Cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ ÁNH DƯƠNG

CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮK LẮK - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ ÁNH DƯƠNG



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………...

01

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
……………………………………………………………………..…
1.1. Khái niệm, đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự …....….………
1.2. Các yếu tố tác động đến cưỡng chế thi hành án dân sự ………………...

09
09
16

1.3. Nội dung các quy định pháp luật hiện hành về cưỡng chế thi hành án dân
sự ……………………………………………………………………...

23

Chương 2: THỰC TRẠNG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG …………..

52

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn
huyện Krông Nô ……………..……………….…………………………….
2.2. Thực trạng cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn huyện Krông Nô


Nhằm hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực thi hành án dân sự, ngày 14/11/2008,
tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa XII
đã thông qua Luật thi hành án dân sự (có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/7/2009). Đây là văn bản quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan Thi
hành án dân sự thực hiện tốt hơn vai trò, nhiệm vụ của mình trong hoạt động
tư pháp nói chung và quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của
Tòa án nói riêng. Trên cơ sở các quy định của Luật Thi hành án dân sự năm
2008, Tổng cục Thi hành án dân sự đã tham mưu cho Bộ Tư pháp ban hành
và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc phối hợp với các Bộ,
ngành có liên quan ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Luật Thi hành án dân sự, từ Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
Thông tư, Thông tư liên tịch đến các văn bản quy phạm pháp luật trong nội bộ
Ngành, cơ quan Thi hành án dân sự. Sau 05 năm thi hành, Luật Thi hành án
dân sự đã phát huy được hiệu quả trong thực tế cuộc sống, tuy nhiên bên cạnh
đó cũng đã bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế, bất cập, thậm chí yếu kém cần
được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Ngày 25/11/2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01/7/2015. Để có hướng dẫn kịp thời trong việc thực hiện các
điều luật được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung, ngày 18/7/2015,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ - CP quy định chi tiết và

1


hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, một số
quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nhằm tạo
thuận lợi cho người dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình; tạo thuận lợi cho cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên trong
việc thực hiện nhiệm vụ được giao; đồng thời bảo đảm nguyên tắc người phải

việc nghiên cứu để đưa ra các luận giải khoa học nhằm đổi mới công tác quản
lý thi hành án (kể cả dân sự và hình sự) theo hướng gọn đầu mối đã được đề
ra trong các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam và định hướng cải cách
tư pháp ở nước ta. Hơn nữa việc nghiên cứu của đề tài được thực hiện trong
bối cảnh Bộ Chính trị chưa ban hành Nghị quyết số 49 về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020.
- Đề tài cấp Nhà nước KX 04-06 về "Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn
thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà
án trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân" do TS. Uông
Chu Lưu làm chủ nhiệm. Đề tài đi sâu vào nghiên cứu các yêu cầu của cải cách
tư pháp, hệ thống các thủ tục tư pháp như điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
nhưng với mục tiêu chung nhất là để nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của
toà án trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân.
- "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt
Nam hiện nay" của Nguyễn Quang Thái đã nghiên cứu về THADS dưới góc
độ pháp chế XHCN.
- "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay" của
Nguyễn Thanh Thủy. Đây là đề tài nghiên cứu khá sâu về cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật THADS.
- "Hiệu quả áp dụng pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam" của
Đặng Đình Quyền. Đây là đề tài nghiên cứu về THADS dưới góc độ lý luận
và thực tiễn về áp dụng pháp luật.

3


Ngoài ra, còn có các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành của
các chuyên gia, các nhà nghiên cứu khoa học như: "Pháp lệnh thi hành án sự
năm 2004 với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án" của tác
giả Nguyễn Thanh Thuỷ, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề về

năm 2020, trên các diễn đàn nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế cũng đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết bình luận, đánh giá về lĩnh vực thi
hành án nói chung, THADS nói riêng. Đây là những công trình nghiên cứu có
tác động tích cực liên quan đến hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác
thi hành án, nhất là THADS ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận về
cưỡng chế THADS, nội dung của chế định cưỡng chế THADS; nhận diện được
những hạn chế, bất cập của chế định này và các tồn tại, vướng mắc trong thực
tiễn thực hiện chúng. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những
hạn chế, bất cập, vướng mắc, tồn tại đã nhận diện, góp phần giải quyết các khó
khăn, vướng mắc đặt ra trong công tác THADS trên địa bàn huyện Krông Nô,
tỉnh Đắk Nông hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định
trên những khía cạnh sau:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cưỡng chế THADS như khái
niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở của cưỡng chế THADS.
+ Phân tích, đánh giá những quy định của Luật THADS về cưỡng chế
THADS.
+ Khảo sát tình hình thực hiện cưỡng chế THADS tại huyện Krông Nô,
tỉnh Đắk Nông hiện nay.

5


+ Tìm ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cưỡng chế
THADS trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Phương pháp so sánh;
+ Phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống hóa các vấn đề lý
luận về THADS; Làm rõ được đặc điểm, ý nghĩa, nội dung của cưỡng chế
THADS và cơ sở của việc quy định biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
(BPCC THADS).
- Ý nghĩa thực tiễn
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng các quy định của Luật THADS về
cưỡng chế THADS và thực tiễn thực hiện.
- Đề xuất được những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện
những quy định của pháp luật về cưỡng chế THADS.
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác thi hành án dân sự tại
địa phương trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cưỡng chế thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực trạng về cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn
huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm cưỡng chế thi hành án dân
sự trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự

hành tại Việt Nam;
đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc
cạnh tranh mà sau ba mươi ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật
đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;
e) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
g) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được
thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:
a) Bản án, quyết định cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ
cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc
bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần,
nhận người lao động trở lại làm việc;
b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời [41, tr.1].
Như vậy: Cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện có nhiệm vụ, quyền
hạn được quy định tại Điều 16 Luật THADS [41, tr.9] như sau:
Thứ nhất: Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định: (i) Bản án,
quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có
trụ sở; (ii) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án,
quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện có trụ sở; (iii) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh
đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện nơi
cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; (iv)) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án thi hành án
dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quan khu ủy thác.

9


Thứ hai: Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm
quyền theo quy định của Luật này.

của một cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.
Từ cách hiểu trên, trong THADS Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật có được thi hành nghiêm chỉnh, dứt điểm hay không; kỷ cương
pháp luật có được tôn trọng; lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể, của
các tổ chức xã hội và mọi công dân có được bảo đảm hay không phụ thuộc
nhiều vào kết quả của việc thi hành án.
Với tính chất dân sự của mình, thi hành án dân sự là quá trình thực hiện
các quyền, nghĩa vụ dân sự (chủ yếu là các quyền, nghĩa vụ về tài sản) của
các bên đã được bản án, quyết định của Tòa án ghi nhận. Trong thi hành án
dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thoả thuận với nhau nhằm
thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Tự
nguyện thi hành án đã trở thành như một nguyên tắc, biện pháp quan trọng
trong hoạt động thi hành án dân sự.
Thuyết phục để các bên tự nguyện thi hành án là nhiệm vụ của Chấp
hành viên, của cơ quan thi hành án trong quá trình tổ chức thi hành án. Thuyết
phục trong thi hành án dân sự bắt nguồn từ việc các bên đương sự có quyền tự
nguyện thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được bản án, quyết định ghi
nhận, thể hiện ý chí của các bên đương sự nhằm thi hành bản án, quyết định
của Tòa án.
Tuy vậy, khi người phải thi hành án đã được giải thích, thuyết phục,
mặc dù có điều kiện thi hành án mà tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh để không
tự nguyện thi hành, thì buộc cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng chế thi
hành. Cưỡng chế thi hành án thể hiện quyền năng của cơ quan thi hành án,
bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo bản án được thi
hành nghiêm chỉnh, đúng pháp luật.

11


Theo quy định, sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án do Chấp

nộp đơn yêu cầu THADS. "Theo yêu cầu của bên có quyền lợi, nhà nước phát
động quyền cưỡng chế thi hành và việc thực hiện quyền lợi của bên có quyền
sẽ tất yếu làm tổn hại đến vùng lợi ích của bên có nghĩa vụ”.... Đặc trưng này
thể hiện, pháp luật không cho phép người được thi hành án và những người có
quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan, tự dùng sức mạnh bạo lực để buộc bên có
nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho mình.
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được chấp hành viên
áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án
nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của
Tòa án.
Chấp hành viên là công chức, được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức
thi hành các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành. Việc pháp luật
quy định cụ thể như vậy vừa để tránh tình trạng các đối tượng khác lạm dụng
việc thi hành án để làm ẩu hoặc gây áp lực đối với người phải thi hành án, mặt
khác tăng cường tính trách nhiệm cá nhân của CHV khi tổ chức hoạt động
này. Là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành án các bản án, quyết
định dân sự của Tòa án, khi thực hiện nhiệm vụ CHV chỉ tuân theo pháp luật,
chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ. CHV khi tiến
hành hoạt động thi hành án chỉ được thực hiện những gì pháp luật cho phép
và phải tuân theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thi hành án.
Thứ ba, đối tượng của cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc
hành vi của người phải thi hành án.
Mục đích chính của hoạt động THADS đó là bảo vệ quyền lợi. Và như
vậy, khi bảo vệ quyền lợi của bên được thi hành án tất yếu sẽ tác động đến
quyền lợi của bên phải thi hành án. Trong số những quyền mà bên phải thi
hành án buộc phải thực hiện hoặc chuyển giao cho bên được thi hành án chủ

13



Bản án, quyết định của Toà án nhân danh Nhà nước không chỉ có hiệu
lực pháp lý đối với người được thi hành án, người phải thi hành án, người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đối với cơ quan THADS mà đối với tất cả các
cơ quan tổ chức và mọi cá nhân. Vì vậy, trách nhiệm tôn trọng và thi hành
nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án là trách nhiệm của tất cả mọi
người trong xã hội. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp
và Điều 19 Bộ luật tố tụng dân sự nước cộng hòa XHCN Việt Nam đó là:
”1 Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải
được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
2 Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án và cơ
quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của
Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp
luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.3 Tòa án có quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án thông báo tiến độ, kết quả thi hành bản án, quyết
định của Tòa án. Cơ quan thi hành án trực tiếp tổ chức thi hành
bản án, quyết định của Tòa án có trách nhiệm trả lời cho Tòa án
[42, tr.6].
Điều này cũng loại bỏ tư tưởng coi việc thi hành án bản án, quyết định
của Toà án là trách nhiệm của cơ quan thi hành án và khoán trắng cho cơ
quan này thực hiện.
1.2. Các yếu tố tác động đến cưỡng chế thi hành án dân sự
Theo từ điển tiếng Việt thì: Bảo đảm là làm cho chắc chắn thực hiện
được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết 48, tr.38]. Như vậy, các
yếu tố bảo đảm cưỡng chế THADS là những yếu tố, những điều kiện cần thiết
để pháp chế trong hoạt động này chắc chắn thực hiện được. Có thể kế đến các
yếu tố sau:

15

16


thuộc vào việc cơ quan đó thuộc hệ thống hành pháp hay là cơ
quan do lập pháp bầu ra. Trong lĩnh vực hình sự hay dân sự quyền
tư pháp chỉ vận hành khi có hành vi, tranh chấp xâm hại đến các
giá trị PL, trật tự PL; mục tiêu bảo vệ PL của quyền tư pháp được
hoàn thành khi các giá trị và trật tự PL đó được khôi phục trên thực
tế. Thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp căn cứ trên một
bản án, quyết định cụ thể của Toà án liên quan đến những hành vi,
tranh chấp cụ thể chứ không phải hoạt động chấp hành - điều hành
mang tính quản lý nhà nước chung. Hoạt động thi hành án gắn liền
với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở các giai đoạn
trước đó nhưng bản thân hoạt động thi hành án không phải là hoạt
động tố tụng vì đây không phải là hoạt động chứng minh, xác định
bản chất sự việc, xác định tính hợp pháp, tính đúng đắn của các
loại tranh chấp mà chấp là hoạt động chấp hành, thi hành PL, thực
hiện phán quyết, quyết định của toà án. Bằng kết quả thi hành án
một cách đúng đắn, đầy đủ, đúng PL, các quyền và lợi ích hợp pháp
bị xâm hại được khôi phục trên thực tế, trật tự PL được giữ vững,
niềm tin của người dân vào sức mạnh và hiệu quả của quyền lực
nhà nước, vào công lý và công bằng xã hội mới được nuôi dưỡng,
duy trì, củng cố, tạo nên sự ổn định xã hội. Như vậy, hoạt động
THADS và thi hành án hình sự là hoạt động hành chính - tư pháp,
các cơ quan THADS và thi hành án hình sự thực hiện chức năng
chuyên trách bảo vệ PL phải thuộc vào hệ thống cơ quan tư pháp,
dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ về công tác thi hành án”
[52, tr.35].
Việc xác định cơ quan THADS là cơ quan thực hiện chức năng chuyên
trách bảo vệ PL phải thuộc vào hệ thống cơ quan tư pháp là có cơ sở. Bởi vì,

18


Thứ hai: Bảo đảm sự phân công, phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan
nhà nước với nhau trong hoạt độngTHADS. Liên quan đến vấn đề này, Văn
kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: "Nhà nước ta là Nhà nước
pháp quyền XHCN. Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm
nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp"...., tr.45. Yêu cầu này càng
thể hiện rõ trong việc bảo đảm thực hiện pháp chế trong hoạt độngTHADS.
Bởi vì, hoạt động cưỡng chế THADS không chỉ là hoạt động riêng của cơ
quan THADS mà đòi hỏi sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan điều tra,
truy tố, xét xử và kể cả thi hành án hình sự. Chưa kể hoạt động cưỡng chế
THADS có liên quan đến hầu hết tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ví
dụ như liên quan đến đất đai, tài sản, phương tiện giao thông… Đây đều là
những vấn đề có liên quan mật thiết và giữ vai trò quyết định trực tiếp đến
việc thực hiện cưỡng chế THADS, song lại do rất nhiều các cơ quan ban
ngành khác nhau của Nhà nước tham gia thực hiện. Vì vậy, nếu không có sự
phối hợp thật tốt giữa các cơ quan nhà nước khác đối với cơ quan thi hành án
thì cưỡng chếTHADS sẽ không được thực hiện.
Thứ ba: Phát huy vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc bảo
đảm pháp chế. Đặc trưng của hệ thống chính trị ở nước ta là một đảng duy
nhất cầm quyền, trong khi đó bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh bản án, quyết
định của Toà án là một trong những nội dung cơ bản của quá trình cải cách tư
pháp ở nước ta, vì vậy, không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn
trong thời gian qua, dưới sự Lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác
THADS nói chung và việc cưỡng chế THADS nói riêng ngày càng thu được
những thành quả quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước.


20


“THADS là công việc có nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng có ý
nghĩa rất quan trọng trong bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích
của công dân, duy trì kỷ cương phép nước. Việc thi hành án tác
động trực tiếp đến các lợi ích vật chất và tinh thần của người phải
thi hành án và người được thi hành án, đến danh dự, uy tín của
những người này và của gia đình họ” [38, tr.5].
Vì vậy, THADS nói chung và cưỡng chế THADS nói riêng từ mỗi gia
đình sẽ là cơ sở quan trọng, quyết định việc bảo đảm cưỡng chế THADS
thành công hay thất bại. Vai trò của gia đình trong việc thực hiện pháp luật có
thể bắt đầu từ một người sau đó sẽ được lan toả đến tất cả mọi thành viên
trong gia đình. Muốn thực hiện được điều này thì khâu giáo dục và nâng cao ý
thức của mỗi cá nhân gia đình trở thành chìa khóa của sự thành công trong
hoạt động THADS.
Thứ hai: Yếu tố ngoài xã hội: Yếu tố quan trọng đầu tiên ở đây đó là
yếu tố làng, xã, thôn, bản của con người Việt Nam. Cho đến nay ở nước ta,
vẫn có tới 70 - 80% dân số của cả nước sống bằng nghề nông nghiệp và sống
chủ yếu ở vùng nông thôn (nhất là ở địa bàn tỉnh Đắc Nông). Vì vậy, làng xã
từ lâu đã trở thành như một thể chế bền vững, tồn tại cùng với chiều dài của
lịch sử dân tộc. Theo các nhà nghiên cứu khoa học xã hội thì yếu tố làng xã
thường thể hiện rõ mối quan hệ cộng đồng, trong đó ít thấy quan hệ trực tiếp
giữa cá nhân với các cộng đồng lớn mà thông qua gia đình, họ tộc. Công cụ
chủ yếu để điều chỉnh mối quan hệ trong làng xã dựa vào dư luận, thái độ
khích lệ, chê bai. Tập thể có vai trò lớn đối với việc thực hiện PL và các chủ
trương chính sách của Nhà nước.
Theo TS. Đào Ngọc Tuấn thì:
"Xét về mặt hành chính, làng xã giữ vai trò như mắt khâu trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status