BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
...../.....
...../.....
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
======
NGUYỄN HỒ ANH THƯ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐĂK LĂK - 2017
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
...../.....
...../.....
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
======
đạt tận tình của quý các thầy (cô) giáo, là những giảng viên cao cấp trường Học
viện hành chính quốc gia. Đó là những kiến thức quý báu, bổ ích, trang bị
nhiều kỹ năng trong quá trình nghiên cứu cũng như thực tiễn công tác.
Trước hết, cho phép học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban
lãnh đạo, các quý thầy, cô giáo trường Học viện hành chính quốc gia, các
đồng chí lãnh đạo UBND huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông. Đặc biệt, xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Hoàng Sỹ Kim - Trưởng Khoa Đô thị và Nông
thôn - Học Viện Hành chính Quốc gia đã toàn tâm, toàn ý hướng dẫn tôi về
mặt khoa học để hoàn thành luận văn đúng tiến độ.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn GS.TS Nguyễn Đăng Thành, PGS.TS Võ
Kim Sơn, PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh, PGS.TS Lê Thị Hương, TS Nguyễn
Đăng Quế, TS. Lê Văn Từ và các thầy cô giáo là giảng viên cao cấp của Học
Viện Hành chính Quốc gia; các cán bộ, nhân viên tại trường Học viện hành
chính phân viện Tây Nguyên về những ý kiến đóng góp thẳng thắn, sâu sắc và
giúp đỡ đầy nhiệt huyết để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ trong
suốt thời gian tôi học tập tại trường. Với những cố gắng, nỗ lực của bản thân
song kinh nghiệm và khả năng còn hạn chế nên luận văn này không thể tránh
khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy,
cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và các độc giả để tôi có cơ hội hoàn thiện Đề tài
nghiên cứu hơn nữa.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Hồ Anh Thư
ii
MỤC LỤC
Trang
mới tại huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông ............................................................. 99
3.3. Một số kiến nghị ............................................................................... 110
Tiểu kết chương 3 .................................................................................... 112
KẾT LUẬN ................................................................................................... 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................
PHỤ LỤC ............................................................................................................
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu số 2.1. Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế huyện (giá so sánh 2010) ........... 48
Biểu số 2.2. Công tác tuyên truyền, tập huấn đào tạo năm 2016 .................... 65
Biểu số 2.3. Tổng hợp vốn thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM
huyện Cư Jút, giai đoạn 2011 – 2015.............................................................. 67
Biểu số 2.4. Kết quả xây dựng hạ tầng nông thôn huyện Cư Jút .................... 72
Biểu số 2.5. Tình hình thực hiện tiêu chí quy hoạch năm 2015 ..................... 74
Biểu số 2.6. Tình hình thực hiện tiêu chí giao thông năm 2015 ..................... 75
Biểu số 2.7. Tình hình thực hiện tiêu chí thủy lợi năm 2015.......................... 76
Biểu số 2.8. Tiêu chí về hạ tầng điện lưới nông thôn năm 2015 .................... 77
Biểu số 2.9. Thực hiện tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa năm 2015 .................. 78
Biểu số 2.10. Tình hình thực hiện tiêu chí về giáo dục năm 2015 ................. 81
Biểu số 2.11. Tổng hợp đánh giá số xã đạt tiêu chí nông thôn mới theo từng
tiêu chí năm 2015 ............................................................................................ 84
v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu giá trị kinh tế năm 2010 và năm 2015 ............................ 49
nghiệp là khâu then chốt” [30, tr.12]. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được
chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng.
Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng
1
giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển
sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn
nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức
sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân
tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Công
nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức
sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng
hóa. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích
ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Ðời sống vật chất và tinh thần
của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào
dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành
thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Để góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, Chương
trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt vào tháng 6 năm 2010 với 19 tiêu chí Quốc gia được chia thành 5
nhóm gồm 39 chỉ tiêu cụ thể. Đây là một chương trình phát triển tổng hợp cả
về kinh tế, văn hóa, xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng
hệ thống chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội; bảo
đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu
đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020.
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
dụng những kiến thức khoa học đã được nghiên cứu, học tập trong nhà trường
với kinh nghiệm thực tiễn công tác của bản thân tại địa phương.
3
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải
quyết vấn đề nông dân là những chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều cơ quan lãnh đạo, quản lý, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa
học, các chuyên gia đầu ngành , các nghiên cứu sinh, học viên cao học lựa
chọn, nghiên cứu. Tác giả có thể liệt kê ra một số công trình và bài viết của
các nhà khoa học, học giả trong nước. Cụ thể, khi giới thiệu về kinh nghiệm
phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ngoài. Theo hướng này, một số
nhà nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn ở nước ta như PGS.TS Chu Hữu Quý,
GS.TS Nguyễn Thế Nhã, GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung, GS. Đoàn Trọng
Truyến, PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc...đã có những công trình nghiên cứu
công phu và có giá trị. Điểm chung nhất của những nghiên cứu này là sau
khi phân tích thực tiễn giải quyết vấn đề quản lý Nhà nước nói chung và việc
xây dựng chỉ đạo chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước
ngoài, các tác giả đều cố gắng gợi mở, nêu lên những kinh nghiệm để có thể
vận dụng cho giải quyết những vấn đề thực tiễn của Việt Nam.
Công trình “Phát triển nông thôn” do GS. Phạm Xuân Nam (chủ biên)
được Nxb Khoa học xã hội ấn hành năm 1997, là một công trình nghiên cứu
chuyên sâu về phát triển nông thôn. Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích
khá sâu sắc một số nội dung về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta
như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề sử dụng
và quản lý nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vấn đề phân tầng xã hội và xóa
đói giảm nghèo. Trong lúc phân tích những thành tựu, yếu kém và thách
thức đặt ra trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta các tác giả đã chỉ
ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách và cách thức chỉ đạo của Nhà
Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng về Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới .
7
5.2. Phương pháp cụ thể
Các phương pháp nghiên cứu khoa học: phân tích, tổng hợp, logic, hệ
thống - cấu trúc, so sánh, thống kê, điều tra bảng biểu, … sẽ được sử dụng
trong quá trình thực hiện đề tài.
6. Những dự định đóng góp của đề tài
Qua luận văn này tác giả dự đinh đóng góp những ý kiến có tính lý luận
và thực tiễn trên các mặt sau:
- Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến về xây dựng nông thôn mới
và quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới .
- Nêu rõ và đánh giá thực trạng công tác xây dựng nông thôn mới tại
huyện Cư Jút và điều kiện khách quan của việc xây dựng nông thôn mới trong
thời kỳ mới.
- Qua phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng, nêu lên những kết quả đạt
được; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những kết quả đạt được,
nguyên nhân của tồn tại, hạn chế. Từ đó, Luận văn xây dựng một số giải pháp
và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông
thôn mới tại huyện Cư Jút . Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho giáo viên,
sinh viên, các nhà quản lý quan tâm đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục;
nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại
huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.
9
Về kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản
xuất vật chất nông - lâm - ngư ngiệp. Ngoài ra nó còn có các ngành nghề phi
nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
Về tổ chức xã hội - cơ cấu dân cư, ở nông thôn chủ yếu là nông dân và
gia đình họ với mật độ dân cư thấp. Ngoài ra, có một số người làm việc ở nông
thôn nhưng sống ở đô thị; một số người làm việc ở đô thị, sống ở nông thôn.
Về văn hóa, nông thôn là nơi bảo tồn, lưu giữ các di sản văn hóa truyền
thống chủ yếu của dân tộc như: phong tục, tập quán cổ truyền, các ngành nghề
truyền thống, các di tích lịch sử.
Trình độ dân trí, khoa học công nghệ, và kết cấu hạ tầng của cộng đồng
dân cư nông thôn thường thấp kém, thua xa so với đô thị.
Ngày nay, khái niệm “nông thôn” đã mở rộng nội hàm so với “làng”,
“bao gồm cả những thị trấn mà sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào
nông nghiệp, gắn với nông thôn và bảo đảm các dịch vụ cần thiết cho dân cư ở
nông thôn”.
Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4//2010 của Chính phủ về
chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thì: Nông thôn
là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn,
được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Đặc điểm của các vùng
nông thôn nước ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp với tuyệt đại đa số dân cư sinh sống bằng một loại hình lao động,
bởi vậy diện mạo các vùng nông thôn rất ít có sự thay đổi nhất là về phương
diện kinh tế - xã hội.
1.1.2. Nông thôn mới
- Nông thôn mới, trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ,
thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay. Nông
kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông
11
thôn mới. Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ
tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp
lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của
hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự
xã hội.
1.1.3. Quản lý nhà nước
Thuật ngữ “quản lý nhà nước” có nhiều cách hiểu khác nhau. Quản lý
nhà nước là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước để
điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã
hội, chính trị, khoa học, văn hóa – xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật
tự xã hội theo những mục tiêu đã định.
- Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập
pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại
của nhà nước.
- Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà
nước để điều hành các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người.
- Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà
nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có
trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước do tất cả các cơ quan
nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành bằng các văn bản quy
phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà
nước giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi
của công dân.
Như vậy, thông qua những điểm chung của các khái niệm, một cách
chung nhất ta có thể hiểu: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền
được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: Nông nghiệp phát triển còn
13
kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào
tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy
hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, trường học, trạm y tế, cấp
nước… còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm. Đời sống vật chất, tinh
thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giào nghèo
giữa nông thôn và thành thị còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc
hậu và đời sống nhân dân còn thấp và “xây dựng nông thôn mới là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá quê hương, đất nước; đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn”.
Vì vậy, ta có thể hiểu xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và
cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng
thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn
diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và
an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của
người dân được nâng cao.
- Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị
trường và giao lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông
thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán.
Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người
tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự
phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn
và thành thị. Hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp
tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát
công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
15
3) Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa
dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ.
4) Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững;
đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và
nâng cao.
1.2.3. Đặc điểm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã
hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Xây dựng nông thôn mới giúp
cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết, giúp đỡ nhau,
xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Khi nghiên cứu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cần phải
nhận thức rõ mục tiêu, đặc điểm, bản chất, chức năng của hoạt động xây dựng
nông thôn mới. Qua đó, thấy được vai trò của xây dựng nông thôn mới trong
quá trình phát triển, cũng như xác định được vai trò, nội dung của quản lý nhà
nước đối với xây dựng nông thôn mới. Các đặc điểm xây dựng nông thôn mới
là:
Một là, tính kinh tế
Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả bền
vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới. Xây
dựng nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và giao
lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện
đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán.Thúc đẩy nông
nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị
trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu
nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị,
thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh và làm giàu
17