Đời sống nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội dưới góc nhìn Công tác xã hội” (Khảo sát tại các khu nhà trọ thuộc xã Hải Bối, huyện Đ - Pdf 26


1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
LÊ THỊ THU NGÂN ĐỀ TÀI:
ĐỜI SỐNG NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƢ TẠI
KHU CÔNG NGHIỆP BẮC THĂNG LONG - HÀ NỘI
DƢỚI GÓC NHÌN CÔNG TÁC XÃ HỘI
(Khảo sát tại các nhà trọ trên địa bàn xã Hải Bối
huyện Đông Anh, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI Hà Nội, 2014
2


MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
3. Ý nghĩa của nghiên cứu 16
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 17
5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu 18
6. Phạm vi nghiên cứu 18
7. Câu hỏi nghiên cứu 19
8. Giả thuyết nghiên cứu 19
9. Phƣơng pháp nghiên cứu 19
10. Cấu trúc của luận văn 24
NỘI DUNG CHÍNH 26
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 26
1.1. Các khái niệm công cụ 26
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 28
1.2.1. Tháp nhu cầu của Maslow 28
1.2.2. Thuyết hệ thống và sinh thái 30
1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƢ TẠI
KHU CÔNG NGHIỆP BẮC THĂNG LONG – HÀ NỘI 35
2.1. Đặc trƣng nhân khẩu xã hội của nữ công nhân nhập cƣ 36
2.1.1. Trình độ học vấn 36
2.1.2. Nghề nghiệp trƣớc khi đến khu công nghiệp 38
2.1.3. Quê quán 40
2.1.4. Tình trạng hôn nhân 42
2.1.5. Độ tuổi 45
2.2. Đánh giá cụ thể các khía cạnh đời sống 47
2.2.1. Thu nhập 47

2. Khuyến nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 116 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Trình độ học vấn
Bảng 2.2: Nghề nghiệp trƣớc khi đi làm
Bảng 2.3: Quê quán
Bảng 2.4: Tình Trạng hôn nhân
Bảng 2.5: Phân bố độ tuổi của nữ công nhân
Bảng 2.6: Mức lƣơng
Bảng 2.7: Tiền trọ một ngƣời
Bảng 2.8: Các khoản chi tiêu
Bảng 2.9: Số lƣợng công nhân trong một phòng
Bảng 2.10: Diện tích phòng trọ
Bảng 2.11: Các vật dụng sở hữu
Bảng 2.12: Các loại hình giải trí
Bảng 2.13: Những bệnh thƣờng gặp
Bảng 2.14: Lý do mắc bệnh
Bảng 2.15: Cách chữa bệnh
Bảng 2.16: Mức sống
Bảng 2.17: So sánh cuộc sống hiện tại với trƣớc đó
Bảng 2.18: Nguyện vọng

Giang, Bắc Ninh và Hƣng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ.
Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thế
thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao
thông quan trọng của Việt Nam.
Hà Nội là thủ đô của đất nƣớc, là thành phố có nền kinh tế phát triển đứng thứ
hai trên cả nƣớc sau thành phố Hồ Chí Minh với hàng loạt các khu công nghiệp lớn

7

với vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣ Quang Minh, Bắc Thăng Long, Thạch Thất – Quốc
Oai… Trong thời gian qua Hà Nội luôn là thành phố thu hút nhiều dân nhập cƣ từ
các địa phƣơng khác. Kết quả điều tra dân số ngày 01/4/2009 của Tổng cục thống
kê dân số của Thành phố Hà nội đạt mốc 6.448.837 ngƣời. Đặc biệt trong vòng 4
năm (2008-2011) dân số Hà Nội đã tăng khoảng 43 vạn ngƣời, trong đó tăng dân số
cơ học lên tới 5 vạn ngƣời/năm, chủ yếu thuộc các đối tƣợng trong độ tuổi lao
ộng.Vài ba năm gần đây, số ngƣời nhập cƣ ở Việt Nam ƣớc tính tăng 25-50% và sẽ
tăng đáng kể sau khi nƣớc ta gia nhập WTO [35, tr.5]
Ngân hàng thế giới dự tính: tình trạng nghèo khổ ở đô thị Việt Nam sẽ tập
trung chủ yếu ở nhóm ngƣời nhập cƣ và trong vòng hai thập kỷ tới, mỗi năm sẽ có
khoảng 1 triệu ngƣời rời nông thôn ra thành phố. Đây cũng là những nhận định
trong báo cáo nghiên cứu về ngƣời lao động nhập cƣ ở Việt Nam do Actionaid thực
hiện, công bố trong Ngày gặp mặt tổng kết tháng đoàn kết vì ngƣời nghèo
(4/12/2005) tổ chức tại Hải Phòng.
Kết quả phỏng vấn công nhân từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ ra Hà Nội tìm
việc cho thấy: khi lựa chọn doanh nghiệp vào làm việc, 45% lao động thiếu thông
tin về tiền lƣơng, 40% thiếu thông tin về yêu cầu kỹ năng tay nghề; 55% chƣa hề
đƣợc đào tạo nghề, 36% đƣợc đào tạo nghề may và 8% đƣợc đào tạo các nghề khác;
62% ngƣời ra thành phố làm việc là do gia đình cần tiền, 72% muốn kiếm đƣợc
nhiều tiền hơn ở nhà [35, tr.5]
Với hành trang, trình độ học vấn cũng nhƣ kỹ năng tay nghề hạn chế nhƣ vậy,

cũng có không ít các nghiên cứu về nữ công nhân nhập cƣ. Đây là vấn đề chiếm
đƣợc sự quan tâm từ nhiều các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau: Kinh tế, xã hội, văn
hóa, tâm lý,…Với mỗi lĩnh vực nghiên cứu lại có những cách thức đánh giá, hƣớng
nghiên cứu khác nhau. Nhƣng các nghiên cứu đó đều hƣớng tới việc đi sâu tìm hiểu
về những khó khăn của công nhân gặp phải trong cuộc sống, trong công việc từ đó
có những giải pháp để hỗ trợ cho quá trình sống và làm việc của họ.
- Các nghiên cứu, bài báo, tạp chí
Kim Anh, Nguyễn Tập và Quốc Linh (2004), “Chuyện dài nhiều tập của
công nhân nhập cƣ” . Nhóm tác giả đã nói lên đƣợc thực trạng đời sống của công
nhân nhập cƣ mà đáng chú ý hơn cả là nữ công nhân. Các nữ công nhân đều gặp các
vấn đề từ nhà trọ đến ăn uống hàng ngày, thu nhập, tình cảm, sức khỏe…Họ phải
sống trong các khu nhà trọ ẩm thấp, dột nát, chật hẹp, ăn uống thì tằn tiện vì đồng

9

lƣơng quá ít ỏi. Tình trạng sống thử xảy ra đầy rẫy, không nhận đƣợc sự quan tầm
về mặt sức khỏe từ phía công ty nên nữ công nhân dễ mắc các bệnh: Đau bao tử,
viêm xoang, viêm phụ khoa…
Phan Thị Mai Hƣơng Viện Tâm lý học làm chủ nhiệm (2011), “Báo cáo kết
quả nghiên cứu về công nhân”. Đề tài đã thực hiện khảo sát với những công nhân
trên cả ba miền đất nƣớc về vấn đề kinh tế - xã hội. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng
ngƣời công nhân có sự quan tâm đối với các vấn đề lớn của đất nƣớc nhƣng nhận
thức còn chƣa thực sự đầy đủ, còn có những hạn chế. Các thông tin về những vấn đề
lớn, đƣợc nhiều ngƣời quan tâm đƣợc ngƣời công nhân tiếp nhận chủ yếu qua các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng nhƣ truyền hình, đài, báo chí. Thậm chí ngay cả
việc tiếp thu thông tin qua các phƣơng tiện truyền thông đại chúng cũng không phải
là nhiều, do phần lớn thời gian ngƣời công nhân đành để làm việc, làm tăng ca , do
ngƣời công nhân còn đang phải lo cho cuộc sống hàng ngày, lo kiếm sống. Vì vậy,
thông tin thu đƣợc cũng không phải là nhiều. Bên cạnh đó, trình độ học vấn của
ngƣời công nhân nói chung chƣa cao nên điều này cũng có ảnh hƣởng đến nhận

công nhân di cƣ ở Việt Nam và cung cấp thông tin chính xác về nhận thức, trải
nghiệm và phản ứng của phụ nữ di cƣ đối với bạo lực giới mà có thể đƣợc sử dụng
để hỗ trợ các nỗ lực vận động thông qua xây dựng chính sách và chƣơng trình.
Sáng ngày 3/12/2013, tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt
Nam va
̀

̉
chƣ
́
c Action Aid t ổ chức hội thảo công bố kết quả Đề tài nghiên cứu
“Thực trạng mức sống của lao động nữ nhập cƣ tại các khu công nghiệp, khu chế
xuất (KCN - KCX) hiện nay”. Báo cáo công bố kết quả Đề tài nghiên cứu cho thấy:
Việt Nam có 15 triệu công nhân, lao động đang làm việc trong doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế; gần 2 triệu công nhân, lao động làm việc tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất, trong đó gần 70% là lao động nữ. Sự gia tăng nhanh chóng số
lƣợng công nhân lao động nhập cƣ đã tạo áp lực lớn và những hệ lụy trong đời sống
văn hóa - xã hội ở các địa bàn dân cƣ. Nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc những hạn chế
trong thu nhập của đa số công nhân, trong đó có nữ công nhân nhập cƣ. Họ đã bị
doanh nghiệp chèn ép, sẵn sàng cắt tiền lƣơng khi doanh nghiệp khó khăn và thông
thƣờng chỉ trả lƣơng bằng mức lƣơng tối thiểu. Đứng trƣớc những khó khăn đó nữ
công nhân đã phải đi kiếm các công việc làm thêm khác để tăng thêm thu nhập và
cải thiện cuộc sống.

11

Trung tâm hợp tác phát triển nguồn nhân lực và Actionaid, “Tác động của
khủng hoảng kinh tế tới đời sống, việc làm của công nhân nữ nhập cƣ và nguy cơ
buôn bán ngƣời” . Nghiên cứu này đƣợc thực hiện từ ngày 05/7/2009 tại một số địa
điểm ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, đến ngày 08/9/2009 nghiên cứu

“đói văn hóa” triền mien. Bài viết cũng đã chỉ ra rằng do áp lực về kiếm sống nên
họ đã lãng quên những thứ xa xỉ nhƣ “văn hóa”, đây là bài toán đặt ra cho các cấp
các ngành, chính sách nhà nƣớc.
Báo Nhân dân với bài viết “Ngƣời lao động chật vật với mức lƣơng tối thiểu”.
Trong bài viết tác giải đã nêu đƣợc vấn đề thu nhập thực tế của phần lớn ngƣời lao
động (NLÐ) trong các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) hiện nay còn ở
mức thấp, hầu nhƣ chỉ đủ trang trải cho cuộc sống cá nhân, ít có tích lũy. Ðối với
NLÐ nhập cƣ nói chung và các lao động nữ (LÐN) nhập cƣ đã có gia đình nói
riêng, cuộc sống đang gặp không ít khó khăn do mọi chi phí đều trông vào khoản
lƣơng ít ỏi. Bên cạnh đó tác giải còn đề cập đến vấn đề ngƣời lao động cần doanh
nghiệp xây dựng nhà gửi trẻ để họ an tầm làm việc.
“ Cực lắm đời công nhân”, www.tuoitre.com. Bài viết đã cho chúng ta biết nỗi
cực nhọc của công nhân tại khu công nghiệp Mỹ Phƣớc. Họ phải tăng ca rất nhiều,
thậm chí là làm thâu đêm, nhƣng mức lƣơng mà họ nhận đƣợc chỉ từ 1.200.000
đồng đến 1.600.000 đồng. Với mức lƣơng đó, cuộc sống của công nhân hết sức chật
vật trong điều kiện giá cả ngày một tăng cao. Thêm vào đó, họ còn bị đối xử rất tệ,
cụ thể phải làm việc dƣới cơn nắng.
“Ăn ở, nghe xem đều thiếu thốn”, www.giaoduc.edu.vn, 10/01/2007. Bài viết
phản ánh cuộc sống của công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất: Tân
Bình, Tân Tạo hết sức khó khăn và thiếu thốn. Họ phải sông trong những khu nhà
trọ chật chội và không đảm bảo vệ sinh. Ngoài ra, bài viết cũng đề cập tới vấn đề
nhà ở do doanh nghiệp xây dựng rất ít.
“Đời sống công nhân trƣớc cơn bão giá”, www.quangngai.gov.vn. 21/3/2008.
Bài viết đã cho chúng ta biết cuộc sống vô cùng chật vật của công nhân tại các KCN
Quảng Phong, Tịnh Phong, KCN Phổ Phong tại tỉnh Quảng Ngãi trong “cơn bão”
giá vừa qua. Thức ăn của họ chẳng có gì khác ngoài mấy miếng đậu khuôn, cá kho
mặn và rau muống xào bởi tiền lƣơng quá thấp nên họ chẳng có tiền mà chăm lo
cho sức khoẻ. Tìm cách cải thiện cuộc sống vật chất của công nhân đang là một vấn
đề đáng quam tâm tại tỉnh.


nêu ra đƣợc những kiến nghị đến các cấp nhƣ: Điều chỉnh tăng lƣơng, thiết kế các
khu nhà ở cho công nhân,…

14

Tiểu luận tốt nghiệp của Sinh viên Vũ Thị Khƣơng (Khóa 1992 -1996), Khoa
Phụ nữ học, Đại học Mở bán công Thành Phố Hồ Chí Minh, “ Việc thực hiện luật
Lao động đối với nữ công nhân ở một vài doanh nghiệp nhà nƣớc tại Thành Phố Hồ
Chí Minh”. Đề tài tiểu luận đã nghiên cứu việc thực hiện luật lao động tại hai doanh
nghiệp dệt may. Tiểu luận đã nêu ra đƣợc những thuận lợi và khó khăn trong việc
thực hiện những chính sách lao động cho phụ nữ.
Nguyễn Huyền Lê, Viện Khoa học Lao động và Xã hội trong bài viết “Rủi ro
của lao động di cƣ và một số kiến nghị”, đã chỉ ra đƣợc các khó khăn và rủi ro mà
ngƣời lao động nhập cƣ sẽ phải đối đầu trong quá trình sống và lao động. Rủi ro về
an sinh thấp, nguy cơ bị lừa gạt, khó khăn nhà ở, rủi ro trong suy giảm sức
khỏe,…Thông qua đó tác giả đã đề cập đến những đề xuất nhƣ: Giảm dòng di cƣ tự
do bằng cách phát triển các đô thị vệ tinh tại các vùng nông thôn, tăng cƣờng cung
cấp thông tin cấp xã cho lao động di cƣ, chính quyền nên có các biện pháp hữu hiệu
để đáp ứng nhà ở,…
Luận văn tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Ngọc (Khóa 1997 -2001), Khoa
Phụ nữ học, Trƣờng Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh, “ Khảo sát đời
sống và điều kiện làm việc của lao động nữ nghành dệt may”, ( Điển cứu tại công ty
dệt may Việt Thắng và công ty dệt may Thành Công). Nghiên cứu đã cung cấp
những thông tin về đời sống của nữ công nhân nghành dệt may. Họ thƣờng xuyên
phải làm việc trong điều kiện chật hẹp, nóng bức, bụi bặm, thiếu ánh sang, tăng
ca…Nhƣng đổi lại hàng tháng họ chỉ nhận đƣợc những đồng lƣơng ít ỏi không đủ
để họ có thể có một cuộc sống đảm bảo.
Nguyễn Tín Nhiệm, “Điều kiện lao động của nữ công nhân : Thực trạng và giái
pháp” . Nghiên cứu này đƣợc tiến hành trong vòng 3 năm từ 1995 đến 1997, với việc
khảo sát trực tiếp 1294 doanh nghiệp trên cả nƣớc, về vần đề môi trƣờng lao động.

sách tập trung nghiên cứu về các vấn đề nhƣ cơ cấu công nhân, điều kiện làm việc,
các mối quan hệ trong doanh nghiệp liên doanh. Đồng thời, cũng có đề cập đến cơ
hội thăng tiến nghề nghiệp đối với công nhân trong doanh nghiệp liên doanh so với
các doanh nghiệp khác.
Các tài liệu vừa nêu trên phần lớn đã đề cập đến thực trạng các vấn đề của
công nhân, công nhân nhập cƣ và nữ công nhân nhập cƣ về cuộc sống sinh hoạt
hàng ngày, điều kiện làm việc tại công ty, các chế độ lao động, mức sống, văn hóa

16

Và có một số nghiên cứu đã nghiên cứu cụ thể đời sống của nữ công nhân nhập cƣ
trong nghành dệt may. Nhƣng chƣa có nghiên cứu nào đánh giá đƣợc hậu quả của
thực trạng đời sống nữ công nhân nhập cƣ, cũng nhƣ chƣa có nghiên cứu nào
nghiên cứu độc lập vấn đề đời sống của nữ công nhân nhập cƣ về cả vật chất lẫn
tinh thần. Những nghiên cứu đi trƣớc đã có các khuyến nghị, đề xuất mang tính
chung chung tới các cấp chính quyền nhà nƣớc và chƣa có biện pháp hay cách thức
nào cụ thể cho những khó khăn của nữ công nhân.
Kế thừa kết quả của các nghiên cứu trên, tôi tiến hành nghiên cứu chi tiết cuộc
sống vật chất và tinh thần hiện nay của các nữ công nhân nhập cƣ tại khu công
nghiệp Bắc Thăng Long – Hà Nội, sau đó đƣa ra đánh giá hậu quả của thực trạng đó
mang lại trên cơ sở đó sẽ ứng dụng Công tác xã hội nhóm vào việc hỗ trợ nhằm
nâng cao kỹ năng cho nhóm nữ công nhân. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về nữ
công nhân nhập cƣ trên nhiều khía cạnh khác nhau, nhƣng chủ yếu nghiên cứu nữ
công nhân nhập cƣ trên khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh mà chƣa có nhiều nghiên
cứu nói tới nữ công nhân nhập cƣ trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Đây cũng là một
khu vực tập trung đông đúc các nữ công nhân nhập cƣ do có rất nhiều khu công
nghiệp lớn. Vậy nên việc nghiên cứu về đời sống nữ công nhân nhập cƣ tại khu vực
khu công nghiệp Bắc Thăng Long là một nghiên cứu khá mới. Trọng tâm của
nghiên cứu là đánh giá đƣợc những khó khăn của nữ công nhân nhập cƣ trong cuộc
sống vật chất, tinh thần cũng nhƣ vấn đề chăm sóc sức khỏe hiện nay đang gặp phải

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tƣ liệu tham khảo thông tin học tập
cho các sinh viên ngành xã hội học, đô thị học, công tác xã hội, cũng nhƣ cho các tổ
chức quan tâm tới vấn đề công nhân nhập cƣ nói chung, và nữ công nhân nhập cƣ
nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp thêm số liệu cho các cơ quan đoàn
thể để họ có thể nhận thấy đƣợc những khó khăn mà nữ công nhân nhập cƣ đang
gặp phải một cách cụ thể và rõ nét hơn.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nhằm nhận diện và mô tả thực trạng chung về đời sống của nữ công
nhân nhập cƣ để từ đó có thể chỉ ra đƣợc những khó khăn cũng nhƣ thuận lợi trong
cuộc sống của họ. Kết quả thu thập đƣợc cũng là nền tảng để nghiên cứu đƣa ra
những khuyến nghị gửi các cấp có liên quan góp phần cải thiện đƣợc cuộc sống

18

hiện tại và tạo cơ hội cho nữ công nhân có một cuộc sống ổn định hơn. Với tƣ cách
là nhân viên Công tác xã hội, tác giả sẽ lựa chọn một nhóm nữ công nhân có chung
nhu cầu trợ giúp để áp dụng công tác xã hội nhóm trong việc can thiệp nhằm đáp
ứng nhu cầu của họ.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
 Tìm hiểu những đặc điểm của nhóm nữ công nhân nhập cƣ tại khu công
nghiệp Bắc Thăng Long
 Phân tích đƣợc đời sống của nữ công nhân nhập cƣ tại khu công nghiệp Bắc
Thăng Long qua các khía cạnh về thu nhập, các khoản chi tiêu, nhà ở, chế độ dinh
dƣỡng, tài sản, thời gian tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, vấn đề chăm sóc
sức khỏe, mức độ hài lòng của họ với cuộc sống hiện tại
 Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc cung cấp kiến thức về phòng
tránh thai và nạo hút thai an toàn cho nhóm nữ công nhân nhập cƣ
 Đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp nâng cao chất lƣợng cuộc sống

- Đời sống hiện tại của nữ công nhân nhập cƣ ra sao xét theo các khía cạnh về
đời sống vật chất, tinh thần cũng nhƣ vấn đề chăm sóc sức khỏe?
- Nhân viên Công tác xã hội có thể làm gì để giúp đỡ cho nhóm nữ công nhân
nhập cƣ tiếp cận các kiến thức về phòng tránh thai và nạo hút thai an toàn?
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Nhóm nữ công nhân nhập cƣ tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long đến từ
nhiều vùng miền khác nhau, có trình độ học vấn tƣơng đối thấp, họ xuất thân chủ
yếu từ nông nghiệp hoặc chƣa có việc làm trƣớc khi đến khu công nghiệp, phần lớn
trong số họ chƣa lập gia đình.
- Cuộc sống hiện tại của các nữ công nhân nhập cƣ tại khu công nghiệp Bắc
Thăng Long đang gặp nhiều khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là vấn đề
chăm sóc sức khỏe và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Nhân viên Công tác xã hội có thể vận dụng phƣơng pháp Công tác xã hội
nhóm trong can thiệp, trợ giúp cho nhóm nữ công nhân nhập cƣ về phòng tránh thai
và nạo hút thai an toàn.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phƣơng pháp luận
Với đề tài này sẽ đi sâu phân tích thực trạng đời sống của nữ công nhân nhập
cƣ tại khu công nghiêp Bắc Thăng Long về các khía cạnh đời sống nhƣ: Chế độ ăn,

20

thời gian nghỉ ngơi, công việc, vui chơi giải trí, và đặc biệt quan trọng là tìm hiểu
những mong muốn hiện tại của các chị về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Dựa trên những
thực trạng có đƣợc qua quá trình phân tích sẽ đánh giá hậu quả của những tác động
tiêu cực mà thực trạng đời sống mang lại và đƣa ra nhận định về vấn đề: Các nữ công
nhân nhập cƣ đã đối phó nhƣ thế nào trƣớc những tác động đó? Bên cạnh đó sẽ đánh
giá sự thiết yếu của việc hỗ trợ các nữ công nhân có các chƣơng trình sinh hoạt ngoài
giờ thay vì những hoạt động mang tính lặp đi lặp lại và nghèo nàn. Nói chung, sử
dụng phƣơng pháp luận trong nghiên cứu này nhằm lý giải rõ hơn thực trạng đời sống

đến 30 tuổi chƣa có gia đình, 3 nữ công nhân trên 30 tuổi chƣa có gia đình, 3 nữ
công nhân đã có gia đình. Đối với các phỏng vấn sâu với các nữ công nhân nhập cƣ
ngoài việc thu thập các thông tin liên quan đến đặc trƣng nhân khẩu xã hội của họ
sẽ tập trung thu thập các thông tin nhƣ thu nhập hàng tháng, cảm nhận của họ về
cuộc sống, các mối quan hệ xã hội của họ, họ có điều kiện để có thể nói lên những
suy nghĩ của bản thân về cuộc sống, công việc, nhƣng mong muốn, họ có thể trải
lòng mình một cách thoải mái để nói lên những suy nghĩ của riêng họ. Với việc thực
hiện các phỏng vấn sâu với các nữ công nhân sẽ thu thập đƣợc những thông tin
chính xác hơn, xác thực hơn và đặc biệt là sẽ đƣợc nghe chính bản thân của mỗi
ngƣời nói về họ và về ngƣời khác, từ đó sẽ là cơ sở để phục vụ cho nghiên cứu.
- 10 phỏng vấn sâu với các chủ nhà trọ và hàng xóm của các nữ công nhân
nhập cư
Nghiên cứu thực hiện 5 phỏng vấn sâu với các chủ nhà trọ và 5 phỏng vấn sâu
với hàng xóm của các nữ công nhân. Các cuộc phỏng vấn sâu với các chủ nhà trọ và
hàng xóm nhằm tìm hiểu xem mức độ quan tâm của họ tới cuộc sống và sinh hoạt
của các nữ công nhân ra sau. Cuộc sống hàng ngày của các nữ công nhân diễn ra
nhƣ thế nào: giờ đi làm,, tăng ca, các mối quan hệ, đời sống sinh hoạt cá nhân, sinh
hoạt tập thể,…Họ có những suy nghĩ, cảm nhận nhƣ thế nào về cuộc sống hiện tại
của các nữ công nhân đang thuê trọ hoặc sinh sống gần họ.
- 1 phỏng vấn sâu được thực hiện với người thuộc chính quyền địa phương nơi
các nữ công nhân cư trú.
Với phỏng vấn sâu này nhằm thu thập thông tin liên quan đến việc các nữ
công nhân có giấy đăng ký tạm trú không, phƣờng hay tổ dân phố có tổ chức các
chƣơng trình, hoạt động và có sự tham gia của các nữ công nhân không, chính
quyền địa phƣơng quản lý họ trực tiếp hay thông qua các chủ nhà trọ.

22

 Thảo luận nhóm
Ngoài thu thập thông tin thông qua phiếu trƣng cầu ý kiến và các cuộc phỏng


- Nhóm 3: Những vấn đề của cuộc sống hàng ngày
Đây là chủ đề khá rộng và nên sự tham gia của nhóm là hỗn hợp và tự nguyện,
những chị nào mong muốn tham gia đều trở thành thành viên của nhóm thảo luận.
Nhớ sự phong phú của đối tƣợng tham gia nên sẽ có nhiều nguồn thông tin hơn
đƣợc đƣa ra, sẽ có nhiều chia sẻ hơn và dựa vào đó có thể làm dữ liệu để minh họa
cho nghiên cứu. Mục đích chính của buổi thảo luận về chủ đề cuộc sống hàng ngày
nhằm tìm hiểu những khó khăn gặp phải trong cuộc sống hiện tại của các chị, những
hoạt động văn hóa tinh thần mà các chị thƣờng tham gia. Các chị lý giải tại sao bản
thân và những ngƣời cũng là công nhân nhƣ mình lại gặp những khó khăn đó, qua
đó các chị thử đƣa ra các cách thức để giảm bớt những khó khăn, hay có những
mong muốn nhƣ thế nào đến công ty, đến các cấp có trách nhiệm.
 Quan sát, hình ảnh
Ngoài những phƣơng pháp tiếp cận trực tiếp để lấy ý kiến từ các nữ công nhân
và những ngƣời sống xung quanh họ, nghiên cứu còn sử dụng phƣơng pháp quan
sát và lƣu lại những hình ảnh có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Nghiên cứu sẽ
tiến hành quan sát nơi ăn chốn ở của các nữ công nhân để biết đƣợc rõ hơn về diện
tích cũng nhƣ điều kiện sinh hoạt của họ ra sao. Quan sát những công việc họ
thƣờng thực hiện vào những lúc rảnh rỗi đẻ đánh giá đƣợc một cách khách quan
hơn, xác thực hơn về chất lƣợng đời sống văn hóa tinh thần của các nữ công nhân
tại đây. Bên cạnh đó nghiên cứu sẽ lƣu lại những hình ảnh có liên quan để làm tài
liệu tham khảo cũng nhƣ để mình họa cho những phân tích, đánh giá sẽ thực hiện
trong nội dung nghiên cứu.
9.3. Phƣơng pháp can thiệp
Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp Công tác xã hội nhóm để can thiệp đến
nhóm khách thể nghiên cứu là nữ công nhân nhập cƣ tại khu công nghiệp Bắc
Thăng Long – Hà Nội nhằm cung cấp kiến thức về phòng tránh thai và nạo hút thai
an toàn cho nhóm nữ công nhân. Các thành viên trong nhóm can thiệp sẽ đƣợc nhà
nghiên cứu lựa chọn theo các tiêu chí về độ tuổi, tình trạng hôn nhân, có chỗ trọ
khác nhau và sự tham gia vào nhóm một cách tự nguyện. Nhóm can thiệp đƣợc lựa

các nữ công nhân với cuộc sống bao gồm việc đánh gia mức sống hiện tại và so
sánh cuộc sống hiện tại với trƣớc đó.
Chương 3: Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc cung cấp kiến thức
về phòng tránh thai và nạo hút thai an toàn cho nhóm nữ công nhân

25

Trong chƣơng này tôi sẽ nêu lên mục đích của việc can thiệp chp nhóm nữ
công nhân nhập cƣ, thành lập nhóm can thiệp diễn ra nhƣ thế nào và kết quả đạt
đƣợc ra sao. Sau khi đã thành lập nhóm can thiệp tôi sẽ trình bày cụ thể có phân
tích, đánh giá các hoạt động can thiệp diễn ra trong quá trình thực hiện can thiệp.
Trong mỗi hoạt động đƣợc trình bày cụ thể mục đích của hoạt động, tổ chức hoạt
động đó ra sao, kết quả đạt đƣợc khi kết thúc hoạt động và kết hợp có sự bình luận
trong suốt quá trình phân tích.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status