BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
………………./………………
……../…….
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐẶNG NHƯ PHÚ TÂN
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
ĐẮK LẮK, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
………………./………………
……../…….
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang phụ bìa
trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ......................................................................... 7
1.1. Quan niệm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính .............. 7
1.2. Các hình thức vi phạm hành chính về trật tự xây dựng và biện pháp
khắc phục..................................................................................................... 13
1.3. Nguyên tắc xử lý vi phạm trật tự về xây dựng ..................................... 18
1.4. Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính ........................................... 20
1.5. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. ............................................... 21
1.6. Thẩm quyền của các cơ quan trong quản lý trật tự xây dựng trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk ......................................................................................... 21
1.7. Quy trình xử lý vi phạm TTXD ........................................................... 30
1.8. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ........................................... 33
Tiểu kết Chương 1....................................................................................... 34
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ VPHC VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK ......................... 36
2.1. Tổng quan về huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk ....................................... 36
2.2. Thực trạng tình hình vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa
bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk .............................................................. 44
2.3. Thực trạng trong áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự
xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk ................................. 50
2.4. Nhận xét chung về tình hình xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây
: Uỷ ban nhân dân
VPHC
: Vi phạm hành chính
DANH MỤC HÌNH VẼ
Bản đồ Sử dụng đất huyện Cư Kuin ........................................................... 38
DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu 2.1. Hiện trạng sử dụng đất 2016 ........................................................... 38
Biểu 2.2. Diện tích sử dụng đất của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện .... 40
Biểu 2.3. Kết quả kiểm tra xử lý vi phạm hành chính trật tự xây dựng năm
2015
......................................................................................................... 47
Biểu 2.4. Kết quả kiểm tra xử lý vi phạm hành chính trật tự xây dựng năm
2016
......................................................................................................... 48
Biểu 2.5. Số liệu các trường hợp xây dựng trái phép trên đất của các Doanh
nghiệp quản lý, sử dụng năm 2010 ................................................................. 49
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quản lý xây dựng là một lĩnh vực rất rộng, liên quan tới nhiều ngành,
lĩnh vực pháp luật không chỉ pháp luật về xây dựng mà còn có Luật Hành
chính, Luật Hình sự, Luật Nhà ở, Luật Đất đai... Vì vậy, vi phạm hành chính
hóa đất nước, tốc độ phát triển đô thị diễn ra khá nhanh. Đô thị hoá nhanh
đồng nghĩa với việc các hạng mục công trình nhanh chóng được xây dựng
nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu về nhà ở, thương mại dịch vụ, sản xuất
phát triển của cộng đồng dân cư đô thị.
Tình hình vi phạm hành chính về trật tự xây dựng đô thị đã và đang là
một vấn đề nóng bỏng trong thực tế các đô thị ở nước ta hiện nay. Hiện tượng
xây dựng không phép, sai phép, xây dựng trên đất không được phép xây dựng
xảy ra ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí
Minh… Có thể nhận thấy các công trình vi phạm trật tự xây dựng và phát
triển đô thị ngày càng nhiều và đa dạng hơn. Mức độ vi phạm trật tự xây dựng
ngày càng tăng và diễn biến phức tạp (sử dụng đất không đúng mục đích, xây
dựng trên đất không được phép xây dựng, xây dựng không có giấy phép xây
dựng, xây dựng sai giấy phép xây dựng…).
Cho đến nay, sau gần 10 năm hình thành và phát triển, huyện Cư Kuin
đã đi lên và phát triển mạnh về nhiều mặt. Không nằm ngoài xu thế chung của
tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, quá trình đô thị hóa cũng đang diễn ra
khá mạnh mẽ trên địa bàn huyện. Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, nhu cầu xây
dựng các công trình, nhà ở của người dân ngày một tăng cao; dẫn đến tình
hình vi phạm về trật tự xây dựng ngày càng nhiều, các công trình xây dựng
không phép, sai phép, xây dựng trên đất không được phép xây dựng, xây
2
dựng trên đất doanh nghiệp diễn ra ngày càng nhiều. Việc quản lý, xử lý vi
phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện vì thế mà được đặt ra
một cách cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhận thức được tầm quan trọng của công
tác xử lý, quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin nói riêng, đồng
thời qua tìm hiểu và xem xét về công tác xử phạt vi phạm trật tự xây dựng của
huyện Cư Kuin em quyết định lựa chọn đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính về
trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn
liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của luận
văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích cơ sở lý
luận xử phạt vi phạm hành chính về trật tự xây dựng; đánh giá thực trạng, các
thành công việc tổ chức thực hiện áp dụng trong thực tiễn từ đó đề xuất các
giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện công tác xử lý vi phạm trật tự về xây
dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin.
- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích đề ra, luận văn có những nhiệm vụ
sau:
+ Làm rõ cơ sở lý luận xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng.
+ Đánh giá tổ chức thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về
trật tự xây dựng, làm rõ những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân trong tổ
chức thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên
địa bàn huyện Cư Kuin.
4
+ Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cụ thể để nhằm hoàn thiện xử lý
vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư Kuin.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác tổ chức thực
hiện xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Cư
Kuin.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp luật, áp dụng pháp
luật liên quan đến khái niệm, bản chất, đặc trưng của xử lý vi phạm hành
chính về trật tự xây dựng; khái niệm, đặc điểm pháp luật xử lý vi phạm hành
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT
TỰ XÂY DỰNG
1.1. Quan niệm vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính
1.1.1. Định nghĩa vi phạm hành chính
Khi đề cập đến pháp luật xử phạt vi phạm hành chính thì một trong
những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu là cơ sở của việc xử phạt vi phạm
hành chính. Cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính là có hành vi vi phạm
hành chính được pháp luật quy định. Việc nghiên cứu về khái niệm hành vi vi
phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận quan trọng vừa mang tính thực tiễn
sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về hành vi vi phạm hành chính
mới có thể xác định được các vi phạm hành chính cụ thể trong từng lĩnh vực
quản lý nhà nước. Xác định được đúng hành vi vi phạm hành chính, tức là xác
định đúng cơ sở xử phạt, thì việc thực hiện xử phạt hành chính mới bảo đảm
chính xác, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ
chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt hành
chính là nhằm lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục
người vi phạm và răn đe, phòng ngừa vi phạm trong tương lai, tránh được sự
tuỳ tiện trong xử phạt hành chính.
Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, vi phạm hành
chính thường được hiểu một cách chung nhất là hành vi vi phạm các quy tắc
quản lý của Nhà nước nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tục
hành chính do những người có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhà
nước tiến hành mà không phải là cơ quan Tòa án với các thủ tục tư pháp.
Trước khi Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 được Uỷ ban thường
vụ Quốc hội ban hành thì các văn bản pháp luật chỉ đề cập đến khái niệm “vi
7
này và phải chịu các hình thức xử phạt hành chính theo quy định…”. Luật về
xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1996 (Điều 3)
định nghĩa vi phạm hành chính là “hành vi vi phạm trật tự hành chính của
công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt
hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các
hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo
thủ tục do Luật này quy định”. Trong khi đó, theo quy định của Bộ Luật xử
phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa liên bang Nga[3] thì vi phạm hành
chính được định nghĩa là “hành động (không hành động) của thể nhân hoặc
pháp nhân, trái pháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc các luật của Cộng
hòa liên bang Nga quy định phải chịu trách nhiệm hành chính”.
Trong pháp luật Việt Nam, định nghĩa “vi phạm hành chính” lần đầu
tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành
chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm hành
chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo
quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Định nghĩa này sau đó
đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các
giáo trình giảng dạy về pháp luật. Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
năm 1995, sau đó là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi,
bổ sung năm 2007 và 2008) và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì
khái niệm vi phạm hành chính không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được
đưa “lẩn” vào trong khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”, nếu trích dẫn từ
định nghĩa về “vi phạm hành chính” được quy định tại Khoản 2, Điều 2 Luật
Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[23] thì vi phạm hành chính được hiểu là
“Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và
9
thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm. Đây có thể coi là
dấu hiệu “tinh thần” của vi phạm.
Tại Khoản 1, Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 định
nghĩa Vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi do cá
nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định
của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
1.1.2. Khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”
Vi phạm hành chính là hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các qui định của
pháp luật về quản lý nhà nứớc mà không phải phạm tội và theo qui định của
pháp luật phải bị xử lý hành chính.
Xử lý vi phạm trật tự xây dựng bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và
các biện pháp xử lý hành chính khác trong hoạt động quản lý nhà nước về trật
tự xây dựng.
Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp
dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức
thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính.
Xử lý vi phạm hành chính là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước (các chế tài hành chính) đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi
phạm hành chính. Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành thì xử lý vi
phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính khác.
Xử phạt vi phạm hành chính bao gồm các chế tài chủ yếu đánh vào lợi
ích kinh tế, tinh thần của người vi phạm. Các chế tài xử phạt hành chính bao
11
gồm hình thức xử phạt chính, hình thức phạt bổ sung, biện pháp khắc phục
đúng quy định của pháp luật sẽ bị buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc
buộc tái xuất.
- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường
sống, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra (ví dụ: buộc thực hiện
biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước đối với nhà máy sản xuất
phân bón không thực hiện các biện pháp xử lý chất thải gây ra tình trạng ô
nhiễm).
- Buộc tiêu huỷ văn hóa phẩm độc hại, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ
con người và vật nuôi, cây trồng.
- Ngoài những biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên, các Nghị định của
Chính phủ về xử phạt hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước còn
quy định thêm các biện pháp khắc phục hậu quả khác mà người có thẩm
quyền được áp dụng khi xử phạt vi phạm hành chính.
1.2. Các hình thức vi phạm hành chính về trật tự xây dựng và biện
pháp xử lý
1.2.1. Các hình thức vi phạm hành chính về trật tự xây dựng
1.2.1.1. Công trình không phép
Là những công trình đi vào khởi công mà vẫn chưa được phép của cơ
quan quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn. Việc xin phép với những
công trình này là bắt buộc nhưng chủ đầu tư không xin cấp giấy phép. Hậu
quả dẫn đến với những loại công trình này thường là xây dựng không đúng
theo quy hoạch chi tiết của Huyện, xã…, xây dựng không đúng chỉ giới
13
đường đỏ dễ gây tranh chấp đất đai, các biện pháp thi công không được kiểm
soát dễ gây ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, cảnh quan đô thị...[2,Điều
5].
Hành vi xây dựng không phép trên đất không đủ điều kiện để cấp giấy
phép xây dựng xử lý bằng biện pháp dỡ bỏ. Hậu quả dẫn đến những công
xét cấp phép xây dựng, sau đó nếu đảm bảo một trong các điều kiện sau: Xây
trên đất ở có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà; xây
dựng mới trên nền nhà cũ hoặc cải tạo nhà đang ở phù hợp qui hoạch xây
dựng; công trình xây dựng có đủ điều kiện về cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất... Khi phát hiện, cơ quan chức năng sẽ lập biên bản ngừng thi công,
yêu cầu chủ đầu tư làm thủ tục xin cấp Giấy phép xây dựng.
Nếu chủ đầu tư không chấp hành thì cơ quan chức năng đình chỉ thi
công. Trong thời hạn 60 ngày kể từ khi có quyết định đình chỉ thi công, nếu
chủ đầu tư không xuất trình Giấy phép xây dựng thì công trình sẽ bị cưỡng
chế phá dỡ. Sau khi được cấp Giấy phép xây dựng, nếu công trình đã xây
dựng sai nội dung giấy phép thì chủ đầu tư phải tự phá dỡ phần sai nội dung
giấy phép được cấp mới được tiếp tục thi công. Nếu không chấp hành thì công
trình phải bị cưỡng chế, đồng thời chủ đầu tư phải chịu toàn bộ chi phí tổ
chức cưỡng chế này.
Nghị định cũng qui định trách nhiệm của các bên trong quá trình xây
dựng công trình. Theo đó, chủ đầu tư, nhà thầu thi công phải ngừng thi công
công trình khi có biên bản ngừng thi công của cơ quan chức năng và phải bồi
thường thiệt hại do mình gây ra.
15
Đơn vị giám sát, tư vấn thiết kế nếu thông đồng hoặc để chủ đầu tư,
nhà thầu thi công làm sai thiết kế xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng còn bị
xử lý hình sự. Chủ tịch UBND các cấp cũng phải chịu trách nhiệm về tình
hình vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn.
Ngày 10/10/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 121/2013/NĐCP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh
doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản
lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (sau đây gọi
tắt là Nghị định 121/2013/NĐ-CP) thay thế cho Nghị định số 23/2009/NĐCP.
dỡ thì cũng gây lãng phí lớn cho xã hội, có những trường hợp
đã kéo dài nhiều năm nhưng cũng chưa xử lý được triệt để.
Các công trình áp dụng quy định này phải đảm bảo điều kiện
không vi phạm chỉ giới xây dựng, không gây ảnh hưởng các
công trình lân cận, không có tranh chấp, xây dựng trên đất
thuộc quyền sử dụng hợp pháp, chứ quy định mới này không
áp dụng đối với tất cả các công trình xây dựng sai phép, không
phép [4,Điều 70].
Ngày 12/02/2014, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 02/2014/TTBXD hướng dẫn một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, trong đó có
một số điều hướng dẫn cụ thể khoản 9 Điều 13 và khoản 2 Điều 70 của Nghị
định số 121/2013/NĐ-CP, cụ thể là:
- Tại Điều 8 của Thông tư số 02/2014/TT-BXD hướng dẫn phương
pháp tính giá trị phần xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế được
17