VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÒ THUẬN HẢI
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi trên cơ
sở định hướng của người hướng dẫn khoa học là TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi.
Các số liệu và kết quả đề cập trong luận văn là trung thực, có nguồn
gốc trích dẫn rõ ràng và chính xác.
Tác giả luận văn
Lò Thuận Hải
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ..................................................6
1.1. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất .........6
1.2. Khái quát sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất ................................................................................ 17
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ GIẢI
1993 và đặc biệt là khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời thì Nhà nước đã thừa nhận
cho người dân có năm quyền sử dụng đất là chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,
tặng cho, thừa kế. Quyền năng của người quản lý, sử dụng đất hợp pháp sẽ ngày
càng được đảm bảo tốt hơn, thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể và cũng là để
quản lý, khai thác đất đai có hiệu quả hơn. Luật Đất đai năm 2013 thay thế cho
Luật Đất đai năm 2003 và Bộ luật Dân sự năm 2015 thay thế cho Bộ luật Dân sự
năm 2005 đã giải quyết được phần nào những hạn chế, vướng mắc trong việc đảm
bảo thực hiện quyền của người sử dụng đất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người sử dụng đất. Hiện nay ở nước ta các văn bản pháp luật điều
chỉnh việc tranh chấp quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
đất tuy có nhiều nhưng vẫn chưa thực sự đồng bộ, còn chồng chéo nhau; nhiều
quy định không còn phù hợp, có sự mâu thuẫn với đời sống xã hội gây khó khăn
cho tòa án trong công tác giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất.
Tranh chấp quyền sử dụng đất là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã
hội. Đặc biệt, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đất đai trở thành
một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị thì các vụ tranh chấp quyền sử dụng đất có xu
1
hướng ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất, nhất là ở những
địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh. Mỗi năm, Tòa án nhân dân các cấp phải
thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ tranh chấp về quyền sử dụng đất. Nhìn chung,
ngành Tòa án nhân dân đã giải quyết thành công một lượng lớn các vụ tranh chấp
về quyền sử dụng đất, chất lượng xét xử ngày càng cao, phần nào bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác
nhau mà tại nhiều nơi hoạt động giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất chưa
thực sự đem lại hiệu quả như mong đợi, trong đó có cả yếu tố khách quan như: Cơ
chế quản lý đất đai còn nhiều bất cập, thiếu sót; chính sách, pháp luật không đồng
bộ, còn chồng chéo nhau nhưng lại chậm được sửa đổi bổ sung… Và yếu tố chủ
Trong thời gian qua, giới nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và khoa
học pháp lý nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp về
giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam với phạm vi và mức độ khác nhau. Có
thể kể ra một số công trình tiêu biểu như: Hướng dẫn và tìm hiểu các vấn đề về
tranh chấp, khiếu kiện đất đai của TS Nguyễn Ngọc Điện, Nhà xuất bản trẻ,
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996; Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp
đất đai bằng tòa án ở nước ta, Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Mai Thị Tú
Oanh, năm 2013. Sát hơn với đề tài nghiên cứu của Luận văn là các bài viết, các
công trình nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí, các báo có uy tín trong
nước như: Tranh chấp đất đai và khiếu kiện kéo dài: Những nguyên nhân có tính
lịch sử của tác giả Nguyễn Quang Tuyến trong báo cáo tham luận tại hội thảo
“Tình trạng tranh chấp và khiếu kiện đất đai kéo dài: Thực trạng và giải pháp”
năm 2008; Tác giả Tưởng Duy Lượng đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 23 và
24 năm 2006 với chủ đề: Một vài suy nghĩ về những quy định chung trong phần
chuyển quyền sử dụng đất, thẩm quyền giải quyết và hướng xử lý một vài tranh
chấp chuyển quyền sử dụng đất được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005...
Các đề tài và bài viết trên đã cung cấp một lượng lớn thông tin, phong phú và đa
dạng dưới các góc nhìn, các quan điểm khác nhau về những khía cạnh và những
nội dung có liên quan đến đề tài luận văn. Qua đó, có cái nhìn sâu sắc và nhận
diện vấn đề nghiên cứu một cách khoa học hơn.
Tuy các đề tài và bài viết kể trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh và ở những
mức độ khác nhau của vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai nhưng nếu nhìn một
cách tổng thể, hệ thống thì mỗi tác giả lại có những quan điểm chủ quan, hơi thiên
lệch về một góc độ nào đó, chưa xem xét vấn đề trong mối hài hòa, giao thoa giữa
3
các ngành luật. Mặt khác, trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội vẫn đang có những
thay đổi nhanh chóng thì các kết quả mà giới khoa học pháp lý nước ta đã đạt
tranh chấp quyền sử dụng đất điển hình, các quy định về giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và cơ chế thực hiện
tương ứng của Tòa án nhân dân qua thực tiễn áp dụng pháp luật ở tỉnh Sơn La (từ
năm 2012 đến năm 2017). Qua đó đưa ra các yêu cầu và đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Sơn La.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề đặt ra, người viết luận văn sử dụng phương pháp
lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng
hợp, trao đổi chuyên gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số kiến nghị của
đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật
trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật về quyền sử
dụng đất nói chung và pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nói riêng
ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và khái quát sự phát triển của pháp luật tố
tụng dân sự về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất.
Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Sơn La.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất theo pháp luật tố tụng dân sự từ thực tiễn tỉnh Sơn La.
5
và khi thực hiện các quyền của mình (chuyển nhượng, cho, tặng, cho thuê... quyền
6
sử dụng đất) thì phải được sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với
các điều kiện đã được pháp luật đất đai quy định. Tuy không đồng nhất các khái
niệm về quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, nhưng trong số 05 quyền của
người sử dụng đất tại Luật Đất đai năm 1993, sau đó mở rộng đến 10 quyền tại
Luật Đất đai năm 2003 và 08 quyền tại Luật Đất đai năm 2013 có nhiều quyền
mang tính chất định đoạt tài sản (giống như chủ sở hữu), nghĩa là việc thực hiện
quyền dẫn đến thay đổi người sử dụng đất với tư cách là chủ thể trực tiếp quản lý,
khai thác thửa đất, đó là quyền trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn, thừa
kế bằng quyền sử dụng đất. Mặc dù thủ tục thực hiện các quyền nêu trên của
người sử dụng đất tuy phức tạp hơn so với việc định đoạt các loại tài sản thông
thường khác, nhưng nếu nhìn từ góc độ khoa học pháp lý thì sẽ dễ dàng nhận thấy
quyền của người sử dụng đất thực chất là một tập hợp nhiều quyền năng về tài
sản, trong đó bao gồm cả quyền định đoạt. Chính vì vậy, “sáng t o ra khái niệm
quyền sử dụng đất, người iệt Nam dường như đ t o ra một khái niệm sở hữu
k p, một khái niệm sở hữu đa tầng: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền sử
dụng đất l i thuộc về cá nhân ho c t chức” [8, tr.169]. Sự tồn tại thiếu rõ ràng
của khái niệm “sở hữu k p” cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến
quá trình thực hiện quyền dân sự của người sử dụng đất, sự vận hành của thị
trường quyền sử dụng đất ở nước ta thời gian qua đã không phản ánh đúng bản
chất khách quan và bị bóp méo bởi các quyết định mang tính hành chính của các
chủ thể có thẩm quyền tại nhiều thời điểm, trong khi “yêu cầu số một đối với dự
án cải cách pháp luật dân sự, về phần liên quan đến quyền sở hữu là phải minh
định vị trí trung tâm của quyền sử dụng đất trong chế độ pháp lý về sở hữu tư
nhân, đ c biệt là trong chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân đối với bất động sản”
[Xem 4].
đai phải nghiêm chỉnh chấp hành, đảm bảo pháp chế.
Về mặt lý luận, các nhà khoa học đã định nghĩa về tranh chấp đất đai như
sau: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về
quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”
[44, tr.455]. Theo quan điểm này thì tranh chấp đất đai có khái niệm tương đối
rộng, các chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp là các chủ thể khi tham gia quan hệ
pháp luật đất đai bao gồm Nhà nước và người sử dụng đất; đối tượng của tranh
chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, quyền và nghĩa
vụ giữa các chủ thể là Nhà nước và người sử dụng đất khi tham gia vào quan hệ
8
pháp luật đất đai.
Về mặt pháp lý, tại Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định
“Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa
hai ho c nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Theo khái niệm này, tranh chấp đất
đai là tranh chấp về “quyền” và tranh chấp về “nghĩa vụ” liên quan đến đất đai của
người hiện đang quản lý, sử dụng đất với những người có liên quan trong quan hệ
đất đai, trong đó có cả các chủ thể là cơ quan quản lý nhà nước về đất đai. Nếu
hiểu một cách thuần túy tranh chấp đất đai là tranh chấp “giữa hai hoặc nhiều bên
trong quan hệ đất đai” thì đồng nghĩa sẽ có loại tranh chấp đất đai giữa cơ quan
quản lý Nhà nước về đất đai với người sử dụng đất. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn
với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Bởi lẽ, theo Điều 4 Luật Đất đai năm 2013
quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đ i diện chủ sở hữu và
thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo
quy định của Luật này”. Như vậy, định nghĩa tranh chấp đất đai theo Khoản 24
Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 sẽ gây nhiều cách hiểu không chính xác do có nội
hàm rộng. Nhiều quan điểm đã đồng tình với cách hiểu rằng: “Tranh chấp đất đai
là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về
chủ thể trong quan hệ đất đai trên cơ sở pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho bên bị xâm hại, đồng thời buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu
quả pháp lý do hành vi của họ gây ra, góp phần tăng cường pháp chế trong lĩnh
vực quản lý và sử dụng đất. Nói cách khác, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
đất là việc áp dụng các quy định của pháp luật vào giải quyết các xung đột giữa
các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai nhằm bảo vệ các quyền vào lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc xem xét giải quyết các tranh chấp
quyền sử dụng đất là một trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai
phát huy được vai trò trong đời sống xã hội. Thông qua việc giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất, Nhà nước điều chỉnh các quan hệ đất đai cho phù hợp với lợi
ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội và của người sử dụng đất. Đồng thời, giáo
dục ý thức tuân thủ và tôn trọng pháp luật cho mọi công dân, ngăn ngừa những
hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra, mang lại sự ổn định trong nội bộ nhân
dân, làm cho những quy định của pháp luật đất đai được thực hiện hiệu quả trong
cuộc sống.
10
1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất
Tranh chấp quyền sử dụng đất là một hiện tượng xã hội, có thể xảy ra ở
mọi lúc, mọi nơi. Theo Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì “tranh chấp
đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai ho c
nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Nói cách khác, tranh chấp quyền sử dụng đất là
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất trong quá trình quản lý
và sử dụng đất. Rõ ràng, các tranh chấp dạng này là những tranh chấp thuần túy,
mang đặc điểm chung của các tranh chấp kinh tế, dân sự. Tuy nhiên, bên cạnh
những đặc điểm chung đó thì tranh chấp quyền sử dụng đất cũng có những đặc
điểm riêng để phân biệt với những dạng tranh chấp khác:
và thống nhất quản lý nên đất đai không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp. Do
vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những
lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng [44, tr.456].
1.1.3. Phân loại tranh chấp quyền sử dụng đất và các hình thức giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
1.1.3.1. Phân lo i tranh chấp quyền sử dụng đất
Tranh chấp quyền sử dụng đất diễn ra phổ biến và phức tạp. Do đó, để giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, cần phải xác định được các dạng tranh chấp
quyền sử dụng đất. Việc phân loại chính xác các dạng tranh chấp quyền sử dụng
đất có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định chính xác việc đương sự có quyền khởi
kiện tranh chấp tại tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự hay tố tụng hành chính, tranh
chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay Uỷ ban nhân dân, xác
định thời hiệu khởi kiện, đồng thời là cơ sở để xác định trình tự, thủ tục và phương
hướng giải quyết tranh chấp.
Việc phân loại quan hệ pháp luật tranh chấp liên quan đến đất đai là vấn đề
tương đối. Trên thực tế có những vụ án, tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp
có cả dấu hiệu của tất cả các dạng tranh chấp. Để xác định tranh chấp thuộc dạng
tranh chấp quyền sử dụng đất nào, ngoài các quy định của Luật Đất đai cần căn cứ
vào các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam để xác định ai kiện, kiện
ai, kiện về vấn đề gì và kiện như thế nào để xác định quan hệ pháp luật.
Căn cứ theo Luật Đất đai năm 2013, có thể phân loại các dạng tranh chấp
liên quan đến đất đai như sau:
- Nhóm thứ nhất, tranh chấp xác định chủ thể có quyền sử dụng đất
Đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan
12
đến các giao dịch về đất và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Về bản chất khi
giải quyết các tranh chấp này, toà án phải xác định quyền sử dụng đất thuộc về ai.
ở, vật kiến trúc khác như nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô,
nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở; các công trình xây dựng trên đất
được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho
tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc
trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp
hay các cây lâu năm khác… gắn liền với quyền sử dụng đất đó. Tranh chấp trong
trường hợp này có thể là tranh chấp về ai là người có quyền sử dụng đất gắn liền
với tài sản, thừa kế hoặc tranh chấp về các hợp đồng liên quan đến tài sản gắn liền
với đất.
1.1.3.2. Các hình thức giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Tranh chấp quyền sử dụng đất là một trong những vấn đề thường hay xảy
ra trong cuộc sống của chúng ta. Có rất nhiều mâu thuẫn dẫn đến vụ việc không
đáng có này, nếu cứ để cho mọi thứ tiếp diễn thì xã hội sẽ trở nên hỗn loạn, mất
ổn định về chính trị, xã hội. Chính vì thế, việc đưa ra cách giải quyết tranh chấp
quyền sử dụng đất phải dựa trên cơ sở pháp luật, qua đó sẽ giúp cho mọi người
nhìn nhận đúng hành vi tranh chấp của mình là đúng hay sai, từ đó, đưa vụ việc
trở về đúng với trạng thái mà vốn dĩ nó phải có.
Khi có tranh chấp quyền sử dụng đất xảy ra trong cộng đồng dân cư, thì
theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sẽ tiến hành giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp đó theo quy định của pháp luật
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Trên cơ sở Luật Đất
đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành có thể phân loại phương thức
giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất như sau:
- Thứ nhất, giải quyết bằng biện pháp hòa giải
Hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất là biện pháp pháp lý giải quyết các
tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai trò
trung gian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích
hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến quyền sử
bản so với luật cũ năm 2003 về thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất,
tạo ra nhiều phương thức giải quyết tranh chấp cho các bên và để giải quyết tranh
chấp một cách triệt để nhất.
Khác với Luật Đất đai năm 2003, thì Luật Đất đai năm 2013 đã quy định rõ
ràng tại Khoản 3 Điều 203 về các loại vụ việc tranh chấp tương ứng với thẩm quyền
giải quyết của từng cấp Ủy ban nhân dân. Việc quy định cụ thể như hiện nay là phù
15
hợp, đảm bảo cho các bên tranh chấp có thể dễ dàng trong việc xác định cơ quan có
thẩm quyền, tránh tình trạng cơ quan nhà nước cố tình gây phiền toái kiểu thuộc thẩm
quyền của mình nhưng cũng thuộc thẩm quyền của cơ quan khác nên từ chối tiếp nhận.
- Thứ ba, áp dụng tập quán và án lệ vào giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá
nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần
trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân
tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự. Trường hợp các bên không có
thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp
dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3
của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, án lệ cũng có thể được sử dụng để giải quyết tranh chấp liên quan đến
quyền sử dụng đất. Theo Điều 1 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày
28/10/2015 của Hội đồng thẩm phán thì án lệ được định nghĩa là: “Những lập
luận, phán quyết trong bản án, quyết định đ có hiệu lực pháp luật của Tòa án về
một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn
và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên
cứu, áp dụng trong xét xử”. Việc áp dụng án lệ là phương thức hiệu quả để góp
phần nâng cao năng lực của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự,
thương mại, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài, bảo đảm việc áp
đất còn có thể làm ngừng trệ các hoạt động sản xuất kinh doanh, gây thiệt hai đến
lợi ích của các bên, lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội.
Như vậy, khi đánh giá tác động của tranh chấp đất đai đối với các mặt của
đời sống kinh tế - xã hội, chúng ta càng thấy được mức độ nguy hại của các tranh
chấp quyền sử dụng đất cũng như tính cấp bách trong việc giải quyết có hiệu quả
các tranh chấp này nhằm ổn định xã hội, tạo đà phát triển cho nền kinh tế của đất
nước: “Dân có giàu thì nước mới m nh”.
1.2. Khái quát sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết
tranh chấp quyền sử dụng đất
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của luật tố tụng dân sự Việt Nam
1.2.1.1. Nguồn của luật tố tụng dân sự iệt Nam
Nguồn của luật tố tụng dân sự Việt Nam bao gồm các văn bản pháp luật do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án,
17
người tham gia tố tụng và người liên quan phát sinh trong tố tụng dân sự. Các văn
bản pháp luật là nguồn của luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều
loại như Hiến pháp; Bộ Luật tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ Luật tố tụng dân sự; Luật Tổ chức tòa án nhân dân; Luật Tổ chức viện kiểm sát
nhân dân và các văn bản pháp luật khác [45, tr.17].
Hiến pháp là một nguồn quan trọng của luật tố tụng dân sự. Trong Hiến
pháp có nhiều quy định về nguyên tắc của hoạt động tố tụng dân sự như quy định
về hoạt động xét xử của tòa án có hội thẩm nhân dân tham gia; thẩm phán, hội
thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; tòa án xét xử công khai,
xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 103 Hiến pháp Nước CHXHCN iệt
Nam năm 2013)… Trên cơ sở những quy định này của Hiến pháp, các văn bản
quy định tương đối đầy đủ, cụ thể được các vấn đề về tố tụng dân sự, có tính đến
điều kiện lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy vậy, chúng vẫn còn mang tư tưởng
phong kiến lạc hậu và nhiều dấu ấn của Bộ luật tố tụng dân sự năm 1806 của Pháp
[45, tr.20].
* Giai đo n từ năm 1945 đến năm 1989
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra trang sử mới trong
lịch sử phát triển của dân tộc, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ ngày đầu
được thành lập, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới. Trong đó, có
nhiều văn bản có chứa đựng các quy phạm tố tụng dân sự như Sắc lệnh số 34 ngày
13/4/1945 bãi bỏ hai ngạch quan hành chính và quan tư pháp; Sắc lệnh số 46 ngày
10/10/1945 quy định tổ chức các đoàn thể luật sư; Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945
cho giữ tạm các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành
những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc, nếu những quy định trong luật lệ cũ
không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng
hòa; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền các tòa án; Sắc lệnh số
144/SL ngày 22/12/1949 mở rộng quyền bào chữa cho các đương sự; Sắc lệnh số
85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng,… Tuy những vấn
đề về tố tụng dân sự còn được các văn bản đó quy định tản mạn nhưng đây là những
quy định mang tính nguyên tắc đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật
tố tụng XHCN ở Việt Nam [45, tr.20].
Sau khi Hiến pháp năm 1959 ra đời, Luật tổ chức tòa án nhân dân 1960; Luật
tổ chức viện kiểm sát nhân dân 1960 được ban hành; nhiều thông tư hướng dẫn về
19
công tác xét xử dân sự cũng được ban hành như Thông tư số 614/DS1 ngày
24/4/1963 hướng dẫn một số thủ tục tố tụng cho tòa án địa phương; Thông tư số
594/NCPL ngày 27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp về thừa
kế; Thông tư số 06/TATC ngày 25/2/1974 hướng dẫn về công tác điều tra trong tố
quyết các tranh chấp lao động năm 1996 đã dẫn đến các quy định về tố tụng dân sự
bị xé lẻ, thiếu tập trung, chồng chéo, mâu thuẫn [45, tr.23].
* Giai đo n từ năm 2005 trở đi
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế - xã hội Việt Nam trong
những năm đầu của thế kỷ XXI đã không ngừng phát triển. Tuy vậy, sự phát triển
kinh tế - xã hội cũng đặt ra những yêu cầu mới về giải quyết các tranh chấp phát
sinh trong đời sống xã hội. Để góp phần thực hiện thắng lợi đường lối phát triển
kinh tế - xã hội của Đảng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các tranh
chấp, ngày 15/6/2004, Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XI đã thông qua Bộ Luật
tố tụng dân sự đầu tiên của nước CHXHCNVN tại kỳ họp thứ 5. Bộ luật này có
hiệu lực từ ngày 01/01/2005.
Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 gồm 418 điều được cơ cấu thành 9 phần,
36 chương. Nội dung của nó đã quy định được khá đầy đủ các vấn đề về tố tụng dân
sự như các nguyên tắc cơ bản; thẩm quyền dân sự của tòa án; cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; chứng minh và chứng cứ
trong tố tụng dân sự; biện pháp khẩn cấp tạm thời; cấp, tống đạt và thông báo các
văn bản tố tụng; án phí, lệ phí và chi phí tố tụng; thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi
kiện và thời hiệu yêu cầu; thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự; thủ tục thi hành án,
quyết định của tòa án; xử lý các hành vi cản trở tố tụng; khiếu nại, tố cáo trong tố
tụng dân sự; tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự,… [45, tr.24]. Việc ban hành Bộ
Luật tố tụng dân sự năm 2004 đã đánh dấu bước phát triển của hệ thống pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam, khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm
khuyết của các quy định tố tụng dân sự trước đây, đồng thời cũng thể chế hóa được
quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp. Từ đó, tạo
điều kiện thuận lợi cần thiết cho tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ
việc dân sự; bảo đảm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ được quyền, lợi ích
hợp pháp của mình trước tòa. Theo các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự, quy
trình tố tụng dân sự tại tòa án có sự thay đổi căn bản theo hướng dân chủ, công khai,
minh bạch. Trong đó, đương sự được có vai trò quyết định và chủ động trong việc
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước tòa án.