VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Phạm Văn Hiền
Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn
tỉnh Lâm Đồng
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
BUÔN MA THUỘT - 2019
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Phạm Văn Hiền
Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
PGS.TS. LÊ VĂN LONG
2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn tại tỉnh
Lâm Đồng (trang 33)
Chương 3
Quan điểm và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về công chứng từ
thực tiễn tỉnh Lâm Đồng
3.1 Quan điểm bảo đảm quản lý nhà nước về công chứng ( trang 57)
3.1 Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về công chứng (tramg 60)
Kết luận
Danh mục các bảng biểu
Bảng 2.1: Kế hoạch chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công
chứng và tự chủ tài chính (trang 36)
Bảng 2.2: Tổ chức hành nghề công chứng (trang 47)
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (trang
48).
4
Mở đầu
1.Tính cấp thiết đề tài.
Lịch sử ra đời công chứng trên thế giới có từ khá sớm cùng với các
thiết chế khác trong bộ máy nhà nước. Trải qua quá trình thay đổi của các
cuộc cách mạng lớn của lịch sử thế giới công chứng giữ vai trò quan trọng
trong đời sống xã hội như trong quan hệ đất đai, hôn nhân gia đình, thừa kế.
Từ năm 1858 -1954, đã hình thành và phát triển công chứng ở Việt
Nam ngay sau khi người Pháp đến Đông Dương và quá trình thực dân hóa ở
đây, người Pháp đã sáng lập và thiết chế công chứng Pháp tại Đông Dương.
Các công chứng viên chủ yếu là người Pháp mà chưa có công chứng viên
người Việt Nam.
Sau năm 1954 ở Miền Nam, chính quyền Sài Gòn vẫn duy trì mô hình
muốn đánh giá thực trạng nguyên nhân và tìm ra một số giải pháp trong công
tác quản lý nhà nước về công chứng của tỉnh Lâm Đồng, góp phần tăng
cường quản lý nhà nước, hướng tới xây dựng hoạt động công chứng trên địa
bàn tỉnh Lâm Đồng chuyên nghiệp, hiện đại, góp phần xây dựng tổ chức công
chứng Việt Nam tiên tiến, hội nhập công chứng khu vực và thế giới.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định công chứng được từ những ngày đầu hình thành cho đến nay
đã có những thay đổi gắn liền hình thành và phát triển bộ máy nhà nước ta
qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và được thể hiện qua các văn bản pháp luật
khác nhau để phù hợp. Trên cơ sở quy định pháp luật và tình hình thực tiễn
quản lý nhà nước về lĩnh vực công chứng tại các địa phương trên cả nước, đã
có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này cụ thể như sau:
-Đề tài về cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và
hoạt động công chứng ở Việt Nam do Bộ Tư pháp làm chủ đề tài tổ chức
nghiên cứu và nghiệm thu. Đề tài đã nghiên cứu toàn diện, sâu sắc và bao
quát về công chứng thông qua nêu lên những vấn đề lý luận về công chứng
như khái niệm, vị trí, vai trò của công chứng, các trường phái công chứng trên
6
thế giới, ý nghĩa pháp lý và hình thức của văn bản công chứng, phạm vi các
việc công chứng vấn đề trách nhiệm công chứng, một số mô hình công chứng
trên thế giới; thực tiễn hoạt động công chứng tại Việt Nam, nêu lên các vấn đề
lịch sử hình thành và phát triển công chứng ở Việt Nam, phạm vi công chứng,
giá trị, ý nghĩa pháp lý của văn bản công chứng và tổ chức hành nghề công
chứng ở nước ta.
-Luận án tiến sỹ Luật học : Nghiên cứu pháp luật về công chứng một số
nước trên thế giới nhằm góp phần hoàn thiện luận cứ khoa học cho việc hoàn
thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay, của tác giả Tuấn Đạo
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ lý luận về quản lý công
chứng, pháp luật quản lý về công chứng, thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý
công chứng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Từ đó đánh giá thực trạng pháp luật
quản lý về công chứng cũng như thực hiện pháp luật quản lý về công chứng
trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua, những kết quả đạt được và
hạn chế cũng như nguyên nhân của chúng.Trên cơ sở đó kiến nghị những giải
pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về công chứng nói chung, những
giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quản lý về công chứng trên địa bàn
tỉnh Lâm Đồng nói riêng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý
nhà nước về công chứng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới. Để
thực hiện yêu cầu trên luận văn xây dựng cơ sở lý luận của pháp luật quản lý
nhà nước về công chứng thông qua việc xác định các khái niệm có liên quan
như: khái niệm công chứng; khái niệm quản lý nhà nước về công chứng; xác
định đặc điểm, nội dung, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện
pháp luật quản lý về công chứng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận quản lý về công
chứng, thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý về công chứng trên địa bàn tỉnh
Lâm Đồng.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt không gian được giới hạn trên
địa bàn tỉnh Lâm Đồng; Về mặt thời gian được giới hạn từ năm 2015 đến nay.
8
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài là dựa trên quan điểm, đường lối, quản
điểm của đảng về quản lý hành chính nhà nước, xây dựng pháp luật quản lý
về quản lý công chứng và quan niệm xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt
Nam. Phương pháp sử dụng trong luận văn là so sánh, tổng hợp, thống kê,
Quá trình hình thành hoạt động công chứng gắn liền với sự phát triển của
xã hội loài người. từ thời kỳ cổ đại đến trung cổ, giữa người làm công chứng
và người lập văn tự thuê chưa được phân biệt rõ ràng. Ở thời kỳ cổ đại người
ta thấy những viên thư lại họ soạn thảo các khế ước theo một khuôn mẫu nhất
định. Lịch sử hình thành và phát triển nhà nước cũng cho thấy đã có thời kỳ
chưa có khái niệm công chứng một số tác giả nghiên cứu về công chứng cho
rằng có hai loại hình công chứng là tư chứng thư và công chứng thư. Điều này
được hiểu như sau:
Như vậy cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động chứng nhận, xác
nhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm phản ảnh
một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ : Cung cấp chứng cứ cho
Tóa án, xác nhận thời gian công tác, làm chứng cho việc giao tiền mua bán
nhà, làm chứng cho mua bán xe, làm chứng cho việc vay mượn,... Đây là một
loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội
nhưng không phải là hoạt động công chứng với danh nghĩa là một tổ chức
được nhà nước công nhận hoặc cho phép hoạt động.
Hình thức công chứng thư được hiểu công chứng chứng là lấy công
quyền làm chứng, sự chứng nhận ở đây mang tính quyền lực công, ngoài ra
còn có thể hiểu từ bản thân thuật ngữ công chứng đã mang ý nghĩa sự làm
chứng công khai, có dấu ấn công quyền, công chứng viên là người được nhà
nước bổ nhiệm thực hiện công việc này.
10
Công chứng với tư cách là một thể chế pháp lý đã hình thành ở nước ta
khá sớm, từ những năm 1930 dưới thời Pháp thuộc, nhưng mãi đến năm 1987,
thuật ngữ “công chứng” được sử dụng rộng rãi.
Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề quan trọng của hoạt
động quản lý nhà nước công chứng, có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và
định 75/2000/NĐ-CP đã phân biệt rõ hơn về hoạt động công chứng và hoạt
động chứng thực. Công chứng được xác định rất rõ là việc của Phòng công
chứng và chứng thực là việc của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân
dân cấp xã.
Luật công chứng năm 2006 ngoài việc kế thừa Nghị định 75/2000/NĐ-CP
trong việc xác định khái quát hơn về khái niệm công chứng, tuy nhiên lần
này luật xác định chủ thể công chứng, công chứng là việc của công chứng
viên, khác với các Nghị định ban hành trước là việc của cơ quan, đơn vị chứ
không phải quy định là cá nhân của công chứng viên theo quy định luật lần
này.
Luật công chứng quy định hiện hành một lần nữa kế thừa luật công công
chứng năm 2006 đã nêu khái niệm bao quát hơn, công chừng ngoài là việc
của công chứng viên trong việc xác nhận tính xác thực và tính pháp pháp của
các hợp đồng giao dịch trong dân sự mà còn quy định văn bản công chứng
không được trái đạo đức xã hội. Khái niệm lần này công chứng còn nêu cả
công chứng bản dịch giấy tờ từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và từ tiếng
nước ngoài sang tiếng Việt.
Luật công chứng năm 2014, khái niệm công chứng lần này ngoài việc
đảm bảo tính chính xác, hợp pháp còn nêu thêm tính đạo đức xã hội trong các
nội dung giao dịch của hoạt động công chứng không được trái. Đây cũng là
một vấn đề thực tiễn trong bối cảnh phát kinh tế của đất nước ta theo hướng
kinh tế thị trường đã bộc lộ nhiều mặt trái của nó như vấn đề đạo đức xuống
cấp, giá cả cạnh tranh thiếu hợp lý, lợi nhuận,…Do đó yếu tố đạo đức xã hội
cũng cần được đề cao và thể chế thành luật trong việc quản lý hoạt động công
chứng.
12
1.1.1.2. Đặc điểm của công chứng:
chí, nguyện vọng của mình một cách rõ ràng, chính xác trong các văn bản họ
tự lập nhằm đảm bảo tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch họ tự lập.
Nói cách khác, hành vi của công chứng viên nhằm xác nhận tính xác thực,
tính hợp pháp của hợp đồng hoặc các giao dịch.
Công chứng rất cần đề cao tính chính xác của các văn bản, hợp đồng
giao dịch công chứng nó có ý nghĩa quan trọng cho việc bổ trợ công tác tư
pháp, công chứng đảm bảo phải có giá trị chứng cứ là nguồn chứng cứ quan
trọng cho các cơ quan tố tụng nhất là tổ tụng dân sự. Sở dĩ pháp luật coi văn
bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là do tính xác thực của các tình tiết
sự kiện trong văn bản đó đã được công chứng viên chứng nhận. Tính xác thực
trong thực hiện việc công chứng cần phải được xác định mà việc của công
chứng viên cần kiểm tra trong quá trình thực hiện các giao dịch hợp đồng dân
sự của các bên trong quá trình giao kết thực tế, các sự này phải được diễn ra
có thật mà công chứng viên là người chứng kiến và được thể hiện cụ thể là
bút tích của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Chứng nhận các hợp đồng
giao dịch theo qui định của pháp luật ( hoặc theo yêu cầu của cá nhân, tổ
chức) là việc công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình xác
nhận tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch. Đây cũng có thể nói là điểm để
phân biệt hai trường phái công chứng hình thức và công chứng nội dung. Đặc
điểm này của công chứng hệ Latine quy định chức năng phòng ngừa các tranh
chấp trong hợp đồng giao dịch của công chứng.
Thứ ba hợp đồng giao dịch đã công chứng nó có giá trị chứng cứ và còn
có giá trị thực hiện. Văn bản công chứng được Công chứng viên lập theo trình
tự thủ tục quy định của pháp luật, ghi lại thời gian, không gian, ý chí nguyện
vọng cũng như năng lực chủ thể của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng
bằng việc ràng buộc các bên phải thực hiện đúng các cam kết đã xác lập, đồng
thời có giá trị pháp lý cả với bên thứ ba.
14
15
khóa đào tạo nghề công chứng quy định tại Điều 9 của Luật này hoặc hoàn
thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng quy định của luật công chứng; Đạt
yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; Bảo đảm sức khỏe để
hành nghề công chứng.
Chủ thể thứ hai là người yêu cầu công chứng: Người yêu cầu công chứng
là chủ thể được diễn ra trong quá trình gia dịch công chứng, chủ thể này tự
nguyện yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng thực hiện xác nhận công việc
của mình mà theo quy định pháp luật cần có xác nhận của công chứng viên
của các tổ chức hành nghề công chứng hoặc tự mình thấy việc đó pháp luật
không buộc phải xác nhận nhưng muốn cho sự yên tâm các vụ việc dân sự
giao dịch trong sống của mình cần xác nhận của công chứng viên. Người yêu
cầu công chứng theo quy định pháp luật công công là các cá nhân là công dân
Việt Nam hay người nước ngoài, tổ chức của Việt Nam hay tổ chức nước
ngoài.
Chủ thể thứ ba là tổ chức hành nghề công chứng: Tổ chức hành nghề
công chứng theo quy định pháp luật hiện hành đó là Phòng công chứng, đơn
vị sự nghiệp trực thuộc Sở tư pháp và Văn phòng công chứng là doanh nghiệp
hoạt động theo Luật doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp của Văn phòng
công chứng phải là công ty hợp danh. Hai chủ thể công chứng này đều thực
hiện một nhiệm vụ giống nhau trong việc chứng nhận các hợp đồng giao dịch
công chứng. Tuy nhiên kinh phí hoạt động và hoạch toán doanh thu khác
nhau. Phòng công chứng hoạch toán theo Luật ngân sách nhà nước, Văn
phòng công chứng hoạch toán theo Luật doanh nghiệp.
Chủ thể thứ tư là đối tượng công chứng: Đối tượng được công
chứng là bao gồm hợp đồng, giao dịch, bản dịch các văn bản khi được công
chứng có giá trị pháp lý kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu, có
hạn chế tình trạng lừa đảo: Trong những năm gần đây, hiện tượng lừa đảo,
tranh chấp liên quan đến đất đai có chiều hướng gia tăng với tính chất tinh vi,
phức tạp. Các giao dịch qua công chứng phần nào phát hiện các loại giấy tờ
17
giả mạo, chủ thể tham gia giao dịch đảm bảo tính pháp lý, văn bản công
chứng đảm bảo chặt chẽ góp phần hạn chế các rủi ro khi xảy ra tranh chấp.
Thứ tư, hoạt động công chứng là một chức năng bổ trợ tư pháp giúp
cho một số cơ quan tư pháp, cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong quá
trình thực hiện một số nhiệm vụ của mình. Nhất là cơ quan tư pháp văn bản
công chứng là nguồn cơ sở chứng cứ rất quan trọng trong quá trình giải quyết
tranh tụng trong thực hiện giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, hôn nhân gia
đình,…
Thứ năm, công chứng là tạo chứng cứ hỗ trợ cho hoạt động của các cơ
quan tài phán: Văn bản công chứng là vũ khí có hiệu lực, có giá trị pháp lý, là
chứng cứ tin cậy giúp cho cơ quan trọng tài và cơ quan tòa án giải quyết công
bằng, khách quan các tranh chấp dân sự, thương mại trong thực tiễn. Văn bản
công chứng là nguồn bằng chứng cho các cá nhân nắm giữ bằng chứng này để
chứng minh khi xảy ra các tranh chấp, bởi văn bản công chứng vừa là có giá
trị chứng cứ và đồng thời nó cũng có giá trị thực hiện.
Giá trị của văn bản công chứng:
Văn bản công chứng theo quy định pháp luật công chứng hợp động được
chứng nhận thì có hiệu lực thi hành cho các bên tham gia giao dịch, những
trường hợp một trong các bên không thực hiện nghĩa vụ của mình theo thỏa
thuận trong hợp đồng giao dịch thì sẽ giải quyết theo quy định pháp luật.
Trong khi đó luật công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật tố
tụng cũng quy định rất rõ ràng giá trị văn bản công chứng là giá trị chứng cứ
mà các bên tham gia giao dịch không phải chứng minh. Điều này khẳng định
Văn bản công chứng đã được chứng nhận theo quy định pháp luật thì có
giá trị thi hành cho các bên tham gia giao dịch. Việc xảy ra tranh chấp trong
giao kết hợp đồng thì các có quyền yêu cầu tòa án giải quyết các nội dung
tranh chấp không thể tự thỏa thuận được.
Giá trị thi hành ở đây không đơn thuần chỉ là quyền và nghĩa vụ của các
bên tham gia hợp đồng , giao dịch mà còn có giá trị thi hành đối với các chủ
thể liên quan. Như cơ quan thuế; cơ quan tài nguyên môi trường; Văn phòng
19
đăng ký quyền sử dụng đất … đối với các hợp đồng, giao dịch liên quan đến
tài sản là bất động sản hoặc các cơ quan tổ chức khác,..
Thứ hai là văn bản công chứng có giá trị chứng cứ: Chứng cứ là mấu chốt
trong việc giải quyết một tranh cãi, tranh chấp, bất đồng… khi trong việc đó
thiếu những căn cứ để xác định quyền , lợi ích hoặc các sự kiện pháp lý. Để
khẳng định quyền, lợi ích hoặc sự kiện pháp lý đó, thì cần phải có một bằng
chứng, chứng minh sự tồn tại của nó, nếu không sẽ bị coi là không có sự tồn
tại của quyền, lợi ích hoặc sự kiện pháp lý đó.
Chứng cứ là cái cụ thể ( như lời nói hoặc việc làm, vật làm chứng, tài
liệu, hình ảnh, nhân chứng…) chỉ rõ điều đó có thật. Về mặt bản chất, văn bản
công chứng luôn mang tính chất xác thực của chứng cứ, do luôn phải thực hiện
theo những thể thức, trình tự mà pháp luật bắt buộc. Nhờ vậy mà những tình
tiết , sự kiện trong văn bản công chứng (Các hợp đồng giao dịch) luôn phải
đảm bảo tính xác thực. Không những thế, tính xác thực của bất cứ tình tiết, sự
kiện nào trong văn bản công chứng ( các hợp đồng, giao dịch) còn phải đáp
ứng tiêu chí phù hợp các quy định của pháp luật nội dung và không trái đạo
đức xã hội.
Chính vì vậy hợp đồng giao dịch đã được công chứng phản ảnh một
cách xác thực nhất và hợp pháp nhất về những tình tiết, sự kiện chứa đựng
Tại Điều 81 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định về những tình tiết,
sự kiện không phải chứng minh, trong đó có quy định “ những tình tiết, sự
kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp”.
Tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về những tình tiết,
sự kiện không phải chứng minh, trong đó có quy định “Những tình tiết, sự kiện
đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp;…”.
Trong các nghị định về công chứng trước đây cũng xác định rõ điều này
như: Nghị định 45-HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức
và hoạt động của công chứng nhà nước đã quy định: “ Các hợp đồng và giấy tờ
đã được công chứng có giá trị chứng cứ”; Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996
21
của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước quy định:
“Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc ủy
ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường
hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu”; Khoản 2 Điều 14 Nghị định số
75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực
quy định: Văn bản công chứng, văn bản chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ
trường hợp được thực hiện không đúng thẩm quyền hoặc không theo quy định
tại Nghị định này hoặc bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.
Trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và năm 2015 cũng đã có sự phân
biệt giữa giá trị chứng cứ và giá trị chứng minh: Những tình tiết sự kiện không
phải chứng minh, thì thì đương nhiên chúng có ngay giá trị chứng cứ thì không
thể phản bác được, vì nó là chân lý. Còn những tình tiết, sự kiện phải chứng
minh, thì chúng chỉ có giá trị chứng cứ sau khi những tình tiết sự kiện đó đã
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định, công nhận. Những tình tiết,
sự kiện đã được ghi trong văn bản và văn bản đó đã được công chứng gọi là
văn bản công chứng, về mặt lý luận, thực tế và thông lệ quốc tế văn bản công
thức thực thi quyền lực của các cơ quan nhà nước nhằm đạt được mục đích đã
định sẵn trước đó để làm sao đảm bảo một sự ổn định nhất định trong các mặt
của đời sống xã hội như: An ninh trật tự, am sinh xã hội, kinh tế, …
Quản lý nhà nước về công chứng là hoạt động mang tính chất quyền lực
hành chính của Nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền do pháp
luật quy định thực hiện. Quản lý nhà nước về công chứng nhằm tác động lên
quá trình tổ chức và hoạt động công chứng để cho quá trình này diễn ra trong
khuôn khổ của pháp luật và đạt mục đích định trước. Cụ thể là góp phần bảo
đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ
khác, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa, quản lý hành chính tư pháp.
1.1.2.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về công chứng
Thứ nhất quản lý nhà nước về công chứng đảm bảo tính quyền lực.
23
Quản lý nhà nước về hoạt động công chứng cũng như các đối tượng bị
quản lý khác cũng mang tính quyền lực nhà nước để thực hiện việc quản lý
này từ việc xây dựng thể chế, quản lý về tổ chức nhân sự, quy trình bổ thành
lập, giải thể các tổ chức hành nghề công chứng, bổ nhiệm Công chứng viên
cũng đều cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Ngoài ra
tính quyền lực nhà nước cũng được thể hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra
và xử lý vi phạm đối với tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên
của tổ chức hành nghề công chứng khi xảy ra vi phạm. Tổ chức hoạt động
công chứng với nhiệm vụ chủ yếu là chứng nhận các hợp hợp đồng giao dịch
liên quan đến nhiều đến tài sản của cá nhân và tổ chức do vậy việc sử dụng
quyền lực nhà nước để kiểm soát hoạt động này là khách quan tất yếu của xu
hướng xã hội phát triển.
Thứ hai quản lý nhà nước về công chứng có tính chuyên môn hóa và
động công chứng; xử lý vi phạm về hoạt động công chứng; giải quyết khiếu
nại tố cáo về hoạt động công chứng; Quản lý và thực hiện hợp tác quốc tế về
công chứng, cụ thể như sau:
1.2.1. Ban hành pháp luật về công chứng, phát triển nghề công chứng.
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn thi hành là
một nhiệm vụ quan trọng, tạo cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước, đảm bảo
quản lý đạt kết quả, đúng định hướng và phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân.
Do đó từ sau cách mạng tháng Tám cho đến nay, nhà nước đã ban hành nhiều
văn bản để điều chỉnh quản lý hoạt động công chứng như : Sắc lệnh số 59
ngày 15/11/1945 về ấn định thể lệ thị thực giấy tờ; thông tư số 574/QLTPK
ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp về công tác công chứng nhà nước cho đến
Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức
và hoạt động công chứng nhà nước; Nghị định 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ
chức hoạt động công chứng nhà nước; Nghị định số 75/CP ngày 08/12/2000
của Chính phủ về công chứng, chứng thực, Luật công chứng năm 2006 và nay
là luật công chứng 2014; Bộ luật Dân sự ( 1995, 2005, 2015); Luật đất đai
(2003,2013); Luật nhà ở (2005, 2014); Quyết định 2104/QĐ-TTg năm 2012
25