ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------
NGUYỄN THỊ THÊM
VẤN ĐỀ NHÀ Ở CỦA LAO ĐỘNG NHẬP CƢ
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TỪ GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Nghiên cứu người lao động nhâp̣ cư tại phường Khương Thượng quận Đống Đa - thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------
NGUYỄN THỊ THÊM
VẤN ĐỀ NHÀ Ở CỦA LAO ĐỘNG NHẬP CƢ
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TỪ GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Nghiên cứu người lao động nhâp̣ cư tại phường Khương Thượng quận Đống Đa - thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60900101
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh
Tôi xin cảm ơn UBND phường Khương Thượng-quận Hoàng Maithành phố Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận
văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm
giúp đỡ và động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn
thành luận văn được tốt hơn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2016
Học viên cao học
Nguyễn Thị Thêm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 4
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu................................................................................... 5
3. Ý nghĩa của nghiên cứu ........................................................................................... 11
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ....................................................................... 11
5. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................. 12
6. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................ 12
7. Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................................. 12
8. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 12
9. Kết cấu của luận văn ................................................................................................ 16
NỘI DUNG..................................................................................................... 17
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .............. 17
1.1. Các khái niệm công cụ ......................................................................................... 17
1.1.1.Khái niệm nhà ở ..................................................................................... 17
1.1.2. Nhập cư ................................................................................................. 18
1.1.3. Người lao động ...................................................................................... 18
1.1.4. Lao động nhập cư……………………………………………………. 19
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu................................................................. 19
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội.
2
UBND
Ủy ban nhân dân
3
KDC
Khu dân cư
4
DN
Doanh Nghiệp
5
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
nghèo nàn và lạc hậu, thu nhập thấp, kinh tế khó khăn sự dư thừa lao động ở
nông thôn là nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự nhập cư ồ ạt của dòng người từ
nông thôn ra thành thị để sinh sống và làm việc tại các đô thị. Số lượng lao
động phổ thông trên tập trung lớn vào 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM.
Chính nguồn lao động trên đã ảnh hưởng rất nhiều vấn đề cho thành phố. Một
trong các vấn đề đang được dư luận quan tâm chú ý đến là vấn đề nhà ở của
lao động nhập cư [6].
Đảng và nhà nước ta đã đưa ra những chính sách cần thiết và đem lại
lợi ích cho người lao động nhập cư có thu nhập thấp cũng như những người
dân nghèo nhập cư tại thành phố. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mặt trái nền
kinh tế thị trường, cũng như nhiều chính sách đưa ra chưa phù hợp và sự thiếu
sót trong quá trình triển khai thực hiện, vấn đề nhà ở của người lao động nhập
cư tại đô thị vẫn đang có chiều hướng gia tăng. Tại phường Khương Thượng
4
có số lượng người lao động nhập cư lớn, họ sống trong các phòng trọ chật
chội ẩm thấp, nguồn nước ô nhiễm, tình hình an ninh bất ổn định…đã ảnh
hưởng đế n sức khỏe, tinh thầ n của người lao đô ̣ng [3] [5].
Thực trạng trên cho thấy, việc tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích tình
hình người lao động nhập cư tại đô thị có ý nghĩa rất lớn và làm cơ sở cho
việc đưa ra những chủ trương, chính sách cũng như những giải pháp phù hợp
cho vấn đề nhà ở của người lao động, cũng cần thấy rằng trong cuộc chiến
chống lại những ngôi nhà không đảm bảo đời sống cho người lao động, vai
trò của công tác xã hội rất quan trọng. Từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề
tài: “Vấn đề nhà ở của lao động nhập cư trên địa bàn Hà Nội từ góc nhìn
công tác xã hội” (Nghiên cứu người lao động nhập cư tại phườ ng Khương
Thượng-quận Đống Đa-thành phố Hà Nội).
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
yếu của hình thái xã hội tư sản…Người ta chỉ có thể loại trừ được nạn khủng
hoảng nhà ở cũng như những hậu quả của nó đối với sức khỏe…Khi đã hoàn
toàn thay đổi trật tự xã hội đã sản sinh ra nạn khủng hoảng đó [11].
Trong bài viết về “Cung cấp nhà ở cho công nhân nhà máy” (Housing
provisio for factory workers) được Liliany S.Arifin (2004) khẳng định nhu
cầu bức thiết về vấn đề nhà ở của công nhân. Các nhà máy công nghiệp ở các
quốc gia trên thế giới. Trên thực tế ở Châu Âu vào thế kỷ thứ XVIII, Châu Á
vào thế kỷ thứ XX quá trình công nghiệp hóa đã dẫn đến những vấn đề nhà ở
hết sức nghiêm trọng như: Thiếu nhà ở cho người lao động thu nhập thấp, nhà
ở không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh môi trường…Nhưng chỉ nhận
được rất ít sự quan tâm của các công ty cũng như Chính phủ. Những vấn đề
liên quan đến cung ứng nhà ở cho người lao động tại khu công nghiệp do
Liliany S.Arifin đặt ra từng được các nhà khoa học như Rahman (1993)
nghiên cứu [10].
Nghiên cứu của Haryana Governmen về “Vai trò nhà nước trong giải
quyết nhà ở cho người lao động” (2010) đã làm rõ vai trò của chính quyền
trung ương, chính quyền địa phương trong việc thu hút các doanh nghiệp vào
6
làm việc các khu công nghiệp cũng như xây dựng và tổ chức thực thi các
chính sách liên quan đến giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động làm
việc tại các khu công nghiệp.
Trên đây là những công trình nghiên cứu về di cư và vấn đề nhà ở của
người lao động được tác giả tìm hiểu để bổ sung cho đề tài luận văn của mình.
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Nhà ở của người lao động được rất nhiều tác giả Việt Nam đề cập tới.
Sau đây là những đề tài nghiên cứu về di cư và nhà ở của người lao động:
Nghiên cứu về di cư và di dân nhìn từ góc độ xã hội học. Trung tâm
Chuyên đề nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam”
của Tổng cục thống kê thực hiện năm 2006. Nghiên cứu này quan tâm xem xét tác
động của di cư với bản thân những người di cư. Chất lượng cuộc sống của người
di cư được đề cập trong báo cáo này đã mô tả các yếu tố quyết định sự thành công
của di cư (cả khách quan và chủ quan) liên quan tới thu nhập, nhà ở, phúc lợi và
an ninh nơi chuyển đến. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả di cư bao gồm từ các
cơ hội kinh tế, tính sẵn sàng về nhà ở và các điều lệ, quy định của địa phương nơi
đến, loại di cư, tức là di cư tạm thời, chuyển đến nơi mới rồi lại quay về, tạm trú
dài hạn hoặc kết hợp của các hình thức trên, các hỗ trợ mà người di cư có thể có
được thông qua hoặc hệ thống phúc lợi xã hội chung hoặc mạng lưới xã hội riêng
của người di cư.
Chuyên khảo “Di cư trong nước và mối liên hệ với các điều kiện sống” do
Tổng cục thống kê thực hiện cũng trong năm 2006 nhấn mạnh đến tầm quan trọng
của việc hoạch định chính sách và kế hoạch hoá phát triển các lĩnh vực khác nhau
có tính đến sự khác biệt giữa các nhóm di cư. Mục tiêu chính của chuyên khảo
này là miêu tả mối quan hệ giữa di cư và các sự kiện cuộc sống. Các sự kiện được
phân tích xem xét bao gồm: Việc làm, thay đổi nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân,
học vấn, sinh đẻ. Tập trung phân tích các mô hình di cư theo chu trình cuộc sống,
gắn với các nguyên nhân và hậu quả chính của di cư [24].
8
Tác giả Trần Hữu Quang đã tìm hiểu đề tài “Sài Gòn và dân nhập cư” Bài
được đăng trên thời báo kinh tế Sài Gòn, 30-12-2004, [trang 48-49]. Đề tài cũng
nói về thực trạng của dân nhập cư tại Sài Gòn, những đóng góp của dân nhập cư
cùng với những ảnh hưởng, hậu quả của người dân để lại cho Sài Gòn.
Báo cáo nghiên cứu Felix Munster, biên tập Hoàng Phương Thảo với
sự hỗ trợ của ban QLDA Quận Gò Vấp-TP.HCM và Trung tâm vì người lao
động nghèo Thành phố Hải Phòng “Tóm tắt chính sách ASXH của người lao
liền với các phương thức thích nghi và khai thác các “Điểm mạnh” từ cộng
đồng dân cư nghèo như tính cố kết cộng đồng cao, có thể kiếm sống từ chính
tại nơi cư ngụ. Đối với người nghèo đô thị, tạo dựng nhà ở là một quá trình
chứ không phải điều kiện. Để có được một ngôi nhà, họ phải tích lũy và xây
dựng trong nhiều năm. Như vậy, có thể xem nhà ở như là một chỉ báo để xác
định tình trạng nghèo của họ. Do đó, để góp phần nâng cao điều kiện sống của
những hộ nghèo, chính quyền địa phương cần phải có những chính sách thích
hợp nhằm cải thiện nhà ở của họ. Nhìn chung, có thể nhận thấy rằng, trong
nhiều năm, chính quyền chỉ tập trung giải quyết các vấn đề nhà ở cho những
hộ có hộ khẩu thường trú hoặc những hộ bị ảnh hưởng bởi chương trình cải
tạo và chỉnh trang đô thị, còn những hộ nghèo đô thị với thu nhập thấp, và
người nhập cư đã không được quan tâm đến một cách đúng mức .
Tại thành phố Hồ Chí Minh tác giả Trần Thị Kim Xuyến, Phạm Thị
Thùy Trang cũng chỉ ra“Những vấn đề nhà ở cho người nghèo tại Thành phố
Hồ Chí Minh”, năm 2014, chính là sự phân tầng về mức sống và sự khác biệt
trong lợi thế về nhà ở, tại thành phố Hồ Chí Minh, người nghèo thường sống
trong các ngôi nhà đơn sơ tại những địa bàn cơ sở hạ tầng còn yếu kém; từ
nghiên cứu của mình các tác giả cho rằng nhà ở cho người thu nhập thấp đang
là vấn đề thời sự vì trên thực tế hiện nay kết quả của các chương trình nhà ở
không đến được với người có thu nhập thấp. Nhóm tác giả trích dẫn khuyến
nghị của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), có 7 trụ cột cho chính sách nhà
10
ở: Cải thiện quyền sở hữu, phát triển tín dụng bất động sản, triển khai hệ
thống hỗ trợ có định hướng tốt, mở rộng nguồn cung cấp đất đô thị, cung cấp
khung pháp lý cho việc phát triển đất và bất động sản, làm nổi bật tính cạnh
tranh của nghành kinh doanh bất động sản, phát triển khung thể chế cho chính
sách nhà ở cấp quốc gia. Đây là những gợi ý tốt, tác giả luận văn sẽ kế thừa
Nghiên cứu tại phường Khương Thượng-quâ ̣n Đống Đa-thành phố Hà
Nội.
Nghiên cứu vấn đề nhà ở của lao động nhập cư.
6. Mục tiêu nghiên cứu
- Chỉ ra được cách thức tìm nhà của lao động nhập cư.
- Làm rõ thực trạng điều kiện nhà ở của lao động nhập cư.
- Chỉ ra được nguyên nhân lựa chọn nhà ở của lao động nhập cư.
- Làm rõ được tác động của điều kiện nhà ở đến sức khỏe và đời sống
tinh thần của người nhập cư.
Đề xuất các hoạt động công tác xã hô ̣i trong việc hỗ trợ giải quyết
những khó khăn bất cập về nhà ở của lao động nhập cư.
7. Câu hỏi nghiên cứu
- Lao động nhập cư tìm kiếm nhà ở như thế nào?
- Thực trạng điều kiện nhà ở của lao động nhập cư như thế nào?
- Những tác động nào của điều kiện nhà ở ảnh hưởng đến sức khỏe và
đời sống tinh thần của người nhập cư?
- Những nguyên nhân nào dẫn đến việc lựa chọn nhà ở của lao động
nhập cư?
- Đề xuất những hoạt động nào của công tác xã hội trong việc hỗ trợ
giải quyết những khó khăn, bất cập nhà ở của người lao động nhập cư?
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích tài liệu là một phương pháp dựa trên các tài liệu có sẵn tại địa
bàn nghiên cứu và những tài liệu thu thập được nhằm phân tích, tìm hiểu các
12
vấn đề cách thức tìm nhà, cấu trúc và không gian nhà, tiện nghi trong nhà, số
người sống trong nhà và giá cả phòng, nguồn nước và các công trình vệ sinh
Phương pháp quan sát nhằ m thu thâ ̣p các thông tin ta ̣i điạ bàn nghiên
cứu, được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện qua nhiều giai
đoạn, từ giai đoạn khảo sát, thu thập thông tin cho đến quá trình hỗ trợ và kết
thúc đề tài nghiên cứu. Quan sát được thực hiện ngay từ khi đối thoại với
chính quyền phường Khương Thượng, thông qua giao tiếp và thái độ về vấn
đề nhà ở của lao động nhập cư, tiếp đó phương pháp này được phát huy cao
độ khi khảo sát địa bàn nghiên cứu xung quanh ngôi nhà. Nhân viên công tác
xã hộiquan sát diện tích nhà, chiều dài, chiều rộng, chiều cao nhà, các đồ
dùng như bếp, quạt, đồ dùng sinh hoạt, quần áo và xe đạp lao động hằng
ngày, cửa sổ cổng và môi trường vệ sinh nhà tắm và không khí cảnh quang
xung quanh nhà. Mặt khác trong quá trình tiếp xúc với chính quyền phường
và người lao động nhập cư nhân viên công tác xã hội quan sát thái độ của
người lao động nhập cư cung cấp các thông tin về ngôi nhà có chính xác hay
không, những mong muốn nhu cầu về ngôi nhà trong tương lai. Bên cạnh đó
còn quan sát được thái độ của cán bộ phường trong việc hỗ trợ nhà ở cho
người lao đông nhập cư.
Quan sát giúp người nghiên cứu nhận diện trực tiếp vấn đề đã và đang
diễn ra trước mắt như thế nào? Phương pháp quan sát được coi như chiếc máy
ảnh quan trọng của người nghệ thuật chụp hình. Đối với nhà ở của người lao
động nhập cư là một vấn đề có tính xã hội, diễn ra hằng ngày, hằng giờ và
đang trở nên bức thiết trong cuộc sống. Do vậy phải đi thực tế, quan sát hiện
thực nhà ở của những người nhập cư mới có đầy đủ bức tranh toàn cảnh của
xã hội.
Mục đích của phương pháp này nhằm thấy được thực tiễn cuộc sống
nhà ở của người dân lao động nhập cư nơi đô thị lớn và ảnh hưởng của những
ngôi nhà họ đang sinh sống, cũng như những hậu quả để lại cho người lao
động phải sống trong các khu trọ.
14
15
Đối tượng quan trọng không thể thiếu liên quan đến việc quản lý an
ninh trật tự xã hội đó chính là công an phường. Số lượng phỏng vấn là 2
người đi sâu vào các hoạt động quản lý tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Đặc biệt là vấn đề người lao động có những khó khăn bấp cập gì khi ở các
dãy trọ không có chủ và các biện pháp phối hợp với nhân viên công tác xã hội
trong việc đảm bảo an ninh trật tự cho các dãy trọ người lao động đi thuê.
Trong các cuộc điều tra phương pháp phỏng vấn được sử dụng một
cách tối đa để thu thập thông tin có tính tập trung cao vào đề tài nghiên cứu.
Thông qua phương pháp này người nghiên cứu nắm được vấn đề có tính chiều
sâu và rộng.
Trong quá trình phỏng vấn, nhân viên công tác xã hội kết hợp những kĩ
năng chuyên nghiệp như: Kĩ năng quan sát, kĩ năng thấu hiểu, kĩ năng phản
hồi, kĩ năng khuyến khích đối với thân chủ và nhóm thân chủ cùng với đối
tượng được phỏng vấn để có thể hiểu được suy nghĩ, nhu cầu và mong muốn
của đối tượng, đồng thời thấy rõ được thực tế về khả năng tiếp cận với các
dịch vụ xã hội của họ.
9. Kết cấu của luận văn
Đề tài có kết cấu gồm các phần: Mở đầu, nội dung, kết luận và khuyế n
nghị. Nội dung chính tập trung trong 3 chương là: Chương 1: Cơ sở lý luận và
địa bàn nghiên cứu; Chương 2: Thực trạng điều kiện nhà ở của lao động nhập
cư; Chương 3: Đề xuất các hoạt động CTXH để hỗ trợ, giải quyết vấn đề nhà
ở cho lao động nhập cư.
16
NỘI DUNG
nhà ở và quy định tại Nghị định này mua, thuê hoặc thuê mua theo cơ chế do
nhà nước quy định.
Nói tóm lại nhà ở là: Công trình được xây dựng trong khuôn viên đất ở
thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích phục vụ các nhu cầu thiết yếu và sinh hoạt của hộ gia đình, cá
nhân.
1.1.2. Nhập cư
Theo Luật di cư quốc tế nhập cư là quá trình những người không phải
công dân của quốc gia tiếp nhận di chuyển tới quốc gia đó với mục đích định
cư. Từ khái niệm nhập cư theo Luật di cư quốc tế ta có thể hiểu: Nhập cư là
hoạt động di chuyển chỗ ở đến 1 vùng hay 1 quốc gia mới. Dân nhập cư là
người dân di cư từ 1 vùng đến 1 vùng khác để định cư hoặc tạm trú [15].
1.1.3. Người lao động
Theo Điều 3 Luật số 10/2012/QH13 của Quốc hội: Bộ luật lao động.
Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc
theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của
người sử dụng lao động.
Người lao động là người không chỉ đủ sức khỏe để hoa ̣t động sản xuất
mà họ còn có đủ điều kiện về nhận thức về các hành vi và mọi vấn đề mà họ
hoạt động khi giao tiếp với xã hội hay trong quá trình sản xuất tạo ra của cải
cho bản thân, gia đình và xã hội.
1.1.4. Lao động nhập cư
Đặc điể m lao đô ̣ng nhâ ̣p cư ở Viê ̣t Nam và trên thế giới hiê ̣n nay: Thứ
nhấ t, lao đô ̣ng nhâ ̣p cư là những người trẻ, thiế u kĩ năng nghề nghiê ̣p có trình
đô ̣ chuyên môn thấ p, thâ ̣m chí không có chút kĩ năng gì và đang trong giai
đoa ̣n thấ t nghiê ̣p, mong muố n tìm viê ̣c làm; Thứ hai, có mô ̣t đô ̣i ngũ lao đô ̣ng
nhâ ̣p cư có trình đô ̣ chuyên môn kĩ thuâ ̣t tay nghề cao. Tuy nhiên có thể do
thu nhâ ̣p, môi trường làm viê ̣c, các điề u kiê ̣n để thỏa mãn đời số ng tinh thầ n ở
19
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con
người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục. Là
nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con
người. Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được.
Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ
cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không
thể tiến thêm nữa [40].
Căn cứ vào thuyết nhu cầu của Maslow tác giả đã được biết nhu cầu
sinh lý bao gồm có: Ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thỏa mãn về tình dục.
Như vậy nơi ở được coi là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống con người,
nếu mỗi cá nhân không được đảm bảo nhu cầu này thì không thể được đáp
ứng các nhu cầu tiếp theo, đồng thời nhu cầu cơ bản không được đảm bảo thì
cuộc sống không đúng nghĩa với 1 con người. Nhà ở của người lao động nhập
cư trong đề tài nghiên cứu được tác giả quan sát từ các đồ dùng sinh hoạt:
Quạt, bếp, các phương tiện lao động, quần áo…..đều đã cũ, nhiều đồ dùng đã
quá hạn sử dụng nhưng họ vẫn phải dùng; không gian cấu trúc nhà vô cùng
hẹp và thấp, số lượng người sống trong nhà đông, môi trường vệ sinh và
20
không khí hết sức ngột ngạt, chỉ cần có chỗ nghỉ, che mưa che nắng qua đêm
này đến đêm khác, các vấn đề môi trường, đồ dùng, rộng hay hẹp, cao hay
thấp, cơ sở vật chất xuống cấp hay cũ nát đều không cần biết. Như vậy nơi ở
của người lao động còn rất nhiều bất cập. Từ đó có thể thấy nhu cầu nơi ở của
người lao động chưa được đảm bảo ở mức tối thiểu. Nếu nhu cầu này chưa
được đáp ứng thì vấn đề an toàn, xã hội cũng sẽ bị ảnh hưởng đó là tình hình