Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
....................................................
TRẦN VIỆT LONG
Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn Phường
Trung Liệt – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
HÀ NỘI - 2017
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
....................................................
TRẦN VIỆT LONG
Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn Phường
Trung Liệt – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
cho tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo trong
khoa cùng nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt bản luận
văn này.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới Lãnh đạo Hội người cao tuổi
phường Trung Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong việc tìm hiểu một số thông tin về người cao tuổi tại địa phương
nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè thân hữu và
đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tinh thần và tạo điều kiện trong suốt quá
trình hoàn thiện luận văn.
Luận văn này tuy đã hoàn thành nhưng do còn hạn chế về chuyên môn
cũng như thời gian nghiên cứu có hạn nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thấy cô để luận văn của tôi được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
Tác giả
Trần Việt Long
năm
MỤC LỤC
PHẦN A. MỞ ĐẦU. ........................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài. ....................................................................................... 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. ................................................................... 2
Phường Trung Liệt – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội...................... 33
1. Chân dung của người cao tuổi trong mẫu nghiên cứu. ............................ 33
1.1. Giới tính và độ tuổi. .......................................................................... 33
1.2. Trình độ học vấn. .............................................................................. 34
1.3. Tình trạng hôn nhân. ......................................................................... 35
1.4. Nghề nghiệp trước đây. .................................................................... 36
1.5. Thu nhập và lao động hiện nay. ........................................................ 37
2. Các hình thức hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn Phường
Trung Liệt – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. ..................................... 41
2.1. Chăm sóc sức khỏe. ........................................................................... 41
2.2. Trò chuyện, chia sẻ............................................................................ 47
2.3. Hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày. ..................................................... 51
2.4. Hỗ trợ tiền/vật dụng lớn. ................................................................... 54
2.5. Hỗ trợ thực phẩm/vật dụng nhỏ. ....................................................... 58
2.6. Hỗ trợ việc làm/sản xuất kinh doanh. ............................................... 60
Chương 3: Đề xuất giải pháp và vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn bàn Phường
Trung Liệt – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. ................................... 63
1. Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn
Phường Trung Liệt – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. ....................... 63
1.1. Người giáo dục. ................................................................................. 64
1.2. Người tạo khả năng. .......................................................................... 65
1.3. Người điều phối - kết nối dịch vụ. .................................................... 66
1.4. Người biện hộ. ................................................................................... 67
1.5. Người tạo môi trường thuận lợi. ....................................................... 69
1.6. Người đánh giá và giám sát. .............................................................. 70
2. Đề xuất giải pháp hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn Phường
Trung Liệt – Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội. ..................................... 71
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH
: Công tác xã hội
NCT
: Người cao tuổi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Giới tính
33
Bảng 2.2: Độ tuổi
34
Bảng 2.3: Tương quan giữa giới tính và độ tuổi
34
Bảng 2.4: Trình độ học vấn
35
Bảng 2.5: Tương quan giữa giới tính và học vấn
39
Bảng 2.14: Hiện nay Có/Không đi làm
40
Bảng 2.15: Người giúp đỡ nhiều nhất khi đau ốm
41
Bảng 2.16: Tương quan Giới tính/Người giúp đỡ nhiều nhất khi đau ốm 44
Bảng 2.17: Mức độ chú ý sức khỏe
44
Bảng 2.18: Người thường xuyên trò chuyện, chia sẻ
47
Bảng 2.19: Tương quan về Giới tính/Người thường xuyên trò chuyện49
Bảng 2.20: Người trợ giúp trong sinh hoạt hàng ngày
51
Bảng 2.21: Tương quan Giới tính/Trợ giúp sinh hoạt hàng ngày
54
Bảng 2.22: Người trợ giúp về Tiền/Vật dụng lớn
Già hóa dân số được coi là một quá trình tất yếu và có ảnh hưởng lớn
đến mỗi quốc gia vì tỷ lệ người cao tuổi tăng đồng nghĩa với việc tỷ lệ người
phụ thuộc trên tổng dân số tăng. Đây là một hiện tượng phổ biến ở các nước
trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển. Trong một vài thập niên gần
đây, hiện tượng này trở nên phổ biến hơn ở các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam. Theo ước tính của Tổng cục thống kê Việt Nam thì đến năm
2017 sẽ có khoảng 10% trong tổng dân số là người cao tuổi. Điều này đồng
nghĩa với việc Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa dân số. [23]
Hiện tượng già hóa dân số xảy ra khi tỷ lệ tử vong giảm, và quan trọng
nhất là tỷ lệ sinh giảm. Già hóa dân số sẽ kéo theo những thay đổi to lớn trong
cấu trúc dân số, kinh tế, xã hội và chính trị của một quốc gia phải đối mặt với
nhiều gánh nặng, bao gồm gánh nặng về kinh tế, cơ cấu lao động, cơ sở hạ
tầng, mối quan hệ trong gia đình, các vấn đề tâm lý, lối sống, và đặc biệt là hệ
thống chăm sóc cho người cao tuổi. [30]
Người cao tuổi có những ưu thế về đóng góp của họ với gia đình, xã hội,
về kinh nghiệm sống và khả năng tiếp tục đóng góp vào quá trình phát triển.
Tuy nhiên, với đặc điểm tâm lí nổi bật của người cao tuổi là nuối tiếc tuổi trẻ,
hay hoài cổ. Họ thường nhắc đến quá khứ nhiều hơn hiện tại, rất tự hào với
kinh nghiệm sống đã qua của mình. Họ nhạy bén với cái mới, cái hiện đại, với
sự biến động của lịch sử, các sự kiện diễn ra hàng ngày. Nhiều cán bộ viên
chức sau khi về hưu, từ chỗ hết sức bận rộn với công việc nay lại rỗi rãi,
không có việc gì làm, bị hụt hẫng, đồng thời lại thấy mình mất vị trí, quyền
lực trong xã hội. Họ cảm thấy không còn được kính nể, trong vọng như trước
đây, từ đó nảy sinh stress tâm lý.
1
Cùng với sự suy giảm về sức khỏe, người cao tuổi nghĩ mình trở thành
người thừa đối với gia đình và xã hội, mình không còn vai trò hữu ích nữa,
không ai cần mình nữa. Vì vậy, họ cảm thấy bị bỏ rơi, cô đơn nên sinh tủi
cứu này là ấn phẩm “Người già và sức khỏe: Người cao tuổi Mỹ đến từ
Châu Á và Thái Bình Dương” - “Aging and health: Asian and Pacific
Islander American Elders” của các tác giả Melen R.McBride, Nancy
Morioka.Douglas and Gwen Veo. Trong cuốn sách này, nhóm tác giả đã chỉ
ra sự đa dạng văn hóa, hệ thống niềm tin, cấu trúc gia đình ảnh hưởng đến
việc chăm sóc sức khỏe của những NCT đến từ các nước khác nhau thuộc
khu vực Châu Á và Thái Bình Dương hiện tại đang sống ở Mỹ. Từ đó, các
tác giả đánh giá nhu cầu, xác định những thuận lợi, rào cản trong việc chăm
sóc sức khỏe tạo điều kiện để những NCT có thể thể hiện được mong muốn,
nhu cầu của bản thân một cách tự nhiên nhất. [30]
Nghiên cứu “Những rào cản trong chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi
và nhận thức về chúng” - “Barriers to Health Care Access Among the Elderly
and Who Perceives Them” của Annette L. Fitzpatrick, Neil R. Powe, Lawton
S. Cooper, Diane G. Ives, MPH, and John A. Robbins (Đại học Washington,
Đại học Johns, Đại học Puttsburgh, Đại học California – Davis, và Đại học
Wake Forest). Nghiên cứu này được tiến hành từ năm 1993 – 1994 tại Viện
nghiên cứu sức khỏe tim mạch bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với
5888 đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên. Mẫu này được chọn ngẫu nhiên từ
danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: Quận Foryth, quận
Sacramento, quận Washington và quận Allgheny. Kết quả nghiên cứu cho
thấy các rào cản tâm lý và thể chất khác. Nghiên cứu này khái quát thực
trạng chăm sóc sức khỏe đối với NCT, những rào cản tác động tới việc
NCT nhận được sự quan tâm, chăm sóc của riêng nước Mỹ. Từ những phát
3
hiện của nghiên cứu này, chúng ta có thể liên hệ tới những rào cản tương tự
trong xã hội Việt Nam. Chúng ta có thể thấy hệ thống chăm sóc sức khỏe của
nước ta còn nhiều bất cập, chẳng hạn như cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đặc
biệt là các cơ sở y tế cộng đồng. Điều này khiến cho việc tiếp cận các dịch vụ
cảm thấy hài lòng với vai trò của họ và mức độ thành công của chương trình.
Từ đó, các tác giả cũng đề xuất những phương pháp để cải thiện hơn nữa dịch
vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho NCT tại nông thôn. Kết quả nghiên cứu
này được công bố vào năm 2008. Đây cũng chính là một trong những mô
hình chăm sóc sức khỏe NCT mà chúng ta cần quan tâm nghiên cứu. Mô
hình này giúp chúng ta thấy được cách chăm sóc sức khỏe tinh thần cho NCT
ngay tại cộng đồng của Hoa Kỳ như thế nào. Điều này sữ giúp chúng ta có
thêm những ý tưởng cho việc xây dựng các mô hình phù hợp ở nước ta. [29]
Một nghiên cứu đáng lưu ý khác là công trình: “Già hóa trong thế kỷ
XXI: Thành tựu và thách thức” dó Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA),
và Tổ chức Hỗ trợ NCT quốc tế (HelpAge International), xuất bản năm
2012. Báo cáo phân tích thực trạng và rà soát tiến độ thực hiện chính sách
và hành động của chính phủ và các cơ quan liên quan kể từ khi Hội nghị
Thế giới lần thứ 2 về NCT về thực hiện kế hoạch hành động quốc tế Madrid
về NCT nhằm đáp ứng những cơ hội và thách thức của một thế giới đang
già hóa. Báo cáo đưa ra nhiều ví dụ minh họa sinh động về các chương
trình đổi mới đã đáp ứng thành công các mối quan tâm của NCT. Đồng
thời báo cáo cũng đưa ra các khuyến nghị về định hướng tương lai nhằm
đảm bảo mọi người ở mọi lứa tuổi trong xã hội bao gồm cả NCT và giới
trẻ đều có cơ hội góp phần xây dựng xã hội cũng như cùng được hưởng các
phúc lợi xã hội đó. [17]
Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 3/2/2004 cho biết biết kết quả của Viện
nghiên cứu pháp (INED), thực hiện các nước thành viên Châu âu (EU) bao
gồm Bồ Đào Nha, Cộng Hòa Séc, Hà Lan, Đức, Italia,… người già ở phía
nam EU thì thích sống với những người thân trong gia đình. Các nước phía
bắc EU thì tình trạng người cao tuổi sống tại các trung tâm dưỡng lão đang có
5
xu hướng ngày càng tăng. Ví dụ : Hà Lan, chỉ có 8% số người già trên 75 tuổi
nhau của người già, đề cập đến một số vấn đề lớn như: dân số học tuổi già, cơ
sở hạ tầng, gia đình và mạng lưới xã hội, đóng góp của người cao tuổi vào gia
đình và phát triển cộng đồng, các vấn đề về chính sách xã hội có liên quan
đến người cao tuổi. [24]
Trong hai năm 1991 đến 1992 Viện Xã hội học đã triển khai đề tài
“Người cao tuổi và an sinh xã hội" được sự tài trợ cũa quỹ Toyota/Tương
Lai của nhóm tác giả Trịnh Duy Luân, Lê Truyền, Bùi Thế Cường, Trần
Thị Vinh, Vũ Hoa Thạch, Đỗ Thịnh. Đây là công trình nghiên cứu khá công
phu về đời sống của NCT ở nông thôn và thành thị nước ta từ góc độ xã hội
học (lao động, thu nhập, hoàn cảnh kinh tế, tình hình nhà ở và tiện nghi,
vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, việc tham gia CTXH sau nghỉ hưu,
hệ thống an sinh xã hội và tác động của nó vào hoàn cảnh sống của NCT…)
[21]
Đặc biệt, cuộc khảo sát với quy mô trên cả hai vùng Đồng bằng Sông
Hồng và Đông Nam Bộ được tiến hành vào những năm 1996 – 1997 đã đề
cập khá toàn diện các lĩnh vực của đời sống người cao tuổi như: hôn nhân,
học vấn, lao động, thu nhập và hoàn cảnh kinh tế, sức khỏe và chăm sóc sức
khỏe, sắp xếp đời sống gia đình,…, và các khía cạnh tác động của đổi mới
đến đời sống người cao tuổi… Các kết quả nghiên cứu đạt được từ 2 cuộc
khảo sát trên đã góp phần mô tả các vấn đề quan trọng liên quan đến già hóa
dân số cũng như chính sách già hóa dân số ở Việt Nam. Tiếp theo, năm 1999,
một cuộc nghiên cứu định tính về người cao tuổi do Bùi Thế Cường và cộng
sự tiến hành với mục tiêu làm rõ hơn các kết quả nghiên cứu định lượng trong
hai cuộc khảo sát tiến hành ở Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ nói
trên. Nghiên cứu này đã tập trung đi sâu tìm hiểu các vấn đề về tổ chức đời
7
sống gia đình, đời sống kinh tế, sức khỏe và chăm sóc khi ốm đau, những lo
lắng của tuổi già, đánh giá tác động của đổi mới đến xã hội và người cao tuổi.
cuộc sống của toàn xã hội. Một số mô hình chăm sóc NCT hiện nay bước
đầu đã giải quyết được những vấn đề của xã hội. Các mô hình này ít nhiều
đã giúp NCT có cuộc sống thanh thản và nhận được sự quan tâm chăm
sóc chu đáo.[10]
“Báo cáo của UNFPA năm 2010” đã khẳng định già hóa dân số là vấn
đề toàn cầu trong thế kỷ XXI và tại Việt Nam, xu hướng già hóa là một thách
thức lớn mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong thời gian tới. Sự thay đổi cơ cấu
dân số toàn cầu theo hướng già hóa sâu sắc đến mọi khía cạnh của cá nhân,
cộng đồng, của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế, liên quan đến mọi mặt
của đời sống loài người như xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, tâm lý… Báo
cáo cũng chỉ ra những thách thức của dân số già trong công tác chăm sóc sức
khỏe, bao gồm: gánh nặng bệnh tật kép, tăng nguy cơ tàn phế, nhu cầu chăm
sóc lớn trong khi điều kiện hỗ trợ còn hạn chế, phụ nữ đối mặt với nhiều nguy
cơ khi có tuổi, môi trường chính sách, năng lực cung cấp dịch vụ chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi còn hạn chế… Đối với thách thức về phía môi trường
chính sách, mặc dù Đảng và Nhà nước Việt Nam đã hết sức quan tâm đến
công tác chăm sóc người cao tuổi, cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội
và nâng cao chất lượng sống của người dân nói chung, khung pháp lý và các
thiết chế bảo đảm các phúc lợi của người cao tuổi không ngừng được hoàn
thiện nhưng việc thực hiện một số chính sách chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể: Việc ban hành các văn bản hướng dẫn
của các ngành có liên quan chưa kịp thời và chưa cụ thể, do vậy tuyến cơ sở
còn gặp khó khăn trong triển khai thực hiện chính sách, thiếu sự phối hợp liên
ngành trong triển khai thực hiện chính sách đặc biệt ở tuyến cơ sở do thiếu
văn bản chỉ đạo hướng dẫn triển khai cụ thể của địa phương đối với từng cấp,
9
việc triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn ở hầu hết các địa phương do
thiếu kinh phí, nguồn nhân lực cũng như nhận thức về chính sách chưa đầy đủ
những trách nhiệm của gia đình, xã hội đối với đời sống tinh thần của người
cao tuổi. Bài viết đã nêu lên được phần nào các khía cạnh đời sống tinh thần
của NCT. Tuy nhiên, bài nghiên cứu của TS. Hoàng Mộc Lan còn đi chung
chung và không nhấn mạnh quá nhiều đến các mối quan hệ tương tác giữa
những NCT với nhau. Đưa ra được mức độ quan hệ xã hội của NCT chỉ ở
mức khá, nhưng chưa nêu lên đặc điểm tâm lí tương quan. [11]
Theo tác phẩm “Tiếp cận văn hóa người cao tuổi” của Tiến sĩ Nguyễn
Phương Lan (2000): Người cao tuổi chuyển đổi từ môi trường hoạt động tích
cực sang môi trường nghỉ ngơi hoàn toàn. Với thời gian rỗi qua nhiều trong
khi sức khỏe ngày càng kém đi đã khiến cho họ rơi vào trạng thái tâm lí cô
lập vớ thế giới xung quanh, đòi hỏi cần có nhu cầu giao tiếp mãnh liệt. Do
kinh nghiệm sống của các cụ nhiều khi hơn lớp trẻ, được tiếp xúc với nhiều
nền văn hóa mang tính truyền thống. Khác với lớp trẻ văn hóa của người cao
tuổi không chỉ có đơn thuần là giao tiếp xã hội mà mang tính truyền thống với
ba loại giao tiếp cơ bản:
Giao tiếp với tự nhiên, với thế giới xung quanh.
Giao tiếp với thần linh, lực lượng siêu nhiên.
Giao tiếp với xã hội, con người.
Tác giả đã nhận định đối với các cụ trong đời sống hiện nay thì nhu cầu
giao tiếp xã hội, với con người ta là quan trọng nhất. Vì khi về tuổi già họ
luôn có xu hướng mặc cảm bản thân, chán nản, hay giận dỗi không kiềm nén
11
được cảm xúc bản thân… do đó ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa
mọi người xung quanh. Dựa trên đặc điểm này ta có thể tìm ra các biện pháp
can thiệp để cải thiện tình trạng giao tiếp theo chiều hướng tốt nhất. [13]
Công trình nghiên cứu “Một số vấn để cơ bản về người cao tuổi ở Việt
Nam giai đoạn 2011 - 2020” của Ts. Lê Ngọc Lân (2010) - Viện Nghiên cứu
Gia đình và Giới – Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã đề cập tới
2, 3, 4, Cẩm nang đề cập đến những yếu tố bên ngoài có tác động đến sức
khỏe thể chất cùa người cao tuổi. Bên cạnh đó, cẩm nang còn trình bày các lời
khuyên dành cho giấc ngủ, cách bố trí phòng ngủ, chữa bệnh mất ngủ và một
số bài thuốc, vị thuốc có tác dụng chữa trị một số chứng bệnh thường gặp.
Cẩm nang này đề cập đến những cách phòng, chữa bệnh cho người cao tuổi.
Một số cách và phương pháp làm cho cơ thể thoải mái để phòng chữa bệnh.
Ngoài ra, còn nói đến cách ăn ngủ ở người cao tuổi như thế nào là tốt, một số
thức ăn tốt cho cơ thể và những bài thuốc quý dành chữa bệnh cho người cao
tuổi. Tuy nhiên, trong cuốn sách cẩm nang vẫn chưa nói đến các bệnh mà
người cao tuổi thường gặp. Bên cạnh đó, chưa nói tới vấn đề dinh dưỡng cho
người cao tuổi. Sách chưa đề cập đến một số phương pháp để người cao tuổi
ở tại các cơ sở mái ấm không thể vận động được có cách chăm sóc sức khỏe
mình tốt hơn. Cuối cùng cuốn sách đã nhắc đến vấn đề tinh thần nhưng chưa
đi sâu vào cách chăm sóc đời sống tinh thần như thế nào phù hợp. [3]
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Nhu cầu quan hệ của người già cô đơn,
không nơi nương tựa tại trung tâm bảo trợ xã hội và vai trò can thiệp của
nhân viên công tác xã hội” Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Hà Nội (2009). Đề tài đã đề cập đến người già cô đơn, không
nơi nương tựa tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV, Ba Vì – Hà Nội được thu
nhận và nuôi dưỡng, sống cách biệt về địa lí với gia đình, người thân và thế
13
giới bên ngoài. Do đó, người già ở các trung tâm thường hạn chế về các mối
quan hệ xã hội bên ngoài. Kèm theo đó là thiếu thốn về nhu cầu quan hệ tình
cảm khi sống trong môi trường nuôi dưỡng của trung tâm. Nhu cầu tình cảm
và các mối quan hệ của người già cô đơn đã được đề tài thể hiện rõ ràng. Đề
tài nghiên cứu đưa ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp về vấn đề
hạn chế các mối quan hệ ở người cao tuổi ở trung tâm bảo trợ xã hội và đưa ra
hướng giải quyết. Đề tài nghiên cứu sâu các mối quan hệ giữa những người
những chính sách quan tâm, ưu tiên đối với người cao tuổi nhằm đảm bảo cho
người cao tuổi có được cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
Việt Nam đang trong tiến trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường, đồng
thời đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác y tế, thu hút các
thành phần kinh tế tham gia, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Người cao
tuổi là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Nếu như
công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi không được quản trị tốt bằng
những cơ chế chính sách rõ ràng, cụ thể, minh bạch, phù hợp với điều kiện
thực tế của Việt Nam và khả năng chi trả của người cao tuổi thì kết quả không
chỉ là giảm chất lượng dân số mà còn làm cho chất lượng cuộc sống của
người cao tuổi vốn đã hạn chế lại càng thêm khó khăn.
3. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn.
3.1. Ý nghĩa lí luận.
Đề tài tìm hiểu thực tế để nâng cao hiệu quả trong quá trình học tập và
nghiên cứu. Những thông tin thực nghiệm thu được từ thực tế sẽ đóng góp
thêm vào nguồn tham khảo cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận công tác
xã hội về NCT ở khía cạnh hỗ trợ xã hội.
Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho các nghiên
cứu sau về lĩnh vực này.
15