VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN QUỐC CƢỜNG
QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN QUỐC CƢỜNG
QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LƢƠNG THANH CƢỜNG
nước và Pháp lu t, H c viện hành chính quốc gia, n ười
thầy đã trực tiếp ướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, giúp đỡ tôi
hoàn thành lu n v n n y.
Với tình cảm
ân t n , tô x n được gửi lời cảm n đến Lãn đạo
Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần
Giuộc ùn đồng nghiệp tron
qu n, bạn đồng h
v
đìn đã t n tình
úp đỡ để tôi hoàn thành việc thu th p và xử lý thông tin, số liệu phục vụ quá
trình nghiên cứu của mình./.
Lon An, n
y 30 t án 7 n m 2017
Trần Quốc Cường
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trần Quốc Cường, sinh ngày 20/9/1982, là học viên cao học
ngành: Luật học, chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính, khóa VI
3.1. Định hướng bảo đảm quản lý tài sản công tại cơ quan thi hành án dân sự
từ thực tiễn tỉnh Long An ................................................................................ 65
3.2. Giải pháp đảm bảo quản lý tài sản công tại cơ quan thi hành án dân sự từ
thực tiễn tỉnh Long An .................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình sử dụng đất của các cơ quan thi hành án dân sự
tỉnh Long An giai đoạn 2014 - 2016
Bảng 2.2. Chất lượng tài sản cố định là trụ sở, vật kiến trúc của các cơ
quan thi hành án tinh Long An năm 2016
Bảng 2.3. Tài sản là phương tiện vận tải của các cơ quan thi hành án
dân sự tỉnh Long An từ 2014 -2016
Bảng 2.4. Tài sản là máy móc thiết bị của các cơ quan thi hành án dân
sự tỉnh Long An từ năm 2014 – 2016
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài sản công là điều kiện vật chất cơ bản, giữ vị trí quan trọng đảm bảo
hoạt động của bộ máy nhà nước, an ninh, quốc phòng, sự nghiệp kinh tế - xã
hội của đất nước. Riêng trong lĩnh vực Thi hành án dân sự, trong những năm
qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết và các luật liên quan đến
cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan thi
hành án dân sự nói riêng. Đặc biệt chú trọng đến việc tăng cường đầu tư cơ sở
vật chất cho các cơ quan thi hành án dân sự, như: Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác
tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
những mục tiêu, quan điểm, cách đánh giá khác nhau.
Cho đến thời điểm hiện tại, vấn đề quản lý tài sản công thu hút sự quan
tâm không chỉ các nhà quản lý mà cả giới nghiên cứu kinh tế, luật gia. Nhiều
công trình nghiên cứu đã được xuất bản, hoặc bảo vệ thành công. Trong đó
điển hình là: Đề tài nghiên cứu khoa học bảo vệ năm 2013: “Hoàn thiện cơ
chế quản lý nhà công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước” của PGS.TS.
Nguyễn Ngô Thị Hoài Thu tại Trường Đào tạo cán bộ tài chính. Ngoài ra,
giáo trình Quản lý công sản của các tác giả PGS.TS. Nguyễn Thị Bất,
PGS.TS. Nguyễn Văn Xa cùng sự tham gia cộng tác của nghiên cứu sinh
được xuất bản năm 2012 làm giáo trình giảng dạy môn quản lý công sản của
Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã khái quát thực trạng quản lý tài
sản công của nước ta, đưa ra những đánh giá và giải pháp nhưng chủ yếu
mang tính khuyến nghị và chưa bao quát, chưa dựa trên những chuẩn mực
quản trị tài sản công mang tính quốc tế.
Giáo trình Quản lý công sản cũng mới đề cập có tính khoa học và hệ
thống nguyên tắc đặc điểm và nội dung quản lý công sản nói chung. Giáo
trình không có lý thuyết chung về quản lý trụ sở làm việc công nói chung và
2
trụ sở của cơ quan hành chính nói riêng. Bên cạnh đó, đề tài cần một hệ thống
các nguyên tắc chung và giải pháp tổng thể định lượng trong quản lý nhưng
các công trình nêu trên chưa giải quyết được mà mới dừng lại ở định tính.
Trong lĩnh vực kinh tế, có các công trình khoa học điển hình như:
Một là, luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, bảo vệ
năm 2005 với đề tài “Công sản và sử dụng công sản ở Việt Nam hiện nay”.
Hai là, luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Lan Phương,
bảo vệ năm 2006 với đề tài “Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý, sử
dụng trụ sở làm việc của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam”.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đố tượng nghiên cứu đề tài
Khái niệm quản lý tài sản công là một khái niệm rộng có tính tương đối
và được hiểu theo những nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào quy định, mô hình
quản lý của từng khu vực, xã hội và mô hình kinh tế. Trong các cơ quan hành
chính nhà nước, tài sản công bao gồm trụ sở làm việc, phương tiện vận tải,
máy móc, trang thiết bị và các phương tiện làm việc khác.
Trên cơ sở chọn đề tài và mục đích nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung
nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong việc
quản lý tài sản công tại cơ quan thi hành án dân sự.
Phạm vi nghiên cứu đề tài
Thứ nhất, về nôi dung, đề tài nghiên cứu thực trạng pháp luật, những
nguyên tắc, quy định của quản lý nhà nước trong việc quản lý tài sản công tại
cơ quan thi hành án dân sự và những thuận lợi, khó khăn xoay quanh lĩnh vực
này. Thứ hai, về thời gian, các số liệu, thông tin trình bày trong luận văn chủ
yếu từ năm 2014 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
P ư n p áp lu n
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, phương pháp phân tích thực chứng và phương pháp phân tích
chuẩn tắc trong nghiên cứu kinh tế. Đồng thời đề tài sử dụng phương pháp
4
phân tích định lượng trong thống kê thông qua mô hình định giá đất hay xây
dựng định mức sử dụng tài sản công để so sánh, đánh giá, tìm giải pháp hoàn
thiện phương thức quản lý.
P ư n p áp n
n ứu đề tài
sự.
Tác giả mong muốn luận văn là nguồn tài liệu để các nhà nghiên cứu,
và các bạn học viên có thể làm tài liệu nghiên cứu trong quá trình học tập
cũng như nghiên cứu sau này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được trình bày thành 03 chương, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản lý tài sản công tại cơ
quan thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực trạng quản lý tài sản công tại cơ quan thi hành án dân
sự tại tỉnh Long An.
Chương 3: Định hướng, giải pháp bảo đảm quản lý tài sản công tại cơ
quan thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Long An.
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN
CÔNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái quát về quản lý tài sản công
1.1.1. Tài sản công
1.1.1.1. Khái niệm
Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào
một trong các nguồn nội lực của mình là tài sản quốc gia. Đó là tất cả những
tài sản do các thế hệ thành viên của quốc gia tạo ra hoặc thu nạp được và các
tài sản do thiên nhiên ban tặng con người. Trong phạm vi một đất nước, tài
sản quốc gia có thể thuộc sở hữu riêng của từng thành viên hoặc nhóm thành
viên và có thể là sở hữu chung của tất cả thành viên trong cộng đồng quốc
gia. Nhà nước là chủ sở hữu đối với những tài sản quốc gia thuộc sở hữu
(tư pháp).
2. Bộ phận công sản công dụng của các pháp nhân công quyền, được
dùng chủ yếu cho lợi ích công. Bộ phận tài sản này thuộc phạm vi luật công
(công pháp) và được xử lý theo Luật hành chính do Nhà nước quy định.”
Ở Việt Nam, công sản công dụng chủ yếu là tài sản thuộc sở hữu nhà
nước tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ: “Đất đ , t
n uy n nước,
tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên
nhiên khác và các tài sản do N
sở hữu to n dân do n
nướ đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc
nướ đại diện chủ sỡ hữu và thống nhất quản lý”.
Để cụ thể hoá quy định nêu trên, tại Điều 197 của Bộ Luật Dân sự Việt
Nam năm 2015 đã quy định: “ Đất đ , t
sản, n uồn lợ ở vùn b ển, vùn trờ , t
sản do N
N
nướ đầu tư, quản lý l t
nướ đạ d ện
n uy n nướ , t
n uy n t
ệu quả v t ết k ệm t
sản t uộ sở ữu to n dân”. Điều
199 của Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2015 đã quy định: “ V ệ
sử dụn , địn đoạt t
sản t uộ sở ữu to n dân đượ t ự
ếm ữu,
ện tron p ạm
v v t eo trìn tự do p áp lu t quy địn ”.
Theo khoản 1 điều 3 luật quản lý, sử dụng tài sản công 2017 có quy
định “T
sản ôn l t
sản t uộ sở ữu to n dân do N
ủ sở ữu v t ốn n ất quản lý, b o ồm: t
quản lý, un
ứ , đ n vị; t
ộn ; t
n
ấp dị
sản ôn p ụ vụ oạt độn
sản ôn tạ do n
ín n
á loạ t
nướ n o
n uy n k á ”.
Tiếp đó tại các Điều 228, 229, 230 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 đã
quy định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước bao gồm: (công sản tư
dụng), thứ nhất, có điều 228: Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài
sản không xác định được chủ sở hữu: “1. Tài sản vô chủ là tài sản mà chủ sở
hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó. N ườ đã p át
ện, n ườ đ n
quản lý tài sản vô chủ l động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó, trừ trường
hợp lu t ó quy định khác; nếu tài sản là bất động sản thì thuộc về N
nước.
2. N ười phát hiện tài sản k ôn xá địn được ai là chủ sở hữu phải thông
báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã n
ần
nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nh n lại. Việc giao nộp
phả được l p biên bản, tron đó
nướ ; n ười
ưởng một khoản tiền t ưởn t eo quy định của pháp lu t”.
Thứ 2, có điều 229: Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi
lấp, chìm đắm được tìm thấy. Thứ 3, tại điều 230: Xác lập quyền sở hữu đối
với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên.
Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật
hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản
còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế
thuộc Nhà nước.
Ngoài các tài sản nêu trên, tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước còn
bao gồm: (công sản công dụng)
Tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hiến, biếu, tặng, cho,
đóng góp, giao lại cho Nhà nước, tài sản viện trợ của các tổ chức Chính phủ,
phi Chính phủ.
Tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung quỹ nhà nước.
Tài sản dự trữ của Nhà nước.
Tài sản công giao cho các công ty nhà nước quản lý và vốn nhà nước
đầu tư vào các doanh nghiệp khác thành lập, hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp.
Từ những luận điểm nêu trên ta có thể đưa ra cách hiểu thống nhất cho
thuật ngữ tài sản công là công sản, bao gồm tất cả tài sản (động sản và bất
động sản) thuộc sở hữu to n dân, do n
vào mụ đí
p ục vụ lợi ích củ n
nước thống nhất quản lý để sử dụng
các tài sản này trước khi giao cho các cơ quan hành chính sử dụng, đều phải
xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Khi các tài sản này được xác lập quyền sở
hữu Nhà nước, thì giá trị của các tài sản đều được ghi thu cho ngân sách nhà
nước. Như vậy, suy cho cùng các tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà
11
nước, tài sản viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp giao cho các cơ
quan hành chính sử dụng vẫn có nguồn gốc hình thành từ ngân sách nhà nước.
Từ sự phân tích trên cho thấy dù là tài sản nhân tạo hay tài sản thiên tạo
và được hình thành từ kết quả đầu tư trực tiếp, xây dựng mua sắm tài sản hay
các nguồn tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì tài sản trong cơ
quan nhà nước đều được đầu tư, mua sắm bằng tiền của ngân sách nhà nước
hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước.
Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng tài sản phải phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của từng cơ quan.
Tài sản trong cơ quan nhà nước là cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động
của các cơ quan. Hoạt động của mỗi cơ quan nhằm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình. Do vậy, sự hình thành và sử dụng tài
sản công tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, cụ thể là:
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, tài sản chỉ đơn thuần là điều kiện
vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý
kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tài sản của các cơ quan này lớn nhất là
trụ sở làm việc (công đường), các phương tiện giao thông vận tải phục vụ đi
lại công tác, các trang thiết bị, máy móc và phương tiện làm việc. Số lượng tài
sản cần phải có tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ, công
chức, viên chức của mỗi cơ quan, đơn vị.
Đối với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; tài sản chỉ đơn
thuần là phương tiện để các tổ chức này thực hiện các hoạt động thuộc chức
năng, nhiệm vụ của mình nhằm phát huy vai trò của tổ chức này. Tài sản của
sản công để buộc các cơ quan hành chính sử dụng tài hiệu quả hơn. Tuy
nhiên, Nhà nước phải nắm chính xác giá trị và giá trị còn lại của tài sản để
phục vụ cho công tác quản lý tài sản thông qua việc quy định chế độ tính hao
mòn tài sản cố định trong khu vực hành chính sự nghiệp.
13
1.1.1.3. Phân loại
Để đảm bảo sử dụng có hiệu quả tài sản công, vấn đề phân loại một
cách chi tiết và hợp lý các loại tài sản công có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong công tác quản lý và sử dụng trong việc phát triển kinh tế xã hội.
Trong thực tế, tài sản công đa dạng về hình thức tồn tại, công năng sử dụng và
đối tượng sử dụng. Để nhận biết và có các biện pháp quản lý, sử dụng có hiệu
quả, tài sản công được phân loại như sau:
Phân loại tài sản công theo thời gian sử dụng:
Các tài sản có thời gian sử dụng nhất định và sẽ bị hao mòn dần trong
quá trình khai thác, sử dụng như: Tài nguyên, khoáng sản và các tài sản nhân
tạo khác nhau: nhà cửa, công trình kiến trúc, cơ sở hạ tầng...
Các loại tài sản có thể sử dụng vĩnh viễn không mất đi như tài nguyên,
đất, tài nguyên nước, không khí... Tuy nhiên, việc phân loại này chỉ là tương
đối, vì ngay tài nguyên đất nếu không có biện pháp quản lý, sử dụng và bảo
vệ tốt sẽ bị xói mòn, cằn cỗi; không khí có thể bị ô nhiễm...
Phân loại tài sản công theo nguồn gốc hình thành:
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được
hình thành và tồn tại trong tự nhiên như: đất đai, rừng tự nhiên, biển, vùng
trời, sông ngòi, khoáng sản trong lòng đất, những danh lam thắng cảnh, không
khí...
Tài sản nhân tạo là tất cả các tài sản do con người tạo lập ra và được
duy trì qua các thế hệ như: hệ thống cơ sở hạ tầng, các công trình văn hoá, các
cổ vật, nhà cửa, phương tiện đi lại, thiết bị máy móc....
đ n vị sự n
ủ
ệp ôn l p,
trị - xã ộ , tổ
ứ
ộ -n ền
ệp, tổ
về ộ , trừ t
tạ
qu n n
ấp dị
vụ ôn , bảo đảm quố
nướ , đ n vị lự lượn vũ tr n nhân dân,
qu n Đản Cộn sản V ệt N m, tổ
ín trị xã ộ - n
ền
, lợ í
ôn
ộn l
á
ôn trìn kết ấu ạ tần kỹ t u t, ôn trìn
kết ấu ạ tần xã ộ v vùng đất, vùn nướ , vùn b ển ắn vớ công trình
kết ấu ạ tần , b o ồm: ạ tần giao thông, ạ tầng un
tần t ủy lợ v ứn p ó vớ b ến đổ k í
ôn n
ệp, k u ôn n
u, ạ tần đô t ị, ạ tần
ệp, k u k n tế, k u ôn n
t ư n mạ , ạ tần t ôn t n, ạ tần
ấp đ ện, ạ
ệ
ụm
sản vô
sản k ôn
nướ t eo quy địn
uyển
Nam theo cam kết s u k
t eo ìn t ứ đố tá
oN
uyển
n ân sá
ôn tư đượ
ôn,
nướ ; t
uyển
o
n
ố n
ấu, bị vù lấp,
ủ Bộ lu t Dân sự; t
ợp đồn dự án;6. T ền t uộ n ân sá
nướ , t
ủ, t
ó n ườ n
o quyền sở ữu
ó vốn đầu tư nướ n o
nướ n o
sản ủ dự án sử dụn vốn n
sản bị đán r , bị bỏ qu n, t
ìm đắm đượ tìm t ấy, t
t uộ về N
ệp;4. T
l t
oN
ệp
Tại điều 12 luật quản lý sử dụng tài sản công năm 2017 có quy định:
“1.Ban hành v tổ
dụn t
ứ t ự
ện v n bản quy p ạm p áp lu t về quản lý, sử
sản ôn . 2.Quản lý v ệ
sắm, t u , k oán k n p í sử dụn t
ot
sản ôn ; đầu tư xây dựn , mu
sản ôn ; xá l p quyền sở ữu to n
16
dân về t
ôn ; k
đ ều
sản. 3.Quản lý v ệ sử dụn , bảo vệ, bảo dưỡn , sử
t á n uồn lự t
uyển,
uyển đổ
ám sát v ệ
ứ , đ n vị, á n ân tron
n p áp lu t về quản lý, sử dụn t
v xử lý v p ạm p áp lu t về quản lý, sử dụn t
k ến n ị, k ếu nạ , tố
Quản lý oạt độn dị
á
sản ôn . 9.T n tr , k ểm tr , k ểm toán,
ávệ
áo tron
vụ về t
sản
sản ôn . 4. Quản lý v ệ t u ồ ,
ôn n n , bán, t n lý, t u ủy v
n Hệ t ốn t ôn t n về t
ữ t
kiệm, chống lãng phí ... Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham
nhũng, lãng phí, tập trung chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra phòng, chống tham
nhũng trong một số 63 lĩnh vực trọng điểm như: quản lý đất đai, đầu tư xây
dựng cơ bản, quản lý tài sản công…, để thực hiện các chủ trương lớn về quản
lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nói chung và cơ quan thi hành án
dân sự nói riêng. Chính phủ đã xác định được các quan điểm quản lý tài sản
công là:
Quan điểm 1: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư, mua
sắm, quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan hành chính nói chung và tại
cơ quan thi hành án dân sự nói riêng. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
trong quản lý tài sản công tại các cơ quan hành chính nói chung và tại cơ quan
thi hành án dân sự nói riêng phải được thực hiện trong cả 3 giai đoạn: hình
thành; quản lý và kết thúc; cụ thể là:
Tiết kiệm trong khâu đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản công: đảm bảo
việc đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản công theo tiêu chuẩn, định mức; với
chi phí phù hợp, trong định mức kinh phí nhà nước quy định, bền và đảm bảo
tính nghiêm trang, không quá lãng phí tiền vào những chi tiết cầu kỳ, những
tài sản cao cấp, đắt tiền; đảm bảo tài sản phù hợp với công năng sử dụng theo
chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao.
Quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản công: phải thúc đẩy việc
sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm, chống lãng phí, từng bước xóa bỏ chế độ
bao cấp về tài sản cho các đơn vị sự nghiệp có thu và các tổ chức xã hội và tổ
chức xã - nghề nghiệp không được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt
động. Đối với các cơ quan hành chính nói chung và cơ quan thi hành án dân
sự nói riêng quá trình sử dụng tài sản công giá trị hao mòn của chúng thuộc
khoản chi phí tiêu dùng của Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp, sử dụng
tài sản công vào mục đích có thu hoặc sản xuất kinh doanh dịch vụ để tạo ra
18