Tiểu luận vai trò nhà nước về vấn đề an sinh xã hội đối với nông dân - Pdf 35

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Thực tiễn sinh động trong gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã khẳng
định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta là đúng đắn, bước đi là thích
hợp. Sự phát triển kinh tế thị trường đã mang lại cho đất nước những biến đổi sâu
sắc về kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tiến bộ, thu nhập bình quân của người lao động ngày càng cao, đời sống kinh
tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, những hệ luỵ hữu cơ của
sự phát triển kinh tế thị trường như xu hướng phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng
giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị ngày cũng có xu hướng gia tăng.
Để bảo đảm ổn định hệ thống chính trị và sự phát triển bền vững của đất
nước theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đòi
hỏi Nhà nước càng phải xây dựng và phát triển nhanh chóng hệ thống an sinh xã hội
(ASXH), thay cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, nhằm điều hoà các
quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân trong cộng đồng và qua đó điều hoà các
mâu thuẫn xã hội đã, đang và sẽ phát sinh.
Từ khi giành được độc lập, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu với
hơn 80% dân số là nông dân. Mặc dù hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, đất nước đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH, HĐH) nhưng trong một tương lai không gần tỷ lệ ấy cũng chưa thể giảm
xuống dưới 40%. Điều đó nói lên rằng, nông dân vẫn là một lực lượng lao động
hùng hậu và đặc biệt vẫn luôn luôn là lực lượng chính trị xã hội hết sức quan trọng,
bảo đảm ổn định xã hội và an ninh Tổ quốc.
Vì tính chất đặc thù của lao động và sản phẩm lao động nông nghiệp nước ta
chưa cao nên tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào GDP còn thấp, phải chăng vì
vậy mà trong một thời gian dài các nhà hoạch định chính sách đã để quên, để chậm
vấn đề ASXH đối với nông dân, hoặc chỉ tiếp cận vấn đề như là sự thể hiện tính ưu
việt của chế độ XHCN mà chưa đặt nó trong phạm trù quản lý nhà nước?
Đến những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách để giải quyết vấn đề ASXH nói chung và ASXH đối với nông dân nói

3.1. Đối tượng nghiên cứu: là vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân.
Tuy nhiên, vai trò nhà nước về ASXH đối với nông dân có phạm vi rộng. Luận án
này sẽ tập trung vào vai trò nhà nước trong xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế


3
chính sách, tổ chức phối hợp chính sách và tổ chức quản lý, kiểm tra giám sát nhằm
thiết lập hệ thống và tạo các điều kiện đảm bảo cho hệ thống ASXH vận hành.
Về thiết lập hệ thống ASXH, Luận án xem xét hệ thống ASXH theo nguyên
tắc đóng - hưởng và ASXH không dựa trên nguyên tắc đóng góp.
Để tạo lập các điều kiện nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước về ASXH
đối với nông dân, Luận án sẽ tập trung vào phân tích các chủ trương, quan điểm
của Đảng, khả năng kinh tế đảm bảo cho nông dân tham gia và khả năng đảm
bảo tài chính của Nhà nước, về năng lực bộ máy và nhận thức của người nông
dân về ASXH.
Về đối tượng nông dân, Luận án tập trung phân tích đối tượng người nông
dân vùng Bắc Trung Bộ là vùng kinh tế phát triển ở mức trung bình so với cả nước.
Thêm nữa, ở đây có cả người nông dân vùng ven biển, đồng bằng, trung du và miền
núi, nên có thể khảo sát được hầu hết các đối tượng nông dân nước ta.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn cả nước, song số liệu điều tra minh
chứng thông qua điều tra khảo sát ở 3 tỉnh Bắc Trung Bộ là Thanh Hóa, Nghệ An
và Hà Tĩnh.
- Về thời gian: Sử dụng các thông tin, tư liệu từ năm 2000 đến năm 2012, đề
xuất giải pháp cho đến những năm 2020.
4. Những đóng góp của Luận án
- Xây dựng khung lý thuyết vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
thông qua tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, kinh nghiệm thực tiễn của
một số nước.
- Thông qua hệ thống tài liệu thứ cấp từ các bộ, ngành có liên quan và số liệu

xây dựng pháp luật và các thể chế ASXH đối với nông dân.
Theo giáo sư Han Juergen Roesner, trường đại học Cologne của Cộng hòa
Liên bang Đức, mọi người đều có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro trong cuộc sống:
rủi ro tự nhiên (bão lụt, hạn hán...); rủi ro môi trường (ô nhiễm); rủi ro sức khỏe
(dịch tả, ốm đau, bệnh tật); rủi ro vòng đời (tuổi già); rủi ro kinh tế (tai nạn lao
động, khủng hoảng và nghèo đói); rủi ro xã hội (tội phạm, khủng bố, tai nạn giao
thông); và rủi ro chính trị (đảo chính, xung đột sắc tộc, thay đổi thể chế) [103]. Việc
tham gia vào hệ thống ASXH là biện pháp tích cực nhằm giúp cho những cá nhân
giảm thiểu những rủi ro trong cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bền vững của
cộng đồng (J. Ignacio Conde-Ruiz, Jay H. Hong và cộng sự...). [106], [107].
Các nghiên cứu của Martin Gonzalez-Eiras và Dirk Niepelt (2008) [111],
Jean-Olivier Hairault và Francois Langot (2008) [108]... cho thấy chính phủ ở các
quốc gia khác nhau lựa chọn những mô hình ASXH trên nguyên tắc mà Bismarck
hay Beveridge đưa ra tùy thuộc vào chính sách xã hội của từng quốc gia, vào thu
nhập của người dân và thậm chí cả ngân sách nhà nước (NSNN). J. Ignacio CondeRuiz trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng, các quốc gia xây dựng ASXH theo
quan điểm của Beveridge thì có xu hướng những người nhận được hưu trí thường
thấp hơn các quốc gia xây dựng hệ thống ASXH theo quan điểm của Bismarck. Từ
đó J. Ignacio Conde-Ruiz đưa ra kết luận các quốc gia xây dựng hệ thống ASXH
theo quan điểm của Bismarck có sự bất bình đẳng thu nhập thấp hơn so với những
quốc gia xây dựng hệ thống ASXH theo quan điểm của Beveridge [106]. Torben M.
Andersen (2008) chỉ ra rằng, vì tuổi thọ của con người ngày càng dài hơn [115].
Theo dự báo của Liên hợp quốc (UN, 2004; EU, 2006; IMF, 2004) [116], [102],


6
[105], tuổi thọ đang tăng lên ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu
Âu, tuổi thọ trung bình sẽ tăng từ 73,8 năm 2005 lên 81 vào năm 2050, điều này đòi
hỏi các quốc gia phải điều chỉnh lại hệ thống ASXH dựa trên nguyên tắc đóng hưởng. Jon Barnett và cộng sự (2007) chỉ ra rằng, sự biến đổi về điều kiện khí hậu
đem lại những rủi ro ngày càng nhiều hơn cho cuộc sống con người. Vai trò của
chính phủ trong việc khắc phục thiên tai cũng như hỗ trợ những đối tượng bị tác

Ở Hàn Quốc, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống ASXH cho
cả khu vực chính thức và phi chính thức được bổ sung, hoàn thiện theo thời gian.
Hệ thống BHYT đầu tiên được hình thành năm 1963 và dành cho lao động trong
khu vực công chức. Đến năm 1977, các doanh nghiệp có lao động từ 500 người trở
lên đều phải tham dự hệ thống này, từ năm 1979 mỗi doanh nghiệp có từ 300 lao
động trở lên phải tham dự vào hệ thống này và đến năm 1981, cứ từ 100 lao động
trở lên thì doanh nghiệp phải đảm bảo cho lao động được quyền tham gia vào hệ
thống BHYT. Và từ năm 1988 đến nay, cứ có từ 5 lao động trở lên thì doanh nghiệp
phải tham gia vào hệ thống BHYT dù họ làm trong khu vực chính thức hay không
miễn là có hợp đồng lao động. Đối với khu vực phi chính thức, hệ thống BHYT cho
khu vực phi chính thức được ban hành và từ những năm 2000 đến nay Hàn Quốc đã
tiến hành sáp nhập hai hệ thống bảo hiểm cho khu vực chính thức và phi chính thức
với nhau [5].
Đối với Đài Loan, chương trình BHXH cho công chức, công an và bộ đội
được thực hiện từ những năm 1950, hệ thống BHXH này cũng là bắt buộc với các
doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, từ năm
1970 nếu doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên thì chủ các doanh nghiệp phải đảm
bảo cho lao động của họ được tham gia vào hệ thống BHXH. Hệ thống BHYT cho
người nông dân được triển khai từ năm 1989. Cho đến năm 1990 những đối tượng
có thu nhập thấp khác chưa được tham gia và hệ thống BHYT. Đến năm 1995, hệ
thống BHYT cho tất cả các nhóm đối tượng mới được hình thành và đến năm 2005
hệ thống BHYT toàn dân mới được thực hiện [5].
Là một quốc gia có đông dân số bậc nhất thế giới là Trung Quốc, với hơn
800 triệu nông dân, những năm cải cách vừa qua, pháp luật về ASXH của Trung
Quốc cũng đã đặt vấn đề đảm bảo ASXH đối với nông dân dưới các hình thức bảo
BHXH, CTXH, phúc lợi xã hội và tương tế xã hội, cá nhân dành dụm tích lũy để
bảo đảm và phát triển chế độ y tế hợp tác tại nông thôn (BHXHVN 2000) [6].
Thứ hai, những nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước trong việc
phối hợp các chính sách kinh tế - xã hội với chính sách ASXH đối với nông dân.


tiến tới một nền an sinh xã hội kiểu mới” ông đã đề cập đến một loạt những vấn đề
liên quan đến vai trò chính phủ trong công tác tổ chức quản lý ASXH nói chung,
đối với nông dân nói riêng, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý bằng pháp


9
chế đối với hệ thống an sinh, tiến hành phân cấp, phân hạng trong quản lý an sinh,
thành lập ngân hàng ASXH, thiết lập Ủy ban kiểm tra và giám sát quỹ an sinh, thiết
lập chế độ mã hóa ASXH suốt đời cho công dân, điều chỉnh và tăng cường các chức
năng liên quan đến an sinh của Bộ Lao động và An sinh xã hội,… [6].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ ngày càng quan tâm đến các vấn đề xã hội
nói chung, ASXH nói riêng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao
chất lượng cuộc sống cho người dân. Chính vì thế, từ khi tiến hành đổi mới đến nay,
đã có rất nhiều đề tài, chương trình, dự án liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vấn đề
ASXH cho người dân cũng như vai trò của Nhà nước về ASXH đối với người dân
nói chung, trong đó có nông dân đã được thực hiện dưới sự tài trợ của Chính phủ,
các tổ chức quốc tế như UNDP, ILO, World Bank, UNPFA,… Để phù hợp với chủ
đề nghiên cứu này, chúng tôi xin được tổng quan các công trình nghiên cứu trong
nước thành ba nhóm chính như sau:
Nhóm thứ nhất: Những nghiên cứu liên quan về các hình thức tham gia của
nông dân vào ASXH ở Việt Nam.
Các nghiên cứu liên quan đến các hình thức tham gia của nông dân vào hệ
thống ASXH, hay các hợp phần ASXH.
Từ trước đến nay ở Việt Nam những khái niệm về ASXH chủ yếu đi theo
quan điểm của ILO, tuy nhiên tùy vào từng giai đoạn phát triển cụ thể mà các nhà
nghiên cứu có những bổ sung phù hợp với những yêu cầu về ASXH trong quá trình
phát triển của xã hội.
Nguyễn Hải Hữu (2008) đã chỉ ra các hợp phần của hệ thống ASXH bao gồm:
BHXH, BHYT, chính sách việc làm và thất nghiệp, chương trình trợ giúp đặc biệt (thương

Nhóm 3: Bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu cho người
dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông. Tập trung ưu tiên cho
người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, các xã đặc biệt
khó khăn, người dân nông thôn và các đối tượng khác [41, tr.43].
Việc nghiên cứu chuyên sâu về ASXH đối với nông dân được Mai Ngọc Anh
phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình như: An sinh xã hội đối với
nông dân trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (2010) [2], Đảm bảo tài
chính thực hiện an sinh xã hội đối với người cao tuổi khu vực nông thôn Việt Nam
hiện nay (2011) [3]. Trong các công trình này, tác giả đã chỉ ra các hợp phần của hệ
thống ASXH bao gồm: BHXH (bắt buộc và tự nguyện), BHYT (bắt buộc, tự
nguyện và BHYT cho người nghèo), chính sách phát triển thị trường lao động,
ƯĐXH và TGXH (thường xuyên và đột xuất).


11
Trong công trình nghiên cứu về Chính sách an sinh xã hội với người nông
dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)
Nguyễn Văn Nhường (2011) đã cho rằng ASXH gồm 6 hợp phần quan trọng có ảnh
hưởng trực tiếp tới người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp
gồm: (i) Chính sách đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; (ii) Chính sách đào tạo
nghề và giải quyết việc làm; (iii) Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện; (iv) Chính
sách bảo hiểm y tế tự nguyện; (v) Chính sách trợ giúp xã hội; (vi) Chính sách hỗ trợ
xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn [56].
Nhìn chung các quan niệm trên hiểu ASXH theo nghĩa rộng, nhiều chính
sách thuộc về các lĩnh vực chính sách xã hội ngoài ASXH như chính sách việc làm,
thu nhập, giảm nghèo, cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản khác như nhà ở, giáo
dục, y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường và thông tin.
Trong một nghiên cứu khác của Mai Ngọc Cường (2012) về hệ thống
ASXH, tác giả đề cập đến hệ thống ASXH ở phạm vi khác hơn. Theo tác giả hệ
thống ASXH bao gồm ba trụ cột là:

hoàn thiện tổ chức quản lý và cơ chế tài chính cho hoạt động hệ thống ASXH được
vận hành; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý việc vi phạm thực hiện quy định
pháp luật về ASXH; đảm bảo tài chính cho TCXH thường xuyên, ƯĐXH; đảm bảo
tài chính cho những đối tượng theo luật quy định để tham gia BHXH, BHYT; đồng
thời có chính sách hỗ trợ các đối tượng khác, trước hết là nông dân, người lao động
khu vực phi chính thức và người dân tộc thiểu số tham gia vào các chương trình
ASXH, đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế [35, tr.427 - 428].
Cũng theo hướng đó, Nguyễn Trọng Đàm (2012) chỉ ra những năm tới cần
phải “Tăng cường quản lý nhà nước về ASXH, rà soát, đánh giá toàn diện các chính
sách ASXH hiện hành. Tiếp tục thực hiện các chính sách có hiệu quả, điều chỉnh
những chính sách đang còn bất cập và bổ sung một số chính sách mới; tăng cường
số lượng và chất lượng đội ngũ chuyên môn nghiệp vụ và cán sự xã hội; xây dựng
chính sách khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia các dịch vụ xã hội cơ
bản; hiện đại hóa công tác quản lý đối tượng ASXH; xây dựng bộ chỉ số ASXH làm
cơ sở theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện ASXH trong từng thời kỳ và tham chiếu
với quốc tế” [41, tr.45].
Nội dung vai trò của Nhà nước về ASXH còn được trình bày trong một số
công trình nghiên cứu khác như Dương Đăng Chính và Vũ Đình Ánh (2003), với
công trình “Cơ chế và chính sách đối với hệ thống ASXH ở Việt Nam”, khi đề xuất
các kiến nghị về cơ chế, chính sách đối với hệ thống ASXH ở Việt Nam, các tác giả
đã đề cập đến việc hoàn thiện cơ chế tài chính BHXH, cơ chế tài chính BHYT và
đổi mới cơ chế tài chính đối với các quỹ an toàn xã hội khác”; những đề xuất này có
liên quan đến vai trò hoàn thiện cơ chế, chính sách của Nhà nước [28].


13
Trong công trình nghiên cứu của Phạm Trường Giang (2010) về Hoàn thiện
cơ chế thu bảo hiểm xã hội ở Việt Nam tác giả cũng đề cập đến vai trò của Nhà
nước dưới góc độ các giải pháp để hoàn thiện quy định thu, tăng cường quan hệ
công chúng, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát thu BHXH [43].

hội ở Việt Nam [29]; Lê Bạch Hồng (2012), Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế - trụ cột
vững chắc của hệ thống an sinh xã hội [48]; Phạm Xuân Nam (2012), An sinh xã
hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới [53]…
Nhóm thứ ba: Những nghiên cứu về các điều kiện đảm bảo thực hiện vai trò
của Nhà nước trong phát triển hệ thống ASXH ở nước ta.
Một trong những vấn đề liên quan đến điều kiện để nông dân tham gia vào
hệ thống an sinh là vấn đề thu nhập của nông dân. Bởi lẽ, để tham gia hệ thống
ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng, người dân phải có thu nhập ở mức độ nhất
định. Vì thế, nhân tố thu nhập của người dân là điều kiện để người dân chủ động
tham gia vào hệ thống ASXH. Có nhiều nghiên cứu tập trung phân tích tác động của
chính sách việc làm, thu nhập đến đời sống và khả năng đảm bảo an sinh của người
dân. Chẳng hạn, Nguyễn Đình Hương (1998) đã tiến hành phân tích đánh giá thực
trạng lao động việc làm của những người dân không có đất hoặc thiếu đất ở Đồng
bằng sông Cửu Long [49]; tiếp tục tư tưởng này Lê Du Phong (2007) đã đi sâu làm
rõ hơn các giải pháp cho vấn đề việc làm của lao động có đất bị thu hồi để phát triển
các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hay phục
vụ lợi ích quốc gia [57].
Tuy nhiên, việc nông dân tham gia vào các hình thức an sinh không thể tách
rời vai trò của Nhà nước trong trợ giúp về tài chính. Có nhiều nghiên cứu liên quan
đến cơ chế, chính sách trợ giúp để người nông dân tham gia ASXH. Những công
trình đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống ASXH nói chung, ASXH đối với nông dân nói riêng ở nước ta những năm
qua và cũng là tài liệu tham khảo rất tốt cho tác giả để nghiên cứu vai trò của Nhà
nước về ASXH đối với nông dân, chẳng hạn, công trình của Mai Ngọc Cường
(2009) [35] hoặc Mai Ngọc Anh (2010) đã đề xuất đến việc Nhà nước hỗ trợ 50%
mức đóng góp để người nông dân có điều kiện tham gia vào hệ thống ASXH
(BHXHTN và BHYTTN) [2].
Các giải pháp liên quan đến việc tăng cường vai trò của Nhà nước trong công
tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về ASXH cũng đã
được nhiều nghiên cứu đề cập đến, như Nguyễn Trọng Đàm (2012), Phạm Xuân

phải giải quyết:
Thứ nhất, nông dân tham gia vào ASXH dưới những hình thức nào? Hay nói
cách khác, ASXH đối với nông dân bao gồm các hợp phần, những trụ cột nào?
Thứ hai, thực trạng xây dựng luật pháp an sinh và các thể chế chính sách để
nông dân tham gia vào hệ thống này đạt được như thế nào, đã phù hợp hay chưa
phù hợp?


16
Thứ ba, những hạn chế của vai trò nhà nước về ASXH đối với nông dân hiện
nay là gì? Nhà nước cần phải tiếp tục làm gì để ASXH đi vào thực tế cuộc sống của
nông dân?
1.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1. Cách tiếp cận
Để thực hiện mục tiêu đặt ra trong nghiên cứu này, các cách tiếp cận của
Luận án như sau:
Từ lý luận đến thực tế: Luận án tiến hành nghiên cứu các cách tiếp cận khác
nhau của các nhà khoa học, các tổ chức trong và ngoài nước về ASXH, từ đó chỉ ra
những mô hình đảm bảo ASXH cho người dân của các quốc gia khác nhau trên thế
giới, các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống này, rút ra các bài học
cho Việt Nam. Trên cơ sở phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước về ASXH đối
với nông dân Việt Nam, qua thực tiễn ba tỉnh miền Trung giai đoạn 2006-2010, kết
hợp với bài học kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, Luận án sẽ đưa ra các
giải pháp để tăng cường vai trò của Nhà nước về ASXH đối với đối tượng này trong
giai đoạn tới.
Từ khái quát đến cụ thể: Để làm rõ vai trò của Nhà nước về ASXH đối với
nông dân Việt Nam, Luận án tiến hành nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất của hệ
thống ASXH, các trụ cột của hệ thống này mà nông dân tham gia, nội dung và điều
kiện thực hiện vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân. Đồng thời, để
minh họa cho thực tiễn thực hiện vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân

ASXH đối với nông dân. Luận án sẽ phân tích quá trình phát triển hệ thống các văn
bản pháp luật và các chính sách liên quan đến ASXH nói chung, đối với nông dân
nói riêng.
Thứ hai, Nhà nước xây dựng và phối hợp chính sách ASXH với các chính
sách kinh tế - xã hội khác như: ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ sản xuất
nông nghiệp, việc làm, thu nhập, XĐGN.
Thứ ba, Nhà nước kiểm tra giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về ASXH đối với nông dân.
1.2.2.2. Các nhân tố đảm bảo vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân
Về các nhân tố đảm bảo vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
Luận án tập trung vào các nhóm vấn đề sau:
Thứ nhất, quan điểm của Nhà nước về phát triển hệ thống ASXH đối với
nông dân.


18
Thứ hai, khả năng ngân sách để đảm bảo cho nông dân tham gia vào ASXH
theo nguyên tắc đóng - hưởng, cũng như tài trợ của Nhà nước.
Thứ ba, năng lực của bộ máy quản lý về ASXH nói chung, đối với nông dân
nói riêng. Ở đây Luận án đề cập đến bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý ASXH đối với
nông dân.
Thứ tư, nhận thức xã hội và các biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức
xã hội về ASXH đối với nông dân.
1.2.2.3. Các tiêu chí đánh giá vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với
nông dân
Để đánh giá vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân, chúng tôi sử
dụng hai nhóm tiêu chí:
Nhóm thứ nhất: là các tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện các nội dung của
vai trò nhà nước, cụ thể là:

cho rằng, ở Việt Nam, do đặc thù là một nước đang phát triển, dân số sống chủ yếu
trong lĩnh vực nông nghiệp, đời sống người nông dân còn nghèo, nên mức độ bao
phủ của hệ thống ASXH đối với nông dân cũng mang những nét đặc thù riêng; nó
không chỉ phản ánh mức độ tham gia của người nông dân vào hệ thống BHYTTN
và BHXHTN, mà còn phản ánh sự tham gia của người nông dân vào các chương
trình TGXH, XĐGN và tiếp cận tới các dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, trong
Luận án này tác giả chú ý đến các chỉ số về BHXHTN, BHYTTN và TGXH đối với
nông dân. Từ đó, để đo mức độ bao phủ của hệ thống ASXH đối với nông dân Việt
Nam, Luận án dùng các chỉ số sau:
+ Chỉ số bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với nông dân, đó là tỷ lệ
phần trăm người nông dân độ tuổi từ 15 trở lên tham gia BHXHTN.
Cbhxhnd =

S bhxhnd
x 100
Dld

(1)

Trong đó:
Cbhxhnd: Chỉ số bao phủ của BHXHTN đối với nông dân năm (y)
Sbhxhnd: Số nông dân tham gia BHXHTN tại thời điểm nghiên cứu năm (y).
Dld: Số nông dân độ tuổi từ 15 trở lên tại thời điểm nghiên cứu năm (y).
+ Chỉ số bao phủ bảo hiểm y tế tự nguyện đối với nông dân, đó là tỷ lệ phần
trăm người nông dân tham gia BHYTTN.


20

Công thức tính như sau: Cbhytnd =

- Mức độ tác động của hệ thống ASXH đối với nông dân. Mức độ tác động
của hệ thống ASXH đối với nông dân phản ánh trước hết thông qua chỉ số mức độ
hưởng lợi của người nông dân sau một thời gian thực hiện chương trình. Đó là tỷ lệ
người được tiếp cận tới hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản khu vực nông thôn, số người
thoát nghèo và tình hình tăng thu nhập của người nông dân.
Mức độ tác động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng và
tính hiệu quả của các hoạt động TGXH mà Nhà nước thực hiện nhằm bảo vệ những
đối tượng gặp rủi ro về kinh tế có được mức sống ít nhất ngang bằng với mức sống
tối thiểu của cộng đồng dân cư. Công thức để tính mức hưởng lợi từ việc tham gia
vào hệ thống ASXH của người dân được thể hiện như sau:
IPjy =

TC jy
MS y

x 100

Hay

IPjy =

LH jy
MS y

x 100

(4)


21

- Mức độ đầy đủ,

sách về ASXH

đồng bộ, phù hợp của
chính

hệ thống pháp lý

Phối

hợp

Khả năng ngân sách

sách

ASXH

với

- Hiệu quả, hiệu lực

của Nhà nước và

các chính sách xã

của phối hợp chính

nông dân

những thuận lợi, khó khăn trong thực thi vai trò của Nhà nước trên phạm vi cả nước
cũng như ở 3 tỉnh miền Trung, những cơ hội, thách thức trong việc đạt được mục
tiêu đảm bảo an sinh trong giai đoạn tới, từ đó tìm ra mô hình ASXH phù hợp đối
với nông dân ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn 3 tỉnh miền Trung nói riêng;
phân tích và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đền sự phát triển bền vững của hệ thống
ASXH đối với nông dân, từ đó chỉ ra những nguyên tắc cần phải thực hiện để đạt
được mục tiêu đặt ra.
1.2.3.2. Phương pháp định lượng
Cùng với phương pháp định tính Luận án còn sử dụng phương pháp định lượng
cho quá trình phân tích đánh giá và đưa ra các đề xuất kiến nghị nhằm đảm bảo ASXH
cho nông dân Việt Nam. Qua phương pháp định lượng, Luận án sẽ làm rõ mối quan hệ
giữa việc hoàn thiện môi trường luật pháp, cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý, nâng
cao nhận thức với việc phát triển của hệ thống ASXH đối với nông dân.
Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu theo phương pháp trên, Luận án tiến
hành thu thập dữ liệu các số liệu thứ cấp từ các báo cáo của Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Cục Bảo trợ Xã hội, Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ và của các địa phương như
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh... để có những số liệu tổng quan về tình hình vai trò
của Nhà nước trong phát triển hệ thống ASXH đối với nông dân.
Bên cạnh bộ dữ liệu thứ cấp, Luận án còn tiến hành thu thập các dữ liệu sơ
cấp để có những đánh giá chi tiết, cụ thể hơn về vai trò của Nhà nước trong phát
triển hệ thống ASXH đối với nông dân và tiến hành điều tra tại ba tỉnh Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh. Câu hỏi điều tra đối với bộ tài liệu sơ cấp được chia thành hai
nhóm đối tượng trả lời phỏng vấn.


23
Thứ nhất, đối với nhóm đối tượng là những người nông dân, Luận án đã tiến
hành điều tra và thu thập được ý kiến trả lời của 258 nông hộ ở 3 tỉnh Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh thuộc các huyện khá, trung bình và nghèo, phân theo các khu vực

24
phẩm; chính sách thuế, phí và các khoản đóng góp sản xuất; chính sách đào tạo
nghề cho nông dân; chính sách XĐGN...
Ngoài thu nhập của nông hộ và nguồn tài chính từ NSNN, việc xây dựng và
hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân còn chịu tác động của một loạt nhân tố
khác như môi trường luật pháp, cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý, phối hợp thực
hiện và nhận thức của người nông dân về hệ thống ASXH.
- Họ có tham gia vào bất kỳ hình thức bảo hiểm nào hay không? Nếu tham
gia thì thời gian được bao lâu?
- Để đánh giá vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ, khuyến khích người dân
tham gia vào hình thức an sinh đóng - hưởng, câu hỏi điều tra hỏi về đối tượng điều tra
có biết đến thông tin, lợi ích và quyền lợi khi tham gia bảo hiểm không? Khi đã tham
gia, thì lợi ích có tốt không? Còn nếu chưa tham gia thì đâu là lý do quan trọng nhất.
Đối tượng tham gia đề nghị cơ chế hỗ trợ về phí tham gia từ phía Nhà nước nên là bao
nhiêu % thì hệ thống này sẽ hoạt động được. Thêm vào đó, bộ câu hỏi phỏng vấn còn
tập trung làm rõ thu nhập của nông hộ, các nguồn hình thành thu nhập của nông hộ để
biết xem tỷ lệ tham gia bảo hiểm trên mức thu nhập của nông hộ ra sao.
2) Với các chương trình trợ giúp. Để đánh giá vai trò của Nhà nước trong
việc xây dựng và thực hiện các chương trình TGXH, bộ câu hỏi điều tra đối với
nông dân tập trung làm rõ giá trị các khoản trợ giúp mà mỗi cá nhân nhận được.
Ngoài ra, câu hỏi phỏng vấn cũng tập trung vào các đánh giá của người dân về các
cơ chế trợ giúp hiện hành bằng tiền mặt và thông qua các chương trình phát triển thị
trường lao động nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo.
Thứ hai, đối với nhóm đối tượng là cán bộ quản lý, Luận án phỏng vấn 197
cán bộ thông qua phiếu điều tra. Các đối tượng điều tra là những người làm việc ở
các sở của tỉnh, các phòng của huyện và cán bộ xã có liên quan đến vấn đề ASXH.
Bộ câu hỏi tập trung vào việc làm rõ mức độ phù hợp của chương trình an sinh hiện
hành cho nông dân, nhận thức của cán bộ quản lý đối với hiệu quả của hoạt động
truyền thông về an sinh đến người dân, những khó khăn, vướng mắc làm hạn chế sự
chủ động tham gia của người dân vào hệ thống an sinh chủ động; nhận định của cán

1.3. Trung du, miền núi

3

33,3

2. Tổng số xã

27

100,00

2.1. Xã khá

9

33,3

2.2. Xã trung bình

9

33,3

2.3. Xã nghèo

9

33,3


102

39,53

4.4. Hộ cận nghèo

31

12,02

4.5. Hộ nghèo

39

15,12

237

100,00

5.1. Số có trình độ văn hóa dưới 8/10 hoặc dưới 10/12

116

48,95

5.2. Số có trình độ văn hóa từ 8/10 hoặc từ 10/12

121



5. Trình độ văn hóa chủ hộ

6. Lĩnh vực sản xuất kinh doanh
6.1. Thuần nông
6.2. Hỗn hợp
7. Tổng số cán bộ quản lý được điều tra
7.1. Cán bộ tỉnh
7.2. Cán bộ xã và huyện

Nguồn: Kết quả điều tra, khảo sát của tác giả



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status