MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU......................................................................................................
B. NỘI DUNG...................................................................................................
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quần chúng nhân dân
trong phòng chống tham nhũng.
1.1
Một số khái niệm
1.2
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của
Đảng ta về tham nhũng và phòng chống tham nhũng
1.3
Vai trò của quần chúng nhân dân đối với cuộc đấu tranh chống tham
nhũng
Chương 2: Thực trạng Quần chúng nhân dân đối với việc phòng chống
tham nhũng ở nước ta hiện nay
2.1. Một số nét về kinh tế- xã hội và thực trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay
2.2. Thực trạng Quần chúng nhân dân với đấu tranh chống tham nhũng trong
thời gian qua
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao vai trò của quần chúng nhân dân
trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay
3.1. Phát huy vai trò giám sát của các đoàn thể nhân dân
3.2. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong đấu tranh chống tham nhũng
3.3. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân
dân
của quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta
hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình để thông qua nghiên cứu, phần nào
có thể làm rõ hơn vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân trong đấu tranh
chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.
2
B. NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quần chúng nhân dân
trong phòng chống tham nhũng
1.1.
Một số khái niệm
1.1.1 Quần chúng nhân dân là gì?
Nhân dân là bộ phận đông đảo những người thuộc nhiều giai cấp, tầng
lớp xã hội khác nhau, chủ yếu là những người lao động, phân biệt với bộ phận
khác là giai cấp và tầng lớp thống trị xã hội.Quần chúng nhân dân là khái
niệm chỉ bộ phận đông đảo nhân dân, phân biệt một cách tương đối dưới dạng
chủ thể con người chính trị với bộ phận khác là những người đứng đầu hay
lãnh tụ chính trị và đội ngũ tinh hoa (cán bộ lãnh đạo chính trị )
Quần chúng nhân dân là tập đoàn đông đảo những người liên hiệp với
nhau theo cùng một luật pháp và cùng một cộng đồng lợi ích nào đó. Họ là
chủ thể của mọi quyền lực xã hội nhưng lại là lực lượng bị cai trị trong quan
hệ với chính quyền nhà nước. Quần chúng nhân dân là một lực lượng xã hội
có sức mạnh tự nhiên. Khi đựơc tổ chức lại, giữ vai trò quyết định trong đời
sống chính trị và những biến cố chính trị.
1.1.2 Tham nhũng là gì?
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có từ rất lâu trong lịch sử loàii
Chính vì vậy để giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
nhân dân, đảng ta cần đề ra những chủ trương, chính sách, biện pháp đúng đắn
phù hợp. Đảng phải lãnh đạo toàn dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh
chống tham nhũng những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, làm sai trái
pháp luật để thu lợi bất chính hoặc nhũng nhiễu nhân dân, xã hội có lành
mạnh, bộ máy Đảng, nhà nước có trong sạch, thì các yếu tố tích cực mới có
điều kiện phát huy, nhân rộng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và bảo vệ Tổ quốc.
1.1.4. Hậu quả và tác hại của tham nhũng
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có ảnh hưởng tiêu cực tới tất cả
các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội.
Về kinh tế : Tham nhũng làm thất thoát công quỹ, năng suất lao động
giảm, thậm chí có thể triệt tiêu động lực lao động. Trước mắt tham nhũng
chẳng những bóc lột người lao động mà còn về lâu dài khi công quỹ bị thâm
hụt chúng ta phải vay để phát triển và tất nhiên con cháu chúng ta phải gánh
chịu những khoản nợ khổng lồ đó. Hậu quả này chúng ta có thể nhìn thấy rất
rõ ở một số nước châu phi.
Về chính trị -xã hội:
4
Tham nhũng làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo, ảnh hưởng xấu đến
giá trị chuẩn mực xã hội, là nguyên nhân dẫn đến tệ lãng phí và cũng là nguồn
cơn dẫn đến sự sa đoạ về đạo đức, lối sốngcủa cán bộ đảng viên.
Tham nhũng sẽ làm mất long tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và
chế độ xã hội chủ nghĩa.
Như vậy tham nhũng có thể làm hỏng đời sống, kinh tế,xã hội, thậm chí
làm tăng tình trạng nợ nần, bần cùng hoá của đất nước và không loại trừ khả
năng làm đổ vỡ chính quyền, đánh mất chủ quyền, quốc gia, dân tộc.
Hiện nay ở nước ta tham nhũng đang trở thành bệnh dịch lây lan phổ
sự tồn vong của mọi nhà nước. Trong đó nhà nước xã hội chủ nghĩa ông cũng
khẳng định nạn tham nhũng, hối lộ cùng với bệnh kiêu ngạo cộng sản chủ
nghĩa, nạn mù chữ là một trong ba nguy cơ lớn của xã hội. Và theo Lênin phải
luôn nhắc nhở cán bộ Đảng và nhà nước cần hiểu rằng cuộc đấu tranh chống
quan liêu, tham nhũng là tuyệt đối cần thiết và cũng phức tạp như cuộc đấu
tranh chống xu thế tự phát tiểu tư sản. Lênin cũng đã miêu tả những biện pháp
để khắc phục như các cán bộ đảng viên cộng sản phải công minh, gương mẫu
giữ gìn kỷ cương phép nước làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh có uy tín
trong quần chúng.
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tham nhũng và phòng chống tham
nhũng
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí,quan liêu là giặc “nội xâm”.
Quan điểm của Hồ Chí Minh là: “tham ô,lãng phí, bệnh quan liêu dù có ý hay
không cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Tội lỗi ấy cũng
nặng như tội lỗi việt gian, mật thám”.
Vì thế Người thường căn dặn cán bộ chính quyền luôn phải kiên quyết
chống tệ quan liêu, tham nhũng, hối lộ, ức hiếp quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cúng đã chỉ ra một số hành vi tham nhũng mà cán bộ nhà nước đã mắc
phải như tham ô của công, đục khoét của dân, lợi dụng của công ăn hối lộ…
Những ngày đầu lãnh đạo Đảng và nhân dân xây dựng đất nước. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: tiêu cực, tham ô sẽ gây ra hậu quả khôn
lường cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội “nó làm hỏng tinh thần trong sạch
phá hoại đạo đức cách mạng của Đảng ta là cần, kiệm, liêm, chính…mà
những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức
lực, tiêu hao của cải của chính phủ và của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh đó là những căn bệnh xấu xa của xã hội do lòng tự tư, tư lợi, ích kỉ
hại nhân dân mà ra. Nó được hình thành bởi chế độ người bóc lột người vì vậy
chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do bình đẳng, một xã
6
8/1999) ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII, Đảng ta đã phê phán nạn
7
quan liêu, tham nhũng nghiêm trọng, kéo dài, và lãng phí nặng nề của bộ máy
nhà nước, gây bất bình trong nhân dân đe doạ sự sống còn của chế độ.
Báo cáo của chính phủ trước kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá IX đã nhânj
định: “ Bộ máy hành chính nhà nước cồng kềnh, thiếu trong sạch, kém năng
lực và hiệu lực. Tệ quan liêu tham nhũng còn nặng, gây khó khăn và thiệt hại
cho dân”.
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng, sau khi phân tích 4
nguy cơ đối với đất nước, chế độ, Đảng ta đã nhấn mạnh: “ Tình trạng tham
nhũng và suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối chủ trương
chính sách của Đảng, gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân. Do đó,
sau đại hội IX, Đảng ta ra nghị quyết lần 4 (tháng 11/2001) chỉ rõ phải tiếp tục
thực hiện nghị quyết lần VI của Ban chấp hành trung ương khoá VIII. Hội
nghị cũng đề xuất 6 nguyên nhân và 10 giải pháp. Hội nghị ban chấp hành
trung ương lần thứ 9 tiếp tục nhấn mạnh: “điều làm cho dân còn nhiều bất
bình, lo lắng, bức xúc nhất hiện nay là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng
phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và phẩm chát đạo đức, lối sống của một bộ
phận cán bộ, đảng viên còn rất nghiêm trọng. Kỷ cương phép nước trong
nhiều việc, nhiều lúc chưa nghiêm.
Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI các đại biểu Quốc hội đã thảo luận
nghiêm túc về dự luật phòng chống tham nhũng và dự án luật thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí.
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006) cũng chỉ rõ
“ tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi
bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng, nhằm xây dựng một bộ
trong công cuộc phòng chống tham nhũng.
Chương 2: Thực trạng Quần chúng nhân dân đối với việc phòng
chống tham nhũng ở nước ta hiện nay
2.1 Một số nét về kinh tế- xã hội và thực trạng tham nhũng ở nước
ta hiện nay
2.1.1 Tình hình kinh tế- xã hội.
9
Tại Đại hội X (tháng 4/2006), Đảng ta đã đánh giá 20 năm đổi mới và
khẳng định: “Với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân,
công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa
lịch sử”.
Đất nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội có sự
thay đổi căn bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đang được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân đang được cải thiện rõ rệt, hệ
thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, tăng cường.
Chính trị xã hội được ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững. Vị thế của
nước ta trên trường quố tế không ngừng được nâng cao, mở ra thế và lực mới
cho đát nước tiếp tục đi lên. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ.
Tuy nhiên, nước ta hiện nay cũng đang đứng trước nhiều thách thức lớn
đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. Nguy cơ tụt hậu xa
hơn về kinh tế so với một số nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.
Tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liên, tham nhũng, lãng phí vẫn đang
diễn ra nghiêm trọng và chưa được ngăn chặn hiệu quả. Những biểu hiện xa
rời mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục. Các thế lực
các cơ quan bảo vệ pháp luật như công an, thanh tra, kiểm soát, toà án và vào
cả các lĩnh vực nhạy cảm liên quan trực tiếp tới con người như giáo dục đào
tạo…
Chính vì thế, vấn đề tham nhũng đã được nêu ra khá gay gắt ở nhiều
khoá quốc hội, nhiều nhiệm kỳ của chính phủ và gây bức xúc cho toàn xã hội.
Tham nhũng trở thành nguy cơ lớn đe doạ đến sự sống còn của chế độ.
Theo số liệu thống kê của hội nghị báo cáo tổng kết năm năm thực hiện
chương trình quốc gia phòng chống tội phạm thì trong năm năm (2002-2006).
Các lực lượng điều tra đã khám phá ra 266.297 vụ phạm tội các loại, triệt phá
163.458 băng ổ nhóm tội phạm hình sự, phát hiện và bắt giữ 6.712 vụ xâm
phạm tài sản nhà nước lợi dụng chức quyền để làm giàu cho bản thân. Theo số
liệu thống kê thì số người bị khởi tố vì lợi dụng quyền hạn, chức vụ chiếm
đoạt tài sản chủ nghĩa xã hội hàng năm chiếm tỷ lệ 8 đến 10% trong tổng số
tội phạm nói chung.
Tham nhũng không chỉ dừng lại ở lĩnh vực đầu tư mà còn ở nhiều lĩnh
vực, ở nhiều cấp quản lý. Những con số thiệt hại của nhà nước thu được trong
nhiều vụ tham nhũng liên tục bị phát hiện gần đây thể hiện tính nghiêm trọng
11
và phưc tạp của vấn đề. Vụ án Minh Phụng chiếm đoạt 3.876 tỷ đồng của nhà
nước, vụ án Năm Cam lôi kéo 156 cán bộ có quyền, có chưc như công an, nhà
báo,… vụ án Lã Thị Kim Oanh lôi kéo những người có chức có quyền như
thứ trưởng, bộ trưởng… đã bị thoái hoá biến chất. Và nhiều vụ án khác như vụ
trốn thuế của công ty Đông Nam Á và buôn lậu 840 tỷ đồng. Gần đây nhất là
vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của cán bộ thị xã Đồ Sơn- Hải Phòng tham
nhũng đất đai gây thiệt hại 23 tỷ đồng. Tiếp đó là vụ Mai Văn Dâu- thứ trưởng
Bộ thương mại lợi dụng chúc vụ tham ô, nhận hối lộ gây thiệt hại nghiêm
trọng. Tham nhũng còn xẩy ra ở nhiều nơi trên nhiều lĩnh vực khác nhau gây
hậu quả nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển của đất nước, làm mất lòng tin
phát triển kinh tế -xã hội nhằm củng cố niềm tin của nhân dân và chống âm
mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới và đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế-xã
hội, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm chú trọng nhiệm vụ đấu tranh chống tham
nhũng, quan liêu, lãng phí; coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu trong toàn bộ công tác lãnh đạo, quản lý của Đảng và các đoàn thể
nhân dân từ trung ương đến cơ sở.
Đảng ta luôn nhấn mạnh: đấu tranh chống tham nhũng có mối quan hệ
trực tiếp đến việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước. Chống
tham nhũng có hiệu quả sẽ làm hạn chế thất thoát các nguồn lực của Nhà
nước, của xã hội; tăng cường được mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân
dân; củng cố được quan hệ công- nông- trí thức, củng cố khối đại đoàn kết
dân tộc, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ đựơc nâng cao;
kẻ địch khó có thể thực hiện “Diễn biến hoà bình” chia rẽ nội bộ chúng ta.
Đảng, Nhà nước ta đã xác định và nhận thức rõ đấu tranh chống tham
nhũng chính là góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu
lực quản lý Nhà nước, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh,
bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, củng cố và bảo vệ những thành tựu của
sự nghiệp đổi mới.
Các cấp uỷ Đảng, chính quyền lãnh đạo và triển khai thực hiện kịp thời
một số nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng.
Thứ hai: Nhân dân tham gia ngày càng tích cực vào công tác giám sát,
kiểm tra việc xây dựng các quy chế, quy định của đơn vị, địa phương.
Với việc phát huy dân chủ, nhất là từ khi triển khai thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở, sự tham gia của nhân dân đã có những hiệu quả rõ rệt, góp
13
14
Thứ ba: Nhân dân tham gia tích cực, chủ động vào công tác thanh tra
nhân dân.
Nhân dân đã tham gia tích cực vào việc tiến hành thanh tra như cử đại
diện tham gia đoàn thanh tra, cung cấp tài liệu, chứng cứ, tham gia góp ý kiến,
thông qua kết luận thanh tra và xử lý sau thanh tra, góp phần quan trọng trong
việc phát hiện ra các vụ việc tham nhũng, tiêu cực, giải quyết ổn định tình
hình cơ sở ở các địa phương. Điển hình như ở Thái Bình, hầu hết các đoàn
thanh tra diện rộng thành lập theo nghị quyết 06 của tỉnh uỷ và kế hoạch 77
của Uỷ ban nhân dân tỉnh đều có sự tham gia của nhân dân, chính vì vậy việc
phát hiện những vi phạm ở cơ sở luôn đảm bảo tính chính xác, khách quan,
khi kết luận thanh tra cơ bản được nhân dân đồng tình ủng hộ. Tại các địa
phương nhân dân tích cực tham gia vào công tác thanh tra nhằm thực hiện
quyền lợi và nghĩa vụ công dân đối với việc xây dựng Đảng, chính quyền ở
địa phương. Trong các doanh nghiệp nhiều ban thanh tra nhân dân đã được
kiện toàn đi vào hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ bước đầu có hiệu
quả như ban thanh tra nhân dân xí nghịêp điện quang Đồng Nai đã phát hiện
Giám đốc nâng khống 87.700 lít xăng trị giá 254 triệu đồng.
Trong những năm qua. mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng nhân dân ở
các địa phương đã bàn bạc dân chủ, tự nguyện đóng góp hàng trăm tỷ đồng
xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi ở nông thôn.
Tại tỉnh Cần Thơ, trong 3 năm (1998-2000) nhân dân đã đóng góp xây dựng
2.600 công trình trị giá 397 tỷ đồng tăng gấp 2 lần thời kỳ 8 năm (1990-1997);
phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò tỉnh Nghệ An làm đường nhựa, nhân dân
đóng góp 400 triệu đồng, có gia đình cho vay 20 triệu đồng không lấy lãi;
thành phố Đà Nẵng di dời 18.000 hộ dân với trên 80.000 nhân khẩu để giải
phóng mặt bằng xây dựng công trình đo thị nhưng cũng không để xảy ra khiếu
do nhân dân bầu ra. Sự giám sát, kiểm tra đó đã góp phần nâng cao trách
nhiệm của chính quyền, của cán bộ, hạn chế được tham nhũng, tiêu cực tạo sự
phấn khởi tin tưởng trong nhân dân.
Thứ năm: Nhân dân trực tiếp đấu tranh chống tham nhũng thông qua
việc khiếu nại, tố cáo và thông qua các diễn đàn nhân dân, nhất là bằng các
phương tiện thông tin đại chúng.
Ngoài việc đóng góp ý kiến trực tiếp với cán bộ, đảng viên ở các cấp,
ngành, người dân còn gửi thư, đơn đến các cơ quan chức năng, cơ quan thông
tin báo chí ở trung ương và địa phương góp ý, phát hiện những sai phạm về
kinh tế, tham nhũng, tiêu cực. Trước sự đấu tranh chống tham nhũng mạnh mẽ
của nhân dân và tránh dẫn đến mất ổn định tình hình, Đảng và Nhà nước ta đã
16
chỉ đạo các cấp, các ngành và các đoàn thể quần chúng khẩn trương chấn
chỉnh, kiện toàn, củng cố công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố
cáo của công dân. Đặc biệt hầu hết các cơ quan, đơn vị, địa phương đều đã bố
trí cán bộ, phương tiện, trụ sở tiếp công dân cũng như rà soát, bổ sung, hoặc
xây dựng các quy chế, quy định nhằm khắc phục tình trạng gây phiền hà, sách
nhiễu; phân công lãnh đạo phụ trách; một số nơi có hòm thư góp ý để thu thập
ý kiến của cán bộ, nhân dân. Trong 5 năm từ 2001-2005 cả nước đã tiếp 1,4
triệu công dân khiếu tố, riêng trụ sở tiếp dân của Đảng và Nhà nước ở Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh đã tiếp gần 100.000 lượt công dân, trong đó có 2.492 lượt
tiếp đoàn đông người.
Công tác tiếp và giải quyết khiếu tố của công dân trên toàn quốc cho
thấy: cơ bản việc khiếu tố của nhân dân là đúng, các hiện tượng tham nhũng,
mất dân chủ ở cơ sở là có thực và thực sự là nguyên nhân gây bức xúc cho
nhân dân. Theo dữ liệu của một số kỳ họp quốc hội những năm qua cho thấy,
trong số những đơn tố cáo của nhân dân thì có 90% là đúng sự thật, chỉ có
10% là không đúng hoàn toàn. Tuy nhiên, do mở rộng dân chủ, nhân dân được
Nhà nước ở trung ương cũng như các cấp uỷ đảng và chính quyền các địa
phương. Từ nhận thức được mối nguy hiểm của thứ giặc “ nội xâm” và nắm
bắt được nhu cầu, nguyện vọng dân chủ của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta
đã coi đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn
hiện nay. Các cấp uỷ, chính quyền các địa phương đã ban hành nghị quyết, chỉ
thị trực tiếp về công tác đấu tranh tham nhũng và chỉ đạo triển khai, kiểm tra,
đôn đốc, bổ khuyết kịp thời có hiệu quả, Các cấp uỷ đảng, chính quyền các
địa phương đã quan tâm triển khai việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở một
cách đồng bộ ở tất cả các cơ sở xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp…các vụ
việc tham nhũng thì được quần chúng nhân dân phát hiện và các cơ quan chức
năng có kêt luận đã được xử lý nghiêm minh, công bằng.
Thứ hai: Trình độ dân trí, sự hiểu biết về dân chủ, pháp luật, quyền lợi,
nghĩa vụ và trách nhiệm công dân của người dân đã được nâng cao. Nhân dân
đã phát huy vai trò, trách nhiệm công dân trước yêu cầu của nhiệm vụ cách
mạng giai đoạn mới; dũng cảm cùng với báo chí, các cơ quan tư pháp quyết
tâm đấu tranh chống tệ tam nhũng đang có nguy cơ đưa đất nước đi chệch
hướng.
2.2.2. Những hạn chế của quần chúng nhân dân đối với phòng
chống tham nhũng ở nước ta trong thời gian qua và nguyên nhân.
Bên cạnh những kết quả mà quần chúng nhân dân đạt được, vẫn còn
nhiều hạn chế trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng.
18
Thứ nhất: Công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng chưa mạnh mẽ,
rộng khắp trong nhân dân. Có nơi chính quyền chưa thật tin ở dân, không tạo
điều kiện cho dân thực hiện quyền dân chủ nhất là quyền dân chủ trực tiếp;
điều kiện cơ sở vật chất để họp dân còn nhiều khó khăn, việc tiếp xúc, đối
thoại với dân còn nhiều hạn chế. Một số nơi mặc dù có địa điểm tiếp dân
nhưng hầu như không hoạt động hoặc nếu có thì chỉ hạn chế trong một thời
nặng nề.
Thứ hai: Chính quyền các cấp ở nhiều nơi hoạt động không có nề nếp,
phưong pháp làm việc cung cách quản lí tuỳ tiện, luộm thuộm. Hội đồng nhân
dân hoạt động hình thức. Ở một số nơi, đại biểu Hội đồng nhân dân không đại
diện được ý chí, quyền lực, nguyện vọng của dân, xa dân, trình độ hạn chế,
không giám sát, kiểm tra được Uỷ ban nhân dân.
Thứ ba: Ở một số địa phương, mối quan hệ giữa xã và thôn, giữa quản
lí nhà nước ở cấp xã và tự quản của cộng đồng dân cư ở thôn không rõ ràng,
vi phạm quyền làm chủ, làm chủ của nhân dân, nhất là sự tuỳ tiện ra những
quyết định, những huy động đóng góp của dân mà không thông qua dân,
không được đa số dân đồng tình ủng hộ (ở Thái Bình thời kì 1997 -1998, xã ít
nhất cũng có 18 khoản thuế, xã cao nhất đóng 40 khoản thuế; tàon tỉnh chi
1.227 tỷ đồng cho xây dựng điện, đường, trường, trạm mà dân phải góp 55%).
Mặt trận và các đoàn thể hoạt động hình thức, cầm chừng, không thiết
thực nên không thu hút được sự tham gia của quần chúng. Mặt khác, sự giám
sát của nhân dân là rất quan trọng nhưng chưa được coi trọng đúng mức. Tuy
nhiên, cũng phải thấy rằng, trong tình hình hiện nay ý kiến đóng góp của nhân
dân còn ại hạn chế rất nhiều. Nhân dân ta muốn thẳng thắn, rất không bằng
lòng với những hành vi sai trái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên,
song tâm lí “nể nang”, “dĩ hoà vi quý”, “không muốn mất lòng”, “trọng tình
hơn lí”, hay nể nang tuỳ tiện vốn là thói quen trong cách ứng xử của con
người Việt Nam, nên không tiện nói ra, cũng có trường hợp vì sợ bị trù ấm,
thậm chí sợ bị trả thù đối với con, cháu, người thân trong gia đình nên không
dám đấu tranh, không giám chỉ ra những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực của
cán bộ, đảng viên. Vì vậy, công việc đấu tranh chống tham nhũng gặp nhiều
khó khăn.
2.2.3 Một số vấn đề đặt ra trong việc phát động được đông đảo quần
chúng nhân dân tham gia đấu tranh phòng chống tham nhũng ở nước ta
hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao vai trò của quần chúng nhân
dân trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay
3.1. Phát huy vai trò giám sát của các đoàn thể nhân dân.
Phải tiếp tục củng cố và hoàn thiện các tổ chức thanh tra nhân dân các
cấp, nhất là cấp cơ sở theo quy định của pháp luật. Công đoàn cơ sở có trách
nhiệm phát hiện, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý và giám
sát việc xử lý người có hành vi tham nhũng tại cơ quan, tổ chức, địa phương
mình.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ
chức đoàn thể; khắc phục tình trạng hành chính hoá, công chức hoá, quan liêu,
xa dân; hướng mạnh công tác về cơ sở nắm chắc tình hình quần chúng; chủ
động phối hợp giải quyết những vấn đề bức xúc trong nhân dân; kịp thời tham
mưu cho cấp uỷ, chính quyền giải quyết, xử lý trên cơ sở phù hợp với quy
định của pháp luật và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Kiện toàn ban thanh tra nhân dân ở cơ sở để tổ chức này thực sự là nơi
tập hợp quần chúng ở xã, phường, thị trấn và các cơ quan hành chính sự
nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực
thi chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ sở. Cần nâng cao hơn
nữa hiệu quả hoạt động của ban thanh tra nhân dân trong giám sát hoạt động
của chính quyền nói chung và trong thực hiện quy chế dân chủ, đấu tranh
chống tham nhũng nói riêng.
Ban này cần được củng cố, kiện toàn, lựa chọn những người có tâm, có
đức, có năng lực, có tinh thần công tác cao, không quản ngại khó khăn, gian
khổ, luôn thấu hiểu nguyện vọng của nhân dân một cách đúng đắn kịp thời.
Các thành viên của ban thanh tra nhân dân cần được thường xuyên tập huấn
nghiệp vụ, chức trách nhiệm vụ, có chương trình kế hoạch công tác. Xử lý
nghiêm các cá nhân và các tổ chức có hành vi cản trở hoạt động của ban thanh
tra nhân dân. Hoạt động giám sát của ban thanh tra nhân dân càng kịp thời bao
hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những
ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan
liêu, còn chỗ ẩn nấp”. Vì vậy, trong quá trình xây dựng và quản lý Nhà nước
phải thu hút sự tham gia của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã
chỉ rõ “chỉ có dựa vào sức mạnh của dân mới xây dựng được chính quyền
trong sạch, vững mạnh, phải giữ vững kỷ luật, kỷ cương, an ning quốc phòng,
tạo động lực to lớn phát triếnr kinh tế- xã hội.
23
Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong đấu tranh chống tham
nhũng, tiêu cực ở nước ta có hiệu quả, cần quan tâm tới 1 số vấn đề sau:
Trước hết là xây dựng và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng
với nhân dân trên cơ sở hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước, nguyện vọng và lợi ích của
nhân dân, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là quan tâm tới bộ phận có nhiều
khó khăn trong công nhân, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, ở vùng sâu,
vùng xa. Các tổ chức Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên phải làm tốt công
tác vận động nhân dân sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của nhân dân, giải quyết
khó khăn, xử lý kịp thời các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, điều hoà lợi ích
của các tầng lớp dân cư, các vùng miền và các lĩnh vực. Xây dựng, hoàn thiện
cơ chế, chính sách, thiết chế thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, đảm bảo
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh những quyết sách lớn, các
cơ quan có trách nhiệm phải giải trình, bảo đảm tính minh bạch, sự tham gia
rộng rãi của nhân dân trong quá trình xây dựng trước khi ban hành. Một mặt,
tôn trọng lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, không để sót nhưng phải
phân tích mức độ đúng, sai về những ý kiến phản ánh của nhân dân; mặt khác,
phải bảo vệ người đã có ý kiến phát hiện những sai trái của cán bộ, công chức.
kiện toàn ban chuyên trách của hội đống nhân dân, đảm bảo cho các ban này
có đủ năng lực, trình độ giám sát. Phải đổi mới hoạt động giám sát của hội
đồng nhân dân theo hướng trực tiếp và sát cơ sở hơn, khắc phục tình trạng
giám sát gián tiếp qua nghe báo cáo của các cấp chính quyền- một hiện tượng
còn phổ biến hiện nay. Bên cạnh việc tiếp tục kiện toàn tổ chức và hoạt động
giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp; cấp uỷ đảng, chính quyền phải từng
bước thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp, xây dựng những thiết chế cụ thể ở
từng cơ quan, tổ chức, đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ công
việc ở các địa phương, đơn vị. Trong các thiết chế phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trong đấu tranh chống tham nhũng phải đặc biệt lưu ý đến vai
trò của các cơ quan thông tin đại chúng, của các binh chủng hợp thành công
tác chính trị tư tưởng.
3.3. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quần
chúng nhân dân
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ tham nhũng là do cơ chế,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương còn
nhiều sơ hở, thiếu đồng bộ. Một số văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng
25