VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI HẢI YẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS: TRẦN MINH ĐỨC
HÀ NỘI – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học,
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
MAI HẢI YẾN
MỤC LỤC
Bảng 2.1: Dân số TPHCM từ 2011-2015
Bảng 2.2.Tình hình tổ chức hành nghề công chứng TP.Hồ Chí Minh từ năm
2011 đến năm 2016
Bảng 2.3.Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng thành phố Hồ Chí
Minh đến 2020
Biểu đồ 2.1. Số lượng công chứng viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ
năm 2011 đến năm 2016
Biểu đồ 2.2. Lượng công chứng hợp đồng, giao dịch tại TP.Hồ Chí Minh
Biểu đồ 2.3. Tổng số tiền các tổ chức hành nghề công chứng nộp vào Ngân sách
Nhà nước hoặc nộp thuế.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế, các quan hệ thương mại ngày càng nhiều dẫn đến sự gia tăng của các
giao dịch dân sự. Do đó, Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp quản
lý hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.
Kể từ khi ra đời, hoạt động công chứng đã có những đóng góp tích cực
cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có thể nói, công chứng là công
cụ đắc lực hỗ trợ cho cơ quan quyền lực Nhà nước trong việc tạo lập hành lang
pháp lý an toàn, đảm bảo cho các giao dịch diễn ra thuận lợi, tránh những hành
vi vi phạm pháp luật và hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra.
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa nhân văn sâu sắc của
hoạt động công chứng, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định “Hoàn thiện chế
định công chứng. Xác định rõ phạm vi của công chứng và chứng thực, giá trị
pháp lý của văn bản công chứng. Xây dựng mô hình QLNN về công chứng theo
hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp
để từng bước xã hội hóa công việc này”.
hạn, trách nhiệm giữa cơ quan QLNN như hiện nay.
Với tư cách là một trung tâm thương mại, dịch vụ lớn nhất của cả nước,
cùng với vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông, vận tải, giao lưu hàng hóa thành
phố Hồ Chí Minh đã trở thành thị trường năng động nhất trong cả nước. Đi cùng
với sự phát triển của nền kinh tế, cũng như sự gia tăng về quy mô dân số, nhu
cầu hoạt động công chứng ngày càng gia tăng, vì vậy yêu cầu cần phải nâng cao
hiệu quả QLNN về công chứng là rất cấp thiết.
Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng đặt ra trong QLNN về công chứng trong
giai đoạn hiện nay về mặt lý luận, thực tiễn, xây dựng các luận cứ khoa học, trên
cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý về công chứng phù hợp
2
với thực tiễn biến động của lĩnh vực công chứng một cách hiệu quả thông qua
ban hành văn bản quản lý, tổ chức thực hiện, thanh tra kiểm tra trong cả nước từ
thực tiễn hoạt động công chứng tại Hồ Chí Minh. Chính vì lý do trên tác giả
chọn đề tài “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh” làm đề tài luận văn cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến vấn đề công chứng, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh
vực này, như:
- Luận văn thạc sỹ “Công chứng Nhà nước- Những vấn đề lỹ luận và thực
tiễn ở nước ta” của tác giả Trần Ngọc Nga.
- Luận văn thạc sỹ “Phân cấp QLNN về công chứng, chứng thực qua thực tiễn
tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phan Hải Hồ năm 2008.
- Luận văn thạc sỹ “Xã hội hóa công chứng tại thành phố Hồ Chí Minh” của
tác giả Vũ Thị Vân Anh năm 2014.
- Luận văn tiến sỹ luật học “Tổ chức và hoạt động công chứng ở nước ta hiện
nay” của tác giả Dương Khánh năm 2002.
-
nâng cao hiệu quả đối với QLNN về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ
Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận về QLNN về công chứng và thực tiễn QLNN về
công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Trong luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu QLNN về tổ chức và hoạt
động công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời gian: Vấn đề QLNN về công chứng từ 2011 đến nay.
Về không gian: Thực trạng QLNN về công chứng trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như
4
phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp điều tra, phương
pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, nhằm làm sáng
tỏ và nội dung nghiên cứu của đề tài. Dựa trên quan điểm đổi mới toàn diện của
Đảng và Nhà nước ta trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt trong
lĩnh vực cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện về QLNN về công
chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, luận văn có một số đóng góp
khoa học mới sau:
- Đưa ra khái niệm, chỉ ra đặc điểm, vai trò, phân tích nội dung quản lý,
QLNN về công chứng.
- Phân tích và chỉ ra được ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của
công chứng được chính thức đề cập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.
Theo Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp thì công chứng
nhà nước được hiểu là “một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp công
dân, cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý,
hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu
lực thực hiện”.
Luật công chứng 2006 đã được thay thế bằng Luật Công chứng năm 2014,
theo đó công chứng được hiểu “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ
chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng,
giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính
chính xác, hợp pháp không trái đạo đức, xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản
tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau
đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật công chứng hoặc cá nhân,
tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Như vậy, chủ thể công chứng được
6
khẳng định là cá nhân công chứng viên, mục đích công chứng là hướng đến là
chứng nhận không chỉ đơn thuần là “tính xác thực” mà bao gồm cả “tính hợp
pháp” của các hợp đồng, giao dịch, “tính chính xác” của bản dịch, giấy tờ,
phạm vi công chứng được cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản là “theo quy định của
pháp luật công chứng” và “cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
Từ đây có thể rút ra, công chứng là một dạng hành vi pháp luật tích cực, là hoạt
động có ý thức của công chứng viên theo quy định pháp luật có liên quan.
Qua đó, có thể thấy công chứng có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, chủ thể của hoạt động công chứng bao gồm công chứng viên và
Người có thẩm quyền công chứng - những cá nhân được Nhà nước trao quyền
thực hiện hoạt động công chứng. Cả hai chủ thể này thực hiện công chứng với
những quyền hạn được trao trực tiếp theo quy định của pháp luật Việt Nam và
các Điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc tham gia. Dù họ là công chứng
Thứ nhất,công chứng là nhân tố, công cụ nhằm bảo vệ cho cá nhân, các tổ
chức,trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại. Công chứng được ví như một lá
chắn hỗ trợ, bảo vệ cho công dân, các tổ chức trong các quan hệ dân sự, kinh tế,
thương mại thông qua việc xác lập văn bản công chứng, có giá trị pháp lý. Công
chứng đảm bảo sự bình đẳng, khách quan trong việc tự nguyện thỏa thuận, cam
kết giữa các bên về các điều khoản, về tính trung thực của văn bản, giao dịch.
Thứ hai, công chứng là nhân tố, công cụ nang cao ý thức thận trọng cho
cá nhân, tổ chức trong các hoạt động dân sự, kinh tế, thương mại. Thông qua
hoạt động công chứng, công dân được nâng cao ý thức thận trọng có trách
nhiệm hơn khi tham gia các hoạt động dân sự, kinh tế, thể hiện ý chí của mình
nhưng vẫn tôn trọng các quy định của pháp luật, các chuẩn mực đạo đức, xã hội.
Thứ ba, công chứng góp phần thức đẩy các giao dịch dân sự, kinh tế,
thương mại. Trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa, các hoạt động giao dịch
diễn ra đi cũng với các quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do định đoạt,
công chứng càng khẳng định vai trò của mình trong việc ổn định trật tự xã hội,
bảo đảm quyền dân chủ, làm cho các hoạt động dân sự rõ ràng, minh bạch hơn,
8
tạo niệm tin và thúc đẩy công dân ngày càng tham gia mạnh mẽ vào các hoạt
động dân sự. Với chủ trương xây dựng Nhà nước theo hướng dân chủ xã hội
hóa, nỗ lực hoàn thiện công chứng theo hướng xã hội hóa là một nhu cầu tất yếu.
Thứ tư, công chứng góp phần bổ trợ cho các hoạt động QLNN. Mặc dù
công chứng không phải là một trong những nội dung QLNN nhưng công chứng
có vai trò rất lớn trong việc bổ trợ cho các hoạt động quản lý của Nhà nước. Đây
là yếu tố cốt lõi của nhà nước pháp quyền. Thông qua hoạt động công chứng và
các quy định hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của
đời sống xã hội, thành hành vi xử sự theo đúng quy định của pháp luật. Các quan
hệ giao dịch nếu không có sự hướng dẫn, QLNN sẽ lộn xộn, các tranh chấp, vi
phạm sẽ xảy ra nhiều, gây khó khăn thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức. Hoạt
Thứ hai, đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức
sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Thứ ba, QLNN có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…
Mục tiêu của QLNN là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển
bền vững trong xã hội.
Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ
thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt
động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu
nhiệm vụ QLNN. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các
hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước
nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình,
chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc
bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy
chế làm việc nội bộ... QLNN theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản
lý hành chính nhà nước với các đặc điểm sau đây:
10
Thứ nhất, Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang quyền lực
nhà nước.
Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện
ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện
nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là
văn bản quản lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản
lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính
sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật;
dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ
quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể
theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính
quyền địa phương.
Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính chấp hành và
điều hành.
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động QLNN thể hiện trong việc
những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích
thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản
lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực
tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy
định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.
Như vậy QLNN là một dạng đặc biệt của quản lý, được sử dụng các
quyền lực nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội. Trong đó, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt là tính tổ
chức cao, và có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục
tiêu, hơn cả là QLNN ở Việt Nam mang nguyên tắc tập trung dân chủ. QLNN
không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý và nó
luôn đảm bảo tính liên tục, ổn định trong tổ chức.
Từ khái niệm, đặc điểm về QLNNnhư đã phân tích ở trên, tác giả đưa ra
khái niệm về QLNN về công chứng như sau:
12
QLNN về công chứng là việc Nhà nước sử dụng các biện pháp, công cụ
có được tác động vào lĩnh vực công chứng để hệ thống tổ chức công chứng hoạt
động đúng định hướng, mục tiêu mà Nhà nước mong muốn.
Từ khái niệm quản lý nhà nước về công chứng như trên, ta có thể rút ra
đặc điểm quản lý nhà nước về công chứng như sau:
Thứ nhất, chủ thể của quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng là
cơ quan Nhà Nước, mang tính quyền lực Nhà nước.
Ở cấp trung ương đó là Chính phủ thống nhất quản lý chung về công
định pháp luật về công chứng sẽ bị áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành
chính theo đúng quy định.
Thứ năm, quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng có nội dung đa
dạng như: Xây dựng và ban hành các quyết định quản lý nhà nước chủ đạo như
Luật công chứng, Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng; quản lý
tổ chức hành nghề công chứng, bổ nhiệm, miễn nhiệm đội ngũ công chứng viên;
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, tố cáo khiếu nại đối với tổ chức hành nghề
công chứng,…
1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về công chứng
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển hiện nay, công chứng
rất cần thiết và không thể thiếu trong các hoạt động, giao dịch của cá nhân, tổ
chức trong xã hội, do vậy vai trò QLNN đối với tổ chức và hoạt động công
chứng đóng vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện:
Thứ nhất, QLNN về công chứng góp phần điều tiết, điều chỉnh hoạt động
công chứng phát triển lành mạnh, bảo đảm an toàn pháp lý cho cá nhân, tổ chức,
doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công chứng trong điều kiện các giao dịch dân sự,
kinh tế, thương mại ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp. Có thể có thể
thấy, trong giai đoạn đầu của quá trình xã hội hóa hoạt động công chứng, các tổ
chức hành nghề công chứng theo mô hình mới đang hình thành, vị trí, vai trò và
hoạt động của công chứng viên mới tạo được tạo lập, xây dựng nên không tránh
khỏi những lúng túng, bất cập, vì vậy Nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng
14
trong việc định hướng cho hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng
phát triển đúng định hướng đã đề ra.
Thứ hai, QLNN về công chứng nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của
các tổ chức hành nghề công chứng theo định hướng xã hội hóa
Với vai trò, chức năng và vị trí đặc biệt nên các tổ chức hành nghề công
chứng phải mang tính ổn định và phát triển bền vững rất cao. Không giống như
chứng được thành lập có những điểm mới thay đổi căn bản, theo đó, đối tượng
của hoạt động QLNN hiện nay ngoài các Phòng Công chứng còn bao gồm các
Văn phòng công chứng.
Thứ ba, QLNN về công chứng nhằm đảm bảo tính xác thực, tính hợp pháp
cũng như hiệu lực của văn bản công chứng
Với vai trò của công chứng là chứng nhận tính xác thực (sự có thực, hợp
pháp của các hợp đồng giao dịch) công chứng có vai trò tích cực trong việc
phòng ngừa các tranh chấp hợp đồng, giao dịch có thể xảy ra. Vì thế, văn bản
công chứng có ý nghĩa là chứng cứ trước tòa, là căn cứ pháp lý hợp pháp để xác
lập quyền sở hữu cho các bên có quyền liên quan (ví dụ văn bản công chứng hợp
đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là căn cứ để cơ
quan đăng ký nhà đất cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng
đất cho các chủ thể...). Ngoài ra, công chứng còn có vai trò tư vấn: Công chứng
viên tư vấn cho người yêu cầu công chứng về các thủ tục pháp lý trong hoạt
động công chứng (khác với luật sư)...; Hoạt động công chứng đem lại nguồn thu
lớn cho ngân sách nhà nước (thu phí công chứng...).
Có thể nói công chứng có mặt hầu hết trên các lĩnh vực, và gắn liền với đời
sống của một cá nhân, một con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, đến mọi hoạt
động của một xã hội để đảm bảo cho mọi giao dịch xã hội được phát triển an
toàn, bền vững. Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải thiết lập và
bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, cũng như quyền được hưởng các lợi ích kinh tế
xuất phát từ các sử dụng quyền sở hữu đó thông qua công chứng.
16
Văn bản công chứng là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của công dân, tổ chức, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa hành vi
vi phạm pháp luật, phòng ngừa rủi ro, tranh chấp hoặc khi có rủi ro tranh chấp
xảy ra các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào văn bản công chứng để
công tác QLNN về công chứng, nội dung QLNN đối với tổ chức và hoạt động
công chứng bao gồm các mặt hoạt động chủ yếu sau:
Thứ nhất, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng
Để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng QLNN, các chủ thể quản lý sử
dụng nhiều hình thức hoạt động khác nhau, nhưng hình thức cơ bản và quan
trọng nhất là hoạt động xây dựng và ban hành quyết định QLNN. Hoạt động ban
hành quyết định QLNN chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động quản lý, bởi vì
hầu hết mọi hình thức hoạt động quản lý khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp phục
vụ cho hoạt động xây dựng và ban hành các loại quyết định QLNN, hoặc là để
tổ chức thực hiện các quyết định đó. Quyết định QLNN là phương tiện không
thể thiếu và chủ yếu mà các chủ thể quản lý sử dụng để thực hiện hầu hết các
nhiệm vụ, chức năng quản lý.
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một đặc điểm quan trọng của
QLNN, thể hiện tính chất chấp hành và điều hành của hoạt động QLNN nói
chung, trong đó có QLNN đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành
nghề công chứng. Để cụ thể hóa các quy định của Luật công chứng 2014, các cơ
quan QLNN ở Trung ương cũng như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện trong thực tế chủ trương của Đảng và
Nhà nước ta về chuyên môn hóa và xã hội hóa hoạt động công chứng. Những
văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, các Bộ, ngành ở Trung ương và Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành cùng với Luật
công chứng 2006, Luật công chứng 2014 là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng
18
cho để các cơ quan nhà nước thực hiện việc quản lý tổ chức và hoạt động của
các văn phòng công chứng ở địa phương, thực hiện đúng nguyên tắc hiến
định“Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” như Điều 12 Hiến pháp hiện
hành nước ta đã xác định.
công chứng chỉ được thành lập mới ở những địa bàn chưa có điều kiện phát triển
các Văn phòng công chứng. UBND tỉnh và Sở Tư pháp có quyền quyết định sự
ra đời của Phòng công chứng. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định tên gọi của
Phòng công chứng. Tên Phòng công chứng đơn giản gồm có số thứ tự thành lập
và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Phòng công chứng được
thành lập. Trưởng Phòng công chứng là người đại diện theo pháp luật và là chủ
tài khoản của Phòng công chứng. Chủ tịch UBND tỉnh có thẩm quyền bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức Trưởng phòng Công chứng.
Đối với Văn phòng công chứng: Luật công chứng là cơ sở pháp lý quan
trọng cho sự ra đời của Văn phòng công chứng. Văn phòng công chứng được tổ
chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân hoặc theo loại hình công
ty hợp danh. Để thành lập Văn phòng công chứng, công chứng viên phải có hồ
sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét,
quyết định cho phép thành lập. Trong đề án thành lập Văn phòng công chứng,
Công chứng viên phải nêu rõ sự cần thiết, dự kiến về tổ chức, tên gọi, nhân sự,
địa điểm đặt trụ sở, các điều kiện vật chất và kế hoạch triển khai thực hiện. Bên
cạnh đó, sau khi nhận quyết định thành lập, Văn phòng công chứng phải đăng ký
hoạt động tại Sở Tư pháp địa phương. Tuy vậy, Văn phòng công chứng sẽ bị Sở
Tư pháp thu hồi giấy đăng ký hoạt động nếu Văn phòng công chứng không hoạt
động trong thời gian sáu tháng, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động,
hoặc không hoạt động liên tục từ ba tháng trở lên. Ủy ban nhân dân tỉnh có thể
thu hồi quyết định cho phép thành lập nếu Văn phòng công chứng không đăng
ký hoạt động trong vòng 90 ngày, kể từ ngày có phép thành lập hoặc bị thu hồi
giấy đăng ký hoạt động.[36]
20
Chế độ tài chính theo nguyên tắc tự chủ bằng nguồn kinh phí đóng góp
của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu