có sự tham gia của cụ bà