VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI HẢI YẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60.38.01.02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN MINH ĐỨC
Phản biện 1: PGS.TS Vũ Thư
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Minh Đoan
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại Học viện Khoa học Xã hội, vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 30
tháng 10 năm 2017.
trong những dịch vụ công quan trọng, tạo ra những bảo đảm pháp lý
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức phù hợp với
Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa rủi ro, tranh chấp. Tuy nhiên, bên
cạnh những kết quả đạt được, đã bộc lộ một số khó khăn, bất cập.
Một trong những điểm bất cập đó là công tác quản lý nhà nước
(QLNN) ở một số địa phương còn lỏng lẻo, sự phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước có lúc chưa chặt chẽ, việc hướng dẫn địa phương trong
việc thi hành pháp luật công chứng có lúc chưa kịp thời, đôi khi còn
chồng chéo giữa các Bộ, ngành liên quan dẫn đến lúng túng khi thực
hiện; công tác kiểm tra, thanh tra về tình hình tổ chức, hoạt động công
chứng của cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương còn chưa
thường xuyên nên dẫn đến việc tháo gỡ vướng mắc, khó khăn hoặc để
phát hiện, chấn chỉnh những hành vi vi phạm pháp luật, quy tắc đạo
đức hành nghề công chứng đôi khi chưa hiệu quả, việc xử lý vi phạm
có nơi, có lúc chưa kịp thời, chưa nghiêm.
Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng đặt ra trong QLNN về công
chứng trong giai đoạn hiện nay về mặt lý luận, thực tiễn, xây dựng
các luận cứ khoa học, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý về công chứng phù hợp với thực tiễn biến động của
lĩnh vực công chứng một cách hiệu quả thông qua ban hành văn bản
quản lý, tổ chức thực hiện, thanh tra kiểm tra trong cả nước từ thực
tiễn hoạt động công chứng tại Hồ Chí Minh. Chính vì lý do trên tác
giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về công chứng từ thực tiễn
thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến vấn đề công chứng, đã có nhiều đề tài nghiên cứu
về lĩnh vực này, như:
2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ lý luận – pháp lý về QLNN về công chứng như
khái niệm, đặc điểm, vai trò, phương thức các yếu tố ảnh hưởng đến
QLNN về công chứng
- Phân tích tình hình hoạt động công chứng, vai trò QLNN về
công chứng trên văn bản quản lý, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm
tra, đánh giá những ưu điểm, hạn chế QLNN đối với tổ chức và hoạt
động công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
- Đề xuất nhu cầu, xây dựng phương hướng nâng cao và một số
giải pháp nâng cao hiệu quả đối với QLNN về công chứng từ thực
tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận về QLNN về công chứng và thực tiễn
QLNN về công chứng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trong luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu QLNN về tổ
chức và hoạt động công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời gian: Vấn đề QLNN về công chứng từ 2006 đến nay.
Về không gian: Thực trạng QLNN về công chứng trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên
cứu khoa học cụ thể như phương pháp so sánh, phương pháp đánh
giá, phương pháp điều tra, phương pháp thống kê, phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp, nhằm làm sáng tỏ và nội dung nghiên
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG
1.1. Sự cần thiết của hoạt động công chứng trong đời sống
xã hội
Hiểu một cách đơn giản nhất “công chứng” chính là việc
“công” quyền đứng ra làm “chứng”. Nói cách khác, thay vì để cá
nhân tự đứng ra làm chứng cho nhau trong các giao dịch dân sự, kinh
tế, thương mại,… thì Nhà nước, bằng việc đạo tạo, bổ nhiệm đã trao
cho một số cá nhân (hoặc tổ chức) nhất định một phần quyền năng để
những người này thay mặt Nhà nước, đứng ra làm chứng (hoặc
chứng kiến) các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại,… đó.[44,tr.7]
Qua việc phân tích khái niệm của công chứng, có thể thấy sự
cần thiết của công chứng trong đời sống xã hội ngày nay đó là:
Thứ nhất, công chứng là nhân tố, công cụ nhằm bảo vệ cho
cá nhân, các tổ chức trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại. Công
chứng đảm bảo sự bình đẳng, khách quan trong việc tự nguyện thỏa
thuận, cam kết giữa các bên về các điều khoản, về tính trung thực của
văn bản, giao dịch.
Thứ hai, công chứng là nhân tố, công cụ nang cao ý thức
thận trọng cho cá nhân, tổ chức trong các hoạt động dân sự, kinh tế,
thương mại.
Thứ ba, công chứng góp phần thúc đẩy các giao dịch dân sự,
kinh tế, thương mại.
Thứ tư, công chứng góp phần bổ trợ cho các hoạt động
QLNN. Đây là yếu tố cốt lõi của nhà nước pháp quyền. Thông qua
hoạt động công chứng và các quy định hướng dẫn, điều chỉnh pháp
6
nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế thương
mại, đồng thời bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân.
Thứ tư, phương pháp quản lý nhà nước về công chứng mang
tính thuyết phục vừa mang tính mệnh lệnh hành chính.
1.3.Vai trò của quản lý nhà nước về công chứng
Thứ nhất, QLNN về công chứng góp phần điều tiết, điều chỉnh
hoạt động công chứng phát triển lành mạnh, bảo đảm an toàn pháp lý
cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công chứng
trong điều kiện các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại ngày càng
đa dạng, phong phú và phức tạp.
Thứ hai, QLNN về công chứng nhằm đảm bảo sự ổn định và
phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng theo định hướng xã
hội hóa.
Thứ ba, QLNN về công chứng nhằm đảm bảo tính xác thực,
tính hợp pháp cũng như hiệu lực của văn bản công chứng.
Thứ tư, QLNN về công chứng nhằm đảm bảo cho hoạt động
cho các tổ chức hành nghề công chứng đúng phạm vi quy định của
pháp luật, không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội.
1.4. Nội dung, phương thức quản lý nhà nước về công
chứng
1.4.1. Nội dung quản lý nhà nước về công chứng
Thứ nhất, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng.
Thứ hai, QLNN về đội ngũ công chứng viên, tổ chức hành
nghề công chứng bao gồm: Bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên,
quyết định cho phép thành lập các tổ chức hành nghề công chứng,
cấp giấy đăng ký hoạt động cho các tổ chức hành nghề công chứng,...
8
đúng đắn lợi ích của cá nhân với gia đình, với lợi ích của tổ chức cho
phép người tham gia công chứng lựa chọn con đường có hiệu quả
nhất để thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện công
chứng.
1.5.Yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về công chứng
Thứ nhất, yếu tố chính trị: có thể nói, đây là một trong những
yếu tố đảm bảo hàng đầu quyết định hiệu quả hoạt động công chứng,
thể hiện nhận thức chính trị, quyết tâm chính trị của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền.
Thứ hai, yếu tố pháp lý: sự ảnh hưởng của yếu tố pháp lý đến
QLNN về công chứng được thể hiện nếu hệ thống pháp luật về công
chứng được ban hành mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp với
thực tiễn và mang tính khả thi thì đây sẽ là điều kiện tiên quyết để
hoạt động công chứng được thực thi có hiệu quả. Ngược lại, hệ thống
pháp luật không đầy đủ, chồng chéo, mâu thuẫn sẽ dẫn đến hoạt động
công chứng không hiệu quả và ảnh hưởng đến QLNN về công chứng.
Thứ ba, yếu tố kinh tế: công chứng ra đời và phát triển dựa
trên cơ sở kinh tế nhất định, kinh tế phát triển kéo theo các giao dịch
dân sự, thương mại càng nhiều do đó cần đến công chứng để “gác
cổng” cho các giao dịch này được diễn ra an toàn, đảm bảo về mặt
pháp lý.
Thứ tư, yếu tố văn hóa – xã hội: văn hóa - xã hội là điều kiện
đảm bảo đóng vai trò nền tảng trong QLNN về công chứng, sự phân
hóa giàu nghèo, trình độ dân trí, vấn đề an sinh xã hội,...tất cả những
điều này ảnh hưởng đến QLNN về công chứn
10
Chương 2
chứng, trong đó có 07 Phòng công chứng và 66 Văn phòng công
chứng đang hoạt động. Các tổ chức hành nghề công chứng trên địa
bàn Thành phố được phân bổ tương đối đều về địa lý, gắn kết với địa
bàn dân cư, đáp ứng được nhu cầu công chứng ngày càng tăng và đa
dạng của tổ chức và cá nhân.
Bên cạnh sự phát triển của các Văn phòng công chứng thì số
lượng công chứng viên tăng không ngừng qua các năm, hiện nay
Thành phố có 288 công chứng viên. Trình độ công chứng viên được
đánh giá tương đối đồng đều. Chất lượng ngày càng cải thiện, các
công chứng viên phần lớn có kinh nghiệm thực tế, có bản lĩnh chính
trị, đạo đức nghề nghiệp tốt và phẩm chất đạo đức tốt
2.2.2 Tình hình hoạt động công chứng:
Từ năm 2011 đến năm 2016, các tổ chức hành nghề công
chứng thực hiện 4.563.836 việc công chứng với tổng số phí công
chứng thu được hơn 1.613 tỷ đồng. Số lượng việc và tổng thu phí
công chứng ngày càng tăng, cho thấy nhu cầu giao dịch của cá nhân,
tổ chức ngày càng nhiều, điều này đã dẫn đến sự phát triển ngày càng
lớn mạnh của các Văn phòng công chứng ra đời để đáp ứng nhu cầu
công chứng của người dân.
2.3. Tình hình quản lý nhà nước về công chứng tại thành
phố Hồ Chí Minh
2.3.1 Về ban hành văn bản quản lý
Tại thành phố Hồ Chí Minh, ngay khi Luật Công chứng và
các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành, để thực hiện chủ trương
12
xã hội hóa công chứng của Luật công chứng một cách có hiệu quả, có
lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của thành phố, UBND
Thành phố đã ban hành Đề án phát triển tổ chức hành nghề công
lừa đảo, giả mạo trong hoạt động công chứng, đồng thời giúp Sở Tư
pháp nắm bắt thông tin, dữ liệu công chứng để phục vụ cho công tác
quản lý hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố.
2.4. Đánh giá tình hình: Những ưu điểm và hạn chế, bất
cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong quản lý
nhà nước về công chứng tại thành phố Hồ Chí Minh
2.4.1 Những ưu điểm trong QLNN về công chứng tại thành
phố Hồ Chí Minh
Thứ nhất, công tác quy hoạch, xây dựng mạng lưới tổ chức
hành nghề công chứng gắn với địa bàn dân cư được thực hiện chặt
chẽ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố.
Thứ hai, thành phố Hồ Chí Minh đã có những giải pháp phù
hợp để triển khai xây dựng thể chế như công tác ứng dụng công nghệ
thông tin trong hoạt động công chứng, rà soát và niêm yết công khai,
minh bạch các thủ tục hành chính liên quan đến công chứng, xây
dựng tiêu chí để thẩm định các hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng
công chứng, ban hành mức trần thù lao công chứng,..
Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, số
lượng tổ chức hành nghề công chứng được thanh tra tăng từng năm,
các trường hợp vi phạm được xử lý nghiêm túc, có tính răn đe cao.
Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ dể nâng cao công tác
công chứng rất được chú trọng,...
14
2.4.2. Hạn chế trong QLNN về công chứng trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, số lượng tổ chức hành nghề công chứng trên địa
bàn thành phố lớn vì vậy chưa thể quản lý một cách triệt để nên còn
chứng còn có hạn chế dẫn đến nhận thức về chủ trương xã hội hóa hoạt
động công chứng, về bản chất nghề nghiệp công chứng, về sự khác biệt
giữa công chứng và chứng thực...
Thứ ba, nhiều quy định liên quan đến công chứng trong Luật
đất đai, Luật nhà ở và các văn bản hướng dẫn thi hành còn chưa thống
nhất gây khó khăn cho hoạt động công chứng.
16
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công
chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả QLNN về công chứng trước hết
sẽ góp phần giảm thiểu những rủi ro trong hoạt động hành nghề công
chứng.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả QLNN về công chứng sẽ góp
phần nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của hoạt động công
chứng, đội ngũ công chứng viên và an toàn pháp lý trong các giao
dịch;
Thứ ba, nâng cao hiệu quả QLNN về công chứng góp phần
tạo điều kiện cho công chứng ở nước ta hội nhập với nghề công
chứng quốc tế, phát huy được vai trò công chứng trong phát triển
kinh tế xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả QLNN về công chứng từ thực
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về
công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
Một là, sửa đổi Khoản 2 Điều 44 Luật công chứng 2014: cần
quy định cụ thể hơn cụm từ “lý do chính đáng khác” là trong trường
hợp khẩn cấp, bị đe dọa tính mạng hoặc vì lý do ốm đau dài ngày mà
không thể đến trụ sở tổ chức hành nghề công chứng.
18
Hai là, sửa đổi Khoản 3, Điều 22, Luật công chứng 2014:
không nên quy định tên của Văn phòng công chứng phải đi kèm họ
tên của Trưởng văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp
danh khác, điều này sẽ ảnh hưởng đến việc uy tín, thương hiệu của
Văn phòng công chứng đã gầy dựng trước đó.
Ba là, sửa đổi Điều 8, Luật công chứng 2014: cần có quy
định cụ thể về thời gian công tác pháp luật, nhất là đối với những
người làm việc tại các cơ quan, đơn vị có quy mô nhỏ, khối lượng
công việc ít.
Bốn là, sửa đổi Điều 38, Luật công chứng 2014: cần sửa đổi
theo hướng, quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trực tiếp cho
cá nhân công chứng viên. Việc quy định này mục đích để bản thân
công chứng viên có trách nhiệm hơn qua đó giảm tải việc sai sót, vi
phạm trong hoạt động hành nghề công chứng.
Năm là, kéo dài thời gian bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công
chứng đối với những người miễn đào tạo nghề công chứng: tác giả đề
xuất sửa đổi Điểm 2, Điều 10, Luật Công chứng 2014 như sau:
“3.Thời gian bồi dưỡng hành nghề công chứng là 6 tháng”.
Sáu là, bổ sung quy định về vấn đề chi trả hoa hồng công
chứng cho các tổ chức có liên quan.
trên cơ sở kế thừa các công trình khoa học của nhiều tác giả và có sự
phát triển thêm của cá nhân người nghiên cứu cho thấy công chứng
có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định trật tự xã hội, bảo vệ
quyền, lợi ích của các bên có liên quan, thúc đẩy giao dịch dân sự,
thương mại đồng thời bổ trợ cho hoạt động của các cơ quan tài phán.
Tổ chức và hoạt động công chứng được hình thành và phát triển để
phục vụ quản lý, định hướng cho các giao dịch tuân thủ Hiến pháp và
pháp luật, đồng thời đảm bảo về mặt pháp lý cho các bên tham gia
giao dịch.
QLNN về công chứng từ khi có Luật công chứng 2014 đã
được quy định rõ ràng hơn trong việc phân định thẩm quyền quản lý
cho từng cấp, qua đó góp phần bảo đảm an toàn pháp lý của các văn
bản công chứng.
Với vị trí địa lý và các thế mạnh về kinh tế, xã hội của thành
phố Hồ Chí Minh được coi là khu vực trọng điểm của cả nước. Qua
đó, tình hình tổ chức và hoạt động công chứng ở thành phố Hồ Chí
Minh trong thời gian qua đã phát triển sôi động, tổ chức hành nghề
công chứng và công chứng viên ngày một tăng lên, số lượng việc
công chứng tăng qua từng năm. Mạng lưới quản lý công chứng trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cũng rất chặt chẽ, có nhiều ưu điểm
nhưng cũng còn nhiều hạn chế cần được khắc phục.
Luận văn đã nêu ra nhu cầu, phương hướng và các giải pháp
nâng cao hiệu quả QLNN về công chứng từ thực tiễn thành phố Hồ
Chí Minh như: về đào tạo, tiêu chuẩn hóa đội ngũ công chứng viên,
21
kiên toàn đội ngũ quản lý về công chứng, đẩy nhanh việc thành lập
Hội công chứng viên toàn quốc, hoàn thiện cơ sở dữ liệu công chứng,
đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về công