ai
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
.........../...........
BỘ NỘI VỤ
.........../...........
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRƯƠNG QUANG TRUNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH THIẾU NIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số
: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ DIỆU OANH
THỪA THIÊN HUẾ - 2015
LỜI CAM ĐOAN
lấy số liệu phục vụ cho việc hoàn thành Luận văn này.
Kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy giáo, cô giáo, đồng
nghiệp và các học viên cao học - Học viện Hành chính và quý bạn đọc để
Luận văn được hoàn thiện và hữu ích hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Trương Quang Trung
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐTS
: Chiếm đoạt tài sản
GTĐB
: Giao thông đường bộ
HĐND
TTTP
: Thanh tra thành phố
TTĐT-ATGT
: Trật tự đô thị – An toàn giao thông
UBND
: Ủy ban nhân dân
UBMTTQVN : Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Trong bất cứ thời kỳ nào, thanh thiếu niên luôn có vai trò đặc biệt quan
trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh số đông thanh
thiếu niên sống có lý tưởng, có ước mơ, hoài bão tốt đẹp, ít nhất là cho bản
thân họ, sau nữa là bổn phận với gia đình, xã hội, thì cũng có một bộ phận lớp
trẻ đua đòi, thiếu bản lĩnh, ham hưởng thụ, trở thành nỗi bức xúc của xã hội.
Trong âm mưu thâm độc “Diễn biến hòa bình” của bọn phản động, thanh thiếu
niên còn là đối tượng để các thế lực thù địch với nhân dân ta lôi kéo, kích động
bộ sức mạnh hệ thống chính trị vào cuộc để triển khai và thực hiện tốt các luật
của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, các đề án của Thủ tướng về phổ
biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên. Qua quá trình triển khai đảm
bảo, bước đầu đã thu được những kết quả nhất định; các cơ quan chuyên môn,
các phòng, ban và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tích cực, chủ động triển
khai một cách đồng bộ từ thành phố đến cơ sở từ đó đã góp phần giáo dục ý
thức chấp hành pháp luật cho thanh thiếu niên. Trong đó, đáng chú ý là việc
triển khai thực hiện đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh, thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015.
Ðây là đề án quan trọng đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 2160/QÐ - TTg phê duyệt vào ngày 26/11/2010.
Vụ trưởng Phổ biến, Giáo dục pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Duy
Lãm cho biết: “Ðề án phấn đấu 80% số thanh, thiếu niên tự do, sinh sống,
lao động tại địa bàn cư trú được tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật
trong các lĩnh vực liên quan đến quyền, nghĩa vụ và đời sống, công việc của
từng đối tượng, từng địa bàn; 100% số thanh, thiếu niên trong trường học
được phổ biến chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp
đến đời sống, công việc, học tập phù hợp với lứa tuổi của các em; 80% số
thanh, thiếu niên vi phạm pháp luật được tuyên truyền, phổ biến chính sách,
pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, hạn chế tái vi phạm pháp luật
3
và tạo điều kiện hòa nhập tốt với cộng đồng…” [19]. Ðây là những con số,
mục tiêu mà nếu đạt được một cách thực chất thì tình hình vi phạm pháp luật
trong thanh, thiếu niên sẽ được cải thiện rõ nét.
Tuy nhiên, để có thể đạt được những kết quả như mong muốn, công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh, thiếu niên cần nhận được sự quan
tâm, đầu tư và tham gia tích cực, chủ động của toàn xã hội. Các hoạt động
nghĩa đặc biệt trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản
lý xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Từ nhận thức chung, tác giả đã nêu và chứng minh được thực trạng phổ
biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường; những kết quả đạt được, những tồn
tại, hạn chế và nguyên nhân. Đồng thời đề xuất các phương hướng, nhiệm vụ
để nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong trường
học thời gian tới.
PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ (2014), Giáo dục nếp sống văn hóa cho học
sinh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật. Nội dung cuốn sách là
những phân tích cơ bản các vấn đề giáo dục nếp sống văn hóa cho học sinh và
trích một số quy định về pháp luật liên quan đến lứa tuổi học sinh trong Bộ
luật Hình sự, Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em. Từ đó
cuốn sách đưa ra những biện pháp tốt cho các nhà quản lý, các thầy cô giáo,
các bậc cha mẹ học sinh, đặc biệt là các em học sinh trong việc giáo dục, rèn
luyện lối sống văn hóa, để các em ngày càng trưởng thành và hoàn thiện hơn
về cả tri thức và nhân cách lối sống.
Đề tài cấp bộ do TS. Lương Khắc Hiếu làm chủ nhiệm (2006), Tư
tưởng, phong cách Hồ Chí Minh về một số suy nghĩ về công tác tuyên truyền
hiện nay”. Đề tài đã nêu được một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác tuyên tuyền, làm rõ hơn phong cách sử dụng ngôn ngữ văn bản trong
khi nói, viết của Hồ Chí Minh và nêu ra một số giải pháp nhằm đổi mới công
tác tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay.
Luận án tiến sĩ của Dương Thanh Mai (1996), Công tác tuyên truyền
giáo dục pháp luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp. Tác giả đã đi sâu
5
phân tích công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta; đặc biệt là trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
Báo cáo tham luận “Coi trọng giáo dục pháp luật cho thanh, thiếu niên
trong bối cảnh toàn cầu hóa” của Thạc sỹ Đỗ Thanh Hương – Trường Đại
học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh tại hội thảo “Thực trạng và giải pháp
ngăn chặn bạo lực học đường” (2015) được tổ chức tại thành phố Hồ Chí
Minh trong tháng 6/2015. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề toàn cầu hóa hiện
đang là xu thế tất yếu, khách quan, tác động mạnh mẽ tới tất cả các quốc gia,
dân tộc, đến đời sống xã hội của cả cộng đồng nhân loại, cũng như cuộc sống
của mỗi con người; trong đó nó động khá mạnh mẽ đến đối tượng thanh thiếu
niên - là đối tượng “nhạy cảm” - cả về những cơ hội cũng như những thách
thức của quá trình toàn cầu hóa mang lại. Từ đó xác định vị trí, vai trò của
thanh thiếu niên; phân tích và chứng minh thực trạng về tình trạng vi phạm
pháp luật của thanh, thiếu niên; đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh
việc giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên, giảm tình trạng thanh thiếu niên
vi phạm pháp luật, giảm tình trạng bạo lực học đường. Đồng thời xác định
việc phổ biển giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên đòi hỏi sự quan tâm,
của tất cả các cấp, các ngành, đoàn thể và toàn xã hội, để từ đó phát huy các
phẩm chất tốt đẹp trong mỗi thanh thiếu niên.
Khóa luận tốt nghiệp Trung cấp Lý luận chính trị của Mai Bá Hoàng
“Xử lý vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ đối với
người chưa thành niên trên địa bàn Thành phố Huế”(2013). Tác giả đã
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về xử lý vi phạm hành chính về trật tự
an toàn giao thông đường bộ đối với người chưa thành niên, từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm đề xuất giải pháp về xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh
vực trật tự an toàn giao thông đường bộ đối với người chưa thành niên.
Những công trình khoa học trên đã cung cấp nhiều tư liệu quý báu về
cơ sở lý luận, kiến thức, kinh nghiệm đối với công tác quản lý nhà nước trên
nhiều góc độ. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên
cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về công tác quản lý nhà nước về phổ
8
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Công tác quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp
luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố Huế.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về phổ
biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về phổ
biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố Huế giai
đoạn từ năm 2010 đến năm 2014.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước
về công tác thanh thiếu niên; những quy định pháp luật về quản lý nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để làm sáng
tỏ, trong đó tập trung một số phương pháp sau:
+ Phương pháp khảo cứu tài liệu: Tài liệu được sử dụng chủ yếu để
nghiên cứu các tài liệu đã được giới thiệu tại Phần mở đầu, tình hình nghiên
cứu liên quan đến đề tài (mục 2, phần mở đầu) và được tác giả sử dụng để
thực hiện Chương 1 của luận văn. Phương pháp này cung cấp cơ sở lý luận,
những luận cứ cho việc đánh giá công tác quản lý nhà nước về phổ biến, giáo
dục pháp luật đối với thanh thiếu niên và cơ sở đề ra giải pháp cho việc quản
lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh thiếu niên trên địa
bàn Thành phố Huế.
+ Phương pháp chuyên gia: Tác giả đã trao đổi với đồng chí Phó chủ
tịch UBND thành phố Huế và đồng chí Trưởng phòng Tư pháp thành phố
lục, thì đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận của quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp
luật cho thanh thiếu niên.
10
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục
pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước
về pháp luật đối với thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
11
Chương 1
LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO THANH THIẾU NIÊN
1.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên
1.1.1 Quan niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên
1.1.1.1. Khái niệm, mục đích về phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên
* Khái niệm về phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên
Theo cách hiểu chung nhất về phổ biến, giáo dục pháp luật có hai nghĩa:
- Theo nghĩa hẹp: Phổ biến, giáo dục pháp luật là giới thiệu tinh thần
văn bản pháp luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, giáo dục pháp luật
là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm,
niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật,
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.
- Theo nghĩa rộng: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một khâu của hoạt
- Thanh niên là lớp người đang phát triển cả về chất, cả về tâm lý tinh
thần và cả về nhu cầu tình cảm, trí tuệ và tài năng, ước mơ và lý tưởng, tư duy
và tính cách. Đó cũng là thời kỳ hình thành những định hướng giá trị của cuộc
sống đang trưởng thành về nhân cách.
- Đặc điểm tâm lý nổi bật của thanh niên: yêu cái mới, chọn cái đẹp,
luôn hướng tới tương lai, nhạy cảm với thực tiễn, dễ tiếp nhận với các giá trị
cách tân và đổi mới, hăng hái xung phong, luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh
chống lại những gì là cũ, lỗi thời, lạc hậu…
- Thanh niên là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, chiếm số đông
trong dân cư, đan xen trong các giai tầng, cơ cấu xã hội và cơ cấu nghề
nghiệp. Thanh niên không phải là một giai cấp nhưng lại thường xuyên chịu
ảnh hưởng của các quan hệ giai cấp, của dư luận xã hội, của lối sống cộng
đồng. Vì thế có người cho rằng thanh niên là tấm gương phản chiếu của hình
ảnh xã hội.
13
- Thanh niên là lực lượng lao động dự trữ của xã hội, là tài nguyên vô
giá của mỗi quốc gia, dân tộc, là lực lượng tích cực tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chính vì vậy trong công cuộc cải tạo xã
hội, lực lượng chính trị nào nắm được thanh niên, lực lượng ấy sẽ dành phần
thắng trong tay. Lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam đã chứng minh cho
chân lý đó.
“Thiếu niên”: là trẻ em ít tuổi hơn thanh niên, vào khoảng từ mười tuổi
đến mười lăm tuổi. Chỉ các đội viên thuộc tổ chức Đội Thiếu niên ở các nước
xã hội chủ nghĩa (Theo Tự điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1994 do Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý, bổ sung)
- Điều 1, chương I của Điều lệ Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
(Ban hành kèm theo Quyết định số 319 QĐ/ĐTN ngày 10/9/2013 của Ban
Chấp hành Trung ương Đoàn khóa X) quy định: Đội viên Đội Thiếu niên tiền
muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội. Những quy định pháp
luật đó dù tốt đẹp bao nhiêu chăng nữa mà không được nhân dân biết đến thì
vẫn là lý thuyết.
Pháp luật của Nhà nước có thể được một số người tìm hiểu, quan tâm
và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu học tập, nghiên cứu hay từ nhu cầu sản xuất
kinh doanh của họ. Những người này luôn theo sát những quy định pháp luật
mới được ban hành để phục vụ trực tiếp cho công việc của mình, nhưng số
lượng đối tượng này không phải là nhiều. Trong điều kiện trình độ dân trí còn
chưa cao, đời sống kinh tế của đa số nhân dân còn gặp nhiều khó khăn cho nên
các đối tượng nằm trong sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật, nghĩa là số
đông nhân dân lao động trong xã hội chưa có điều kiện tiếp cận với pháp luật.
Phổ biến, giáo dục pháp luật chính là phương tiện truyền tải những
thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với người
dân, giúp cho người dân hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời mà không mất
quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập. Đó chính là
phương tiện hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân.
15
Hai là, hình thành lòng tin vào pháp luật của thanh thiếu niên
Pháp luật chỉ có thể được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh khi họ tin
tưởng vào những quy định của pháp luật. Pháp luật được xây dựng là để bảo
vệ cho quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng,
đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội. Khi nào người dân nhận thức đầy đủ
được như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi
người vẫn tự giác thực hiện. Tạo lập niềm tin vào pháp luật cho mỗi người và
cả cộng đồng đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố. Một trong các yếu tố đóng
vai trò quan trọng là phổ biến, giáo dục pháp luật để mọi người hiểu biết về
pháp luật, hiểu biết về quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật, tuyên truyền
vi hợp pháp, lên án các hành vi phi pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp
của con người với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của
con người đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời
sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân.
1.1.1.2. Yêu cầu, nguyên tắc đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh
thiếu niên
* Yêu cầu đối với việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên
Một là, đề cao tính Đảng trong phổ biến, giáo dục pháp luật.
Pháp luật và đường lối chính sách của Đảng có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Pháp luật bao giờ cũng là sự thể chế hoá đường lối chính sách của
Đảng, đường lối chính sách của Đảng là "linh hồn" của pháp luật. Do đó, phổ
biến, giáo dục pháp luật cũng chính là việc phổ biến, giáo dục đường lối,
chính sách của Đảng.
Thực hiện không đúng pháp luật hay vi phạm pháp luật đều làm tổn hại
tới Nhà nước và xã hội, tổn hại tới vai trò lãnh đạo của Đảng. Pháp luật được
thực hiện nghiêm minh, chính xác và đầy đủ thì uy tín lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước và xã hội được khẳng định. Do đó, công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật bao giờ cũng phải đề cao tính Đảng.
17
Phổ biến, giáo dục pháp luật có thể là phổ biến các văn bản quy phạm
pháp luật, có thể tuyên truyền về việc thực hiện và áp dụng pháp luật, phổ
biến từ cái chung đến cái cụ thể đều phải đề cao đến tính Đảng. Sự lơ là, coi
thường và không quán triệt đầy đủ tính Đảng sẽ rơi vào chủ quan duy ý chí,
phiến diện. Bởi vì đường lối chính sách của Đảng bao giờ cũng phản ánh quy
luật khách quan của quá trình vận động xã hội, nêu lên những yêu cầu, đòi hỏi
và đường lối phát triển kinh tế, văn hoá xã hội. Pháp luật cụ thể hoá đường lối
pháp luật, truyền đạt cho họ biết được các văn bản pháp luật và những điều
luật mới được ban hành mà còn phải giải thích về các văn bản pháp luật và
các điều luật đó. Một trong những yêu cầu đã trở thành nguyên tắc trong giải
thích pháp luật là phải bảo đảm tính khoa học. Tính khoa học trong giải thích
pháp luật trước hết đòi hỏi có trình độ pháp lý, chẳng hạn hiểu rõ thành phần
của quy phạm pháp luật để hiểu được quy phạm, hiểu nội dung quan hệ pháp
luật để phân biệt rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, từ đó nêu lên được ý
nghĩa của quy phạm trong việc điều chỉnh những quan hệ xã hội. Tính khoa
học trong giải thích pháp luật còn được thể hiện khi giải thích một văn bản
pháp luật hay một điều luật không chỉ đơn thuần giải thích về văn bản hay
điều luật đó, mà cần phải đặt một văn bản hay điều luật đó trong bối cảnh ban
hành pháp luật, những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội quy định nội dung,
hình thức pháp luật trong tổng thể của một hệ thống pháp luật hay của một
ngành luật, thấy được mối liên hệ giữa các văn bản pháp luật và các điều luật
với nhau. Phổ biến, giáo dục pháp luật bảo đảm tính lôgíc, tính chặt chẽ của
các văn bản pháp luật và các điều luật.
Ba là, bảo đảm tính đại chúng: phù hợp với đối tượng, dễ hiểu, dễ nhớ,
dễ áp dụng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật không những phải xuất phát từ đối tượng
được phổ biến, họ đang thiếu và cần cái gì mà còn phải phù hợp với trình độ
19
văn hoá, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc... và sử dụng ngôn ngữ đại
chúng, hành văn giản dị, ngắn gọn.
Bốn là, chọn được hình thức phù hợp.
Có nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác nhau, mỗi hình
thức có sự phù hợp với một hoặc một số đối tượng nhất định, do đó khi phổ
biến, giáo dục pháp luật phải xuất phát từ đối tượng được phổ biến, giáo dục