Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (LV thạc sĩ) - Pdf 47



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN ANH DŨNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

ĐẮK LẮK, NĂM 2017




BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

huyện Di Linh, Hạt kiểm lâm và ban quản lý rừng Tân Thượng… bạn bè,
đồng nghiệp đã hỗ trợ, giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình khảo sát, tìm hiểu thực tế nghiên cứu và hoàn thành luận
văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng với khả năng và thời gian còn có
những hạn chế nhất định, nên chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô, bạn bè,
đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!


Tác giả

Nguyễn Anh Dũng


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.


Tác giả luận văn



Nguyễn Anh Dũng


Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN DI LINH,TỈNH LÂM ĐỒNG
HIỆN NAY............................................................................................... 66
3.1. Phương hướng tăng cường quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối
với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh........................................... 66
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Di Linh hiện nay................ 67
KẾT LUẬN.............................................................................................. 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 86
PHỤ LỤC................................................................................................ 91


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Số lượng vụ vi phạm pháp luật giao thông đường bộ từ năm 2012
đến 2016.................................................................................................. 57


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DTTS
HĐND
PBPL
XHCN
UBND

: Dân tộc thiểu số
: Hội đồng nhân dân
: phổ biến pháp luật

sản xuất, học tập làm theo các gương sản xuất giỏi phấn đấu vươn lên xóa
đói giảm nghèo...
1


Trong thành quả đạt được, hoạt động phổ biến pháp luật đối với đồng
bào DTTS huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng luôn được thực hiện bằng nhiều
hoạt động tập trung hướng về cơ sở, đưa thông tin đến với đồng bào DTTS
thông qua nhiều hình thức như chương trình phát thanh tiếng dân tộc, các
ấn phẩm, báo, tạp chí chuyên đề phản ánh về lĩnh vực công tác dân tộc miền
núi, đưa các hoạt động trợ giúp pháp lý trực tiếp đến cơ sở phục vụ cho
nhân dân, xây dựng các câu lạc bộ tuyên truyền pháp luật, tổ chức tốt các
hội nghị tuyên truyền pháp luật dành cho người dân nông thôn và đồng bào
DTTS theo tiểu đề án 2, Quyết định số 554/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ ngày 04/05/2009 về phê duyệt Đề án “Tuyên truyền phổ biến pháp luật
cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2008 đến năm
2012” và Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/04/2012 ban hành Chương
trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW cho phép kéo dài Đề án
đến hết năm 2016, tham gia và đạt giải cao hội thi tìm hiểu pháp luật dành
cho người dân nông thôn và đồng bào DTTS do địa phương tổ chức.
Trong những năm qua, chính quyền và ngành tư pháp của huyện đã
nghiêm túc triển khai thực hiện. Lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà
nước về PBPL được kiện toàn, củng cố, ngày càng đảm bảo về số lượng và
chất lượng. Hình thức và phương pháp tuyên truyền ngày càng phong phú
không ngừng được cải tiến phù hợp với địa phương. Góp phần đẩy lùi các
tệ nạn xã hội, từng bước ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân”.
Tuy nhiên hoạt động quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với

giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật; tuyên truyền kịp thời, thường xuyên nội dung
3


pháp luật phù hợp với từng đối tượng, địa bàn…”. Đặc biệt là Quyết định
số 554/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/05/2009 về phê duyệt
Đề án “Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân nông thôn
và đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2008 đến năm 2012” và Quyết định số
409/QĐ-TTg ngày 09/04/2012 ban hành Chương trình hành động thực hiện
Kết luận số 04-KL/TW cho phép kéo dài Đề án đến hết năm 2016.
Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về phổ
biến pháp luật, nhiều địa phương trong cả nước đã có nhiều nghiên cứu và
triển khai hoạt động nghiên cứu dưới nhiều hình thức, như xây dựng các đề
án, đề tài, biên soạn tài liệu phục vụ PBPL cho nhân dân hay các bài nghiên
cứu, trao đổi kinh nghiệm về hoạt động PBPL, cụ thể như:
- Công trình nghiên cứu “Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và
các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn trong
việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân ở cơ sở” năm 2008 của Sở
Tư pháp tỉnh Tiền Giang.
- Công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm tổ chức phổ biến, giáo dục
pháp luật thông qua trợ giúp pháp lý cho nhân dân ở cơ sở tại Quảng Nam”
năm 2008 của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Quảng Nam.
- Công trình nghiên cứu “Nghiên cứu tình trạng nhận thức của cán
bộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Định và giải pháp nâng cao công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân” năm 2008 của Sở Tư pháp Bình
Định.
- Đề tài “Phổ biến, giáo dục pháp luật của xã, phường trên địa bàn
thành phố Thanh Hóa” năm 2009 của tác giả Đỗ Hồng Kỳ, đề tài này tập
trung nghiên cứu đánh giá thực trạng và xác định giải pháp nhằm bổ sung,

nhũng cho sinh viên tìm hiểu và nghiên cứu [16].
- Đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao
5


công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong đồng bào dân
tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2010 - 2020” năm 2013 do Thạc sĩ
Lê Duy An, làm chủ nhiệm, trong đó đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tìm ra
những nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số [1].
- Nguyễn Quốc Sửu (2014), “Kinh nghiệm từ thực tiễn công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tỉnh
Đắk Lắk”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 223 (8/2014).
- Đề tài “Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng” năm 2014 của Nguyễn Văn Khoa, chuyên ngành Quản
lý công, Học viện Hành chính quốc gia.
- Đề tài “Quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật cho thanh thiếu
niên trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” năm 2014 của Châu Ngọc Lương lớp Cao
học 17M chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia.
- Đề tài “Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa
bàn thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk” năm 2015 của Chế Vũ Chí
An, chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia.
- Đề tài “Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán
bộ, công chức cấp huyện là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk” năm
2015 của Trần Tuấn Anh, chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính
quốc gia.
Bên cạnh đó, còn nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, giảng dạy
pháp luật hay các cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các tổ chức,
cơ quan nhà nước… được đăng trên các báo, tạp chí.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý nhà
7


nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào DTTS trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: địa bàn huyện Di Linh, tỉnh Lâm
Đồng.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2012 đến 2016.
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về PBPL; chỉ đạo, hướng dẫn và tổ
chức thực hiện hoạt động PBPL; bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ
PBPL; thống kê, tổng kết về PBPL.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn


5.1. Phương pháp luận
Nội dung nghiên cứu của đề tài được xem xét luận giải dựa trên cơ

sở phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta
về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân và công tác PBPL, đặc biệt là các đề án về PBPL cho người
dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp: lịch sử, lôgíc, hệ thống, thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã hội...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đây là đề tài nghiên cứu tương đối có hệ thống những vấn đề lý luận



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN
PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Tổng quan về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc
thiểu số
1.1.1. Khái niệm phổ biến pháp luật
“Dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ
trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia
đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị
tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu
vực và thế giới. Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia
này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác. Chẳng hạn người
Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là
“dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số
của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số”
ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm
tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam). Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc
thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có
những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh
hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh
về dân số của mỗi quốc gia dân tộc. Song, những nội dung được quan niệm
như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở
nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới [40].
Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn
bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt
động thực tiễn. Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các bản
Hiến pháp. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ
10



nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để
Nhà nước dùng để trị dân. Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính
tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể. Ở những
mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ
thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên
thực tế. Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị,
các cuộc tập huấn…
Về giáo dục pháp luật là khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng
cao tri thức pháp luật cho đối tượng, bằng mọi cách (thuyết phục, nêu gương,
ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng
cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành của đối tượng [23].
So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm
song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác
định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính
là các phương thức giáo dục cụ thể.
Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác
giả đã khá thống nhất với khái niệm giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật
là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác
động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm
mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù
hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành.
Tóm lại, phổ biến pháp luật hiểu theo nghĩa rộng là quá trình bao gồm
tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật
(xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật; triển khai
chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng
các hình thức, biện pháp phổ biến giáo dục pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra,
đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến,
12



Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, bản chất của hoạt động xây dựng
pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thể hiện ý chí của
nhân dân. Chính sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước đã xác
lập sự gắn bó hữu cơ giữa đường lối, chính sách của đảng với pháp luật. Vì
vậy, thực hiện pháp luật cũng là góp phần thực hiện đường lối, chính sách
của Đảng. Có thể thấy rằng, ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức
chính trị. Khi thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ tạo ra khả năng
cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng giáo dục những hiểu
biết nhất định về chính trị. Ngược lại, trong quá trình giáo dục chính trị, tư
tưởng có sự đan xen những nội dung, quan điểm pháp lý nhất định.
Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng” [13].
Thứ hai, phổ biến pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây
dựng pháp luật, thực hiện pháp luật.
Phổ biến pháp luật có quan hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp
luật. Trong mối quan hệ này, xây dựng pháp luật là cơ sở cho việc hình
thành, đẩy mạnh phổ biến pháp luật; phổ biến pháp luật là một phương tiện
quan trọng để đưa pháp luật vào cuộc sống. Hoạt động phổ biến pháp luật
còn là một “kênh” để các cơ quan xây dựng pháp luật nắm bắt được yêu cầu,
nhu cầu, đề xuất từ phía người dân và các tổ chức trong việc xây dựng, hoàn
thiện pháp luật; đánh giá được tính khả thi, hiệu quả của quy định, văn bản
pháp luật trong đời sống thực tế từ đó góp phần nâng cao chất lượng công
tác xây dựng pháp luật.
14



trách nhiệm của các ngành, các cấp, của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội
và toàn dân. Hiện nay, các chủ thể tham gia phổ biến pháp luật rất đa dạng;
tuy nhiên, chủ thể có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thực hiện phổ biến pháp
luật là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có chức năng trong hoạt động
này, cụ thể:
- Chính phủ: Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền Hiến pháp và
pháp luật.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tácphổ
biến các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý của bộ. Tổ chức
pháp chế của các bộ, các cơ quan ngang bộ có trách nhiệm giúp lãnh đạo bộ,
ngành tổ chức thực hiện công tác phổ biến pháp luật trong phạm vi quản lý
bộ, ngành.
- Ủy ban nhân dân các cấp: Tổ chức thực hiện công tác phổ biến
pháp luật địa phương. Giúp Ủy ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ này là các
cơ quan tư pháp địa phương (Sở Tư pháp ở cấp tỉnh, phòng tư pháp ở cấp
huyện, công chức tư pháp - hộ tịch ở cấp xã).
Ngoài hệ thống các cơ quan trên, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các cấp; Viện kiểm sát nhân dân; Tòa án nhân dân; các tổ chức
chính trị, xã hội, đoàn thể quần chúng… trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình cũng có trách nhiệm tham gia phổ biến pháp luật.
Các chủ thể cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình
tổ chức thực hiện phổ biến pháp luật để không chồng chéo hay bỏ sót đối
tượng, địa bàn, nội dung giáo dục pháp luật nhằm đạt được hiệu quả chung
cao nhất.
PBPL có những đặc điểm chung của nó. Nhưng PBPL cho đối tượng
cụ thể là đồng bào DTTS lại là hình thức PBPL đặc thù, nghĩa là ngoài
những đặc điểm của PBPL nói chung, PBPL cho đồng bào DTTS còn có
16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status