TIẾN TRÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH BDTX
NĂM HỌC 2015-2016
1
1) Nội dung bồi dưỡng: (Ghi rõ các nội dung bồi dưỡng)
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG I:
* Lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục ở Tiểu học (TH12):
Tự học 13 tiết; học tập trung 18 tiết
- Các nội dung cần tích hợp giáo dục trong các môn học và hoạt động giáo dục
ở tiểu học.
- Phương pháp lựa chọn địa chỉ tích hợp và xác định mức độ tích hợp trong
các bài học của từng môn học và hoạt động giáo dục ở tiểu học.
- Kĩ năng lựa chọn phương pháp – kĩ thuật dạy học phù hợp với việc dạy học
tích hợp.
- Thực hành lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục.
2. Thời gian bồi dưỡng:
Từ ngày 15 tháng 8 năm 2015 đến ngày 31 tháng 10 năm 2015
3. Hình thức bồi dưỡng: (ghi rõ BD bằng hình thức tự học hay tập trung. Nếu BD bằng
hình thức tập trung thì nêu rõ địa điểm và họ tên báo cáo viên).
Tự học: 13 tiết; học tập trung theo tổ khối:18 tiết
4. Kết quả đạt được: (Ghi rõ đã tiếp thu, nắm bắt được những kiến thức nào)
Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết. dạy học
tích hợp là một xu hướng của lí luận dạy học và được nhiều nước trên thế giới thực
hiện.
Cùng với xu thế đổi mới về giáo dục tại Việt Nam, thì chương trình dạy nghề
trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp được thiết kế theo quan điểm kết hợp môn học
này sẽ đưa ra cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích các thành viên trong
nhóm hăng hái tham gia vào gỉai quyết vấn đề.
Sự hợp tác giữa học sinh với học sinh là hết sức quan trọng nhưng vẫn chỉ là
ngoại lực, điều quan trọng nhất là cần phải phát huy nội lực là tính tự chủ, chủ động
nổ lực tìm kiếm kiến thức của học sinh. Còn giáo viên chỉ là người tổ chức và hướng
dẫn quá trình học tập, đạo diễn cho học sinh tự tìm kiếm kiến thức và phương thức
tìm kiếm kiến thức bằng hành động của chính mình. Giáo viên phải dạy cái mà học
sinh cần, các doanh nghiệp đang đòi hỏi để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có chất
lượng cao cho nền kinh tế- xã hội chứ không phải dạy cái mà giáo viên có. Quan hệ
giữa giáo viên và học sinh được thực hiện dựa trên cơ sở tin cậy và hợp tác với nhau.
Trong quá trình tìm kiếm kiến thức của học sinh có thể chưa chính xác, chưa khoa
học, học sinh có thể căn cứ vào kết luận của giáo viên để tự kiểm tra, đánh giá rút
kinh nghiệm về cách học của mình. Nhận ra những sai sót và biết cách sửa sai đó
chính là biết cách học.
Dạy học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy học sinh là trung tâm, đây là xu
hướng chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống.
2. Định hướng đầu ra
Đặc điểm cơ bản nhất, có ý nghĩa trung tâm của đào tạo nghề theo năng lực
thực hiện là định hướng chú ý vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo xem học sinh
có thể làm được cái gì vào những công việc thực tiễn để đạt tiêu chuẩn đầu ra. Như
vậy, học sinh để làm được cái gì đó đòi hỏi có liên quan đến chương trình, còn để làm
tốt công việc gì đó trong thực tiễn như mong đợi thì liên quan đến việc đánh giá kết
quả học tập. Học sinh đạt được những đòi hỏi đó còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi
người. Trong đào tạo, việc định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng trong
quá trình đào tạo, cho phép người sử dụng sản phẩm đào tạo tin tưởng và sử dụng
trong một thời gian dài, đồng thời còn góp phần tạo niềm tin cho khách hàng.
Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của học sinh để vận dụng vào công
việc tương lai nghề nghiệp sau này, đòi hỏi quá trình học tập phải đảm bảo chất lượng
đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Thực hành phải có đủ phương tiện, kế hoạch,
quy trình luyện tập gắn ngay với vấn đề lý thuyết vừa học. Để hình thành cho học
sinh một kỹ năng thì cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lý các
nguồn nội lực (kiến thức, khả năng thực hiện và thái độ) và ngoại lực (tất cả những gì
có thể huy động được nằm ngoài cá nhân). Như vậy, giáo viên phải định hướng, giúp
đỡ, tổ chức, điều chỉnh và động viên hoạt động của học sinh. Sự định hướng của giáo
viên góp phần tạo ra môi trường sư phạm bao gồm các yếu tố cần có đối với sự phát
triển của học sinh mà mục tiêu bài học đặt và cách giải quyết chúng. Giáo viên vừa
có sự trợ giúp vừa có sự định hướng để giảm bớt những sai lầm cho học sinh ở phần
thực hành; đồng thời kích thích, động viên học sinh nẩy sinh nhu cầu, động cơ hứng
thú để tạo ra kết quả mới, tức là chuyển hóa những kinh nghiệm đó thành sản phẩm
của bản thân.
Trong dạy học tích hợp, học sinh được đặt vào những tình huống của đời sống
thực tế, do đó phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt
ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa
rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp. Học
sinh cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn,...và phân tích đối
tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật,
hiện tượng. Từ đó, học sinh vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp
thực hành. Như vậy, giáo viên không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn
hướng dẫn các thao tác thực hành.
Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, giáo viên cũng
cần có sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những nhận thức chưa
đúng. Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, tự đánh giá, điều chỉnh. Việc đánh
giá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm là học sinh phải thực hành được
các công việc giống như người công nhân thực hiện trong thực tế. Việc đánh giá riêng
từng người khi họ hoàn thành công việc, đánh giá không phải là đem so sánh học sinh
này với học sinh khác mà đánh giá dựa trên Chuẩn kiến thức kỹ năng.
thù. Việc lựa chọn hoạt động của giáo viên và học sinh đòi hỏi sự sáng tạo linh hoạt
để người học thông qua hoạt động mà tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng và thái độ đối
với lao động nghề nghiệp và cuộc sống.
Cấu trúc giáo án tích hợp
Thời gian thực hiện: ………… ……………… ……
GIÁO ÁN SỐ: … ……
Tên bài cũ: ………… ……………… ………………
Thực hiện từ ngày … …… đến ngày … ……
TÊN BÀI: …………………………………………………………………………………………
MỤC TIÊU, YÊU CẦU CẦN ĐẠT:
- Sau lhi học xong bài này học sinh có khả năng:
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
.
ĐỒ DÙNG VÀ TRANG THIẾT BỊ DẠY HỌC:
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP:
I . ỔN ĐỊNH LỚP HỌC: Thời gian: ………………
II. THỰC HIỆN BÀI HỌC:
NỘI DUNG
ĐỊNH LƯỢNG PHƯƠNG PHÁP
I. Phần mở đầu: Dẫn nhập:
Giới thiệu tổng quan về bài học. Ví dụ: lịch Lựa
chọn Lựa
chọn
các
- Củng cố kiến thức: (nhấn mạnh các kiến
thức lý thuyết liên quan cần lưu ý).
- Củng cố kỹ năng: (cũng cố các kỹ năng cần
lưu ý; các sai hỏng thường gặp và các cách
khắc phục...)
- Nhận xét về kết quả học tập: (đánh giá về ý
thức và kết quả học tập).
- Hướng dẫn chuẩn bị cho buổi học sau: (về
kiến thức, về vật tư, dụng cụ...).
Hướng dẫn tự học:
- Hướng dẫn các tài liệu liên quan đến nội
dung của bài học để học sinh tham khảo.
- Hướng dẫn tự rèn luyện.
Lựa
chọn Lựa
chọn
các
thời gian phù phương pháp phù
hợp.
hợp.
Lựa
chọn Lựa chọn các
thời gian phù phương pháp phù
hợp.
hợp.
Lựa
chọn Lựa chọn các
các bài học của từng môn học và hoạt động giáo dục ở tiểu học.
* Có nhiều hình thức tích hợp chương trình khác nhau:
+ Kết hợp lồng ghép: Đây là mức đầu tiên của tích hợp; theo đó những nội
dung nào đó sẽ được kết hợp vào chương trình môn học độc lập có sẵn.
+ Đa môn: Các môn học riêng lẻ nhưng có những chủ đề, vấn đề được tích hợp
vào các môn.
+ Liên môn: Chương tình tạo ra các chủ đề, vấn đề chung nhưng các khái niệm
hoặc các kỹ năng liên môn được chú trọng giữa các môn mà không phải là từng môn
riêng biệt. Xây dựng môn học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau thành
một môn học mới nhưng vẫn có những phần mang tên riêng của từng môn học.
(VD: môn Tiếng Việt – Môn Tự nhiên và xã hội – môn Đạo đức – Kĩ năng
sống...)
* Xác định mức độ tích hợp:
+ Tích hợp theo chiều ngang: là tích hợp theo nguyên tắc đồng quy giữa các
phân môn với nhau, giữa kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, văn
hóa, thiên nhiên, con người và xã hội; giữa kiến thức với kỹ năng, thái độ; giữa các
kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
+ Tích hợp theo chiều dọc: là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kỹ năng mới
những kiến thức và kỹ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm cụ thể là: kiến
thức và kỹ năng của lớp trên, cấp học trên bao hàm kiến thức và kỹ năng của lớp
dưới, cấp học dưới nhưng cao hơn và sâu hơn.
3. Kĩ năng lựa chọn phương pháp – kĩ thuật dạy học phù hợp với việc dạy học
tích hợp.
- Dạy học trong đó kết hợp các phương pháp, các quá trình và hình thức hoạt
động nhằm phát triển năng lực nhận thức, bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
một cách tích cực, chủ động, sáng tạo. Trong thực hiện dạy học tích hợp, chú trọng
dạy học qua tình huống, học qua các hoạt động, học qua các trải nghiệm, học theo dự
án... Một số phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp kiến tạo, phương pháp
- Thực hiện bảo vệ các loài vật
có ích, quý hiếm trên các vùng
biển, đảo
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI.
Lớp
Bài dạy
Nội dung tích hợp
Mức độ tích hợp
HS vùng
HS đại trà
có biển
đảo
2
Bài 21-22: Cuộc
sống xung quanh
Kể tên về nghề nghiệp và
nói về những hoạt động
sinh sống của người dân
địa phương; HS có ý
thức gắn bó với quê
hương
Liên hệ với một số loài
nước
Bài 30: Nhận
biết cây cối các
con vật
Liên hệ
Toàn phần
Liên hệ
Liên hệ
Liên hệ
Liên hệ
Bộ phận
Bộ phận
Liên hệ
Liên hệ
MÔN TIẾNG VIỆT
Lớp
Sông biển
Sông biển
Tập làm văn: Qua bài tập làm văn
Quan sát
học sinh hiểu thêm về
tranh và trả biển, yêu quý biển
lời câu hỏi
Tập đọc: Cá
sấu sợ cá mập
(Giảm tải)
Toàn phần Toàn phần
Một số kế hoạch bài dạy:
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
CUỘC SỐNG XUNG QUANH
I) Mục tiêu
- Nêu được một số nghề nghiệp chính và hoạt động sinh sống của người dân
nơi em sống.
- HS khá giỏi mô tả một số nghề nghiệp, cách sinh hoạt của người dân vùng
nông thôn hay thành thị.
- HS có ý thức gắn bó với quê hương
II) Đồ dùng dạy học
- Tranh minh họa trong SGK
III) Hoạt động dạy học
+ Kể tên các nghề của người dân được vẽ trong
các hình 2 đến hình 8 SGK trang 44, 45.
- HS trình bày
=>Kết luận: Nhũ
=>Kết luận: Những bức tranh trang 44, 45 thể
hiện nghề nghiệp và sinh hoạt của người dân ở
nông thôn và các vùng miền khác nhau của đất
nước.
* Hoạt động 2: Nói về cuộc sống ở địa phương
- Chia lớp thành 3 nhóm
- Thảo luận về cuộc sống và nghề nghiệp của
người dân ở địa phương em.
- HS thảo luận
- HS trình bày
- Nhận xét tuyên dương
4) Củng cố
+ Hãy kể các nghề ở địa phương em?
- GDHS: Yêu nghề nghiệp của bố mẹ và tôn
trọng bố mẹ, yêu quê hương của mình.
5) Nhận xét – Dặn dò
- Nhận xét tiết học
- Trình bày
- Thảo luận nhóm
- Trình bày
- Kể
-HS chú ý
báo thời tiết và trả lời câu hỏi về
nội dung của bài.
- Nhận xét, cho điểm HS.
- Hỏi: Trong lớp chúng ta, con
nào đã được đi tắm biển? Khi
được đi biển, các con có suy nghĩ,
tình cảm gì? Hãy kể lại những
điều đó với cả lớp.
- Giới thiệu: Trong bài tập đọc
2.Bài mới. hôm nay, chúng ta sẽ được nhìn
HĐ 1: HD biển qua con mắt của một bạn
luyện đọc. nhỏ.
10-12’
Lần đầu được bố cho ra biển, bạn
nhỏ có những tình cảm, suy nghĩ
gì? Chúng ta cùng học bài hôm
nay để biết được điều này nhé.
- Viết tên bài lên bảng.
- Luyện đọc
a) Đọc mẫu
- GV đọc mẫu toàn bài lần 1. Chú
ý: Giọng vui tươi, thích thú.
b) Luyện phát âm
- Yêu cầu HS tìm các từ cần chú ý
phát âm:
- Tìm các tiếng trong bài có thanh
hỏi/ ngã, âm cuối là n, c, t?
(HS trả lời, GV ghi các từ này lên
bảng)
theo nhóm nhỏ. Mỗi nhóm có 4
HS.
- Mỗi nhóm cử 2 HS thi đọc.
d) Thi đọc giữa các nhóm
- Tổ chức cho HS thi đọc từng
khổ thơ, đọc cả bài.
e) Đọc đồng thanh
- Tìm hiểu bài
- 1 HS đọc thành tiếng, cả lớp theo
HĐ 2: Tìm - Gọi 1 HS đọc chú giải
dõi trang SGK.
hiểu bài.
- HS thảo luận cặp đôi và phát biểu ý
10-12’
- Hỏi: Tìm những câu thơ cho kiến:
thấy biển rất rộng.
Những câu thơ cho thấy biển rất rộng
là:
Tưởng rằng biển nhỏ
Mà to bằng trời
Như con sông lớn
Chỉ có một bờ
Biển to lớn thế
- Những câu thơ cho thấy biển giống
như trẻ con đó là:
- Những hình ảnh nào cho thấy
Bãi giằng với sóng
biển giống như trẻ con?
Chơi trò kéo co
Lon ta lon ton
lòng bài thơ.
- Nhận xét giờ học, dặn HS về nhà
đọc lại bài
- Chuẩn bị bài sau: Tôm Càng và
Cá Con.
6. Những nội dung khó và những đề xuất về cách thức tổ chức bồi dưỡng nhằm
giải quyết những nội dung khó này.
Không có.
7. Tự đánh giá :
Qua một thời gian vận dụng những kiến thức kĩ năng đã học tập ở module TH12 vào
thực tế đơn vị. Bản thân tôi đã tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn công tác được 90%
so với kế hoạch BDTX của bản thân đã được nhà trường phê duyệt
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
B. NỘI DUNG BỒI DƯỠNG III
MODULE TH1
1. Nội dung bồi dưỡng
* Một số vấn đề về tâm lí học dạy học ở tiểu học (TH1) 15 tiết: Tự học 8
tiết; học tập trung 7 tiết
- Tâm lí học về sự phát triển trí tuệ học sinh tiểu học
- Tâm lí học về sự hình thành kĩ năng học tập của học sinh tiểu học
- Tâm lí học về giáo dục đạo đức học sinh tiểu học
2. Thời gian bồi dưỡng:
- Từ ngày 01 tháng 11 đến 30 tháng 11 năm 2015.
3. Hình thức bồi dưỡng:
- Tự học, đọc tài liệu tham khảo.
- Tập trung theo nhóm.
béo phì. #3: Con k
- Chỉ cần để ý một chút, bạn sẽ phát hiện ra tập thể dục giúp trẻ ngủ sâu và ngủ
ngon hơn. Bên cạnh đó, vận động thể dục còn tăng cường khả năng miễn dịch cho
trẻ. Những căn bệnh thường hay xảy ra vào thời điểm giao mùa như cúm, sởi, phát
ban… sẽ khó có thể xâm nhập vào cơ thể trẻ hay tập thể dục.
b. Trẻ vào lớp một:
- Hiểu, nắm vững được những nét đặc trưng về tâm lý của trẻ em lứa tuổi học
sinh tiểu học; biết rõ được đặc điểm của hoạt động học cũa học sinh và hoạt động dạy
của giáo viên. Đồng thời biết rõ được mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy,
hoạt động học và sự phát triển tâm lý của học sinh.
- Hình thành kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu, kỹ năng tìm hiểu (nghiên
cứu) về học sinh, kỹ năng chuẩn bị và thực hiện hoạt động dạy học theo phương pháp
sư phạm phù hợp với đối tượng học sinh.
- Nâng cao trách nhiệm, có đạo đức nghề nghiệp, yêu quý, tôn trong trẻ em.
(“Yêu nghề mến trẻ”).
- Lớp một được xem là bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ. Nếu như ở mẫu
giáo, hoạt động chủ đạo là vui chơi, thì khi lên tiểu học, việc học là hoạt động chủ
yếu.
- Quá trình chuyển đổi hoạt động chủ đạo sẽ gây cho trẻ rất nhiều khó khăn,
nhất là về mặt tâm lý. Nếu như việc học tập diễn ra tốt đẹp thì kéo theo sự phát triển
tâm lý của trẻ cũng đúng hướng, thuận lợi và ngược lại. Vì vậy, hiểu được sự chuyển
biến tâm lý của trẻ ở giai đoạn này là rất quan trọng, sẽ giúp trẻ dễ thích nghi với môi
trường mới, tiếp thu sự giáo dục dễ dàng.
c. Những rào cản tâm lý với trẻ:
- Khi vào lớp 1, các em sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện nội quy học tập,
khả năng điều khiển tâm lý của bản thân còn kém. Các em chưa ý thức được rõ giới
hạn giữa chơi và học nên gặp nhiều khó khăn trong khi chuyển trạng thái từ hoạt
động chơi sang học, trẻ chưa biết phân bố thời gian giữa các môn sao cho phù hợp.
- Trong quá trình học, các em đã gặp những khó khăn trong việc thực hiện nội
quy học tập, khả năng điều khiển các hoạt động tâm lý của bản thân còn kém. Các em
chưa ý thức được rõ giới hạn giữa chơi và việc học nên gặp nhiều khó khăn trong khi
chuyển trạng thái từ hoạt động chơi sang học, trẻ chưa biết phân bố thời gian học tập
giữa các môn sao cho phù hợp. Các em cũng khó thiết lập mối quan hệ với thầy cô,
bạn bè.
- Đặc biệt, trẻ ở lứa tuổi này phải làm quen với phương pháp học tập mới, phải
học nhiều môn khác nhau, kể cả những môn các em không thích học. Thậm chí, nếu
người lớn không có sự định hướng kịp thời, sẽ có nhiều em căng thẳng trước khối
lượng lớn kiến thức vừa mới, vừa trừu tượng. Khả năng phân tán chú ý ở trẻ còn cao,
trong khi đó hoạt động học tập lại đòi hỏi các em phải làm những công việc khéo léo
và đòi hỏi sự tập trung. Mặt khác, khi đi học lớp 1, trẻ tự nhận thấy mình đã lớn, phải
có vai trò và trách nhiệm mới đối với gia đình. Đó là những yếu tố tâm lý cản trở họat
động học tập, làm cho học sinh lớp 1 khó thích ứng, kết quả học tập đạt được không
như mong muốn.
Nếu phụ huynh có thời gian quan tâm đến con của mình sẽ nhận thấy những
biểu hiện nổi bật ở các em như không thích đi học hay đi học muộn ( kể cả bố mẹ chở
đến trường, các em cũng cố nấn ná thêm ở bên ngoài, chưa thích vào lớp), nói chuyên
riêng khi cô đang giảng bài; học không đồng đều các môn, thường thì các em thích
môn nào thì học tốt môn đó; quên không làm bài tập cô giáo yêu cầu, không tự giác
học (chỉ học khi nào người lớn nhắc nhở); có khá nhiều trường hợp các em không
dám nói với bố mẹ về điểm kém và vi phạm khuyết điểm của mình ở trường.
Cha mẹ cần tìm cách khắc phục dần dần nếu trẻ đạt kết quả không tốt ở năm
đầu bậc tiểu học.
- Không ít phụ huynh khó hình dung được rằng bước sang một môi trường học
tập mới, trẻ hoàn toàn lạ lẫm, các em chưa được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học,
chưa tìm thấy hứng thú trong học tập, những điều mới lạ trong những bài học còn
trừu tượng chưa kích thích được tính tự giác, tích cực của trẻ. Vì thế, trẻ chưa hình
thành được cách thức học tập khoa học và hiệu quả.
độ và thói quen hành vi đạo đức. Rào cản tâm lý trong hoạt động học tập của các em
do nhiều nguyên nhân khác nhau.
- Trong nhà trường, cần nâng cao hơn nữa quan hệ giao lưu giữa giáo viên và
học sinh, khắc phục cản trở trong quan hệ thầy trò.
- Trong gia đình cần có sự quan tâm đúng mức, cha mẹ tạo điều kiện thuận lợi
cho con học tập, xây dựng bầu không khí gia đình luôn vui vẻ, ấm cúng, đừng đặt quá
nhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm lý thoải mái trong khi học tập. Tăng cường
sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng nhân cách trẻ, động viên các em
trong suốt quá trình học tập... là con đường ngắn nhất để cùng trẻ khắc phục những
khó khăn tâm lý trong học tập ở năm đầu bậc tiểu học.
5. Những nội dung bản thân sẽ vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và giáo dục tại đơn
vị:
Sau khi nghiên cứu và học tập module TH1 tôi đã vận dụng những kiến thức, kĩ năng
đã học tập được vào quá trình thực hiện tại cơ quan như sau:
- Chia sẻ cùng trẻ. Trong thời điểm này, các bậc phụ huynh nên chuẩn bị những
điều kiện tốt nhất cho trẻ, ngoài quần áo, đồ dùng học tập... thì việc tạo cho trẻ một
tâm lý sẵn sàng là rất quan trọng.
- Hãy nói với trẻ biết trước về môi trường mới, thầy cô mới, nội dung học tập
mới, những khó khăn cũng như thuận lợi nhất định để trẻ tập làm quen ngay ở nhà.
Đồng thời nếu có điều kiện cha mẹ cũng nên cho trẻ làm quen với môi trường học tập
mới trong dịp hè, như cho trẻ đến trường để thăm quan, làm quen với anh chị lớn tuổi
hơn, tập thói quen chấp hành nội quy...
- Cha mẹ tạo điều kiện thuận lợi cho con học tập, xây dựng bầu không khí gia
đình luôn vui vẻ, ấm cúng, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái, tạo cho trẻ tâm lý
thoải mái trong khi học tập.
- Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, tôn trọng nhân cách trẻ,
động viên các em trong suốt quá trình học tập... là con đường ngắn nhất để cùng trẻ
- Tâm lí của học sinh có hoàn cảnh khó khăn
2. Thời gian bồi dưỡng:
- Từ ngày 01 tháng 12 đến 31 tháng 12 năm 2015.
3. Hình thức bồi dưỡng:
- Tập trung theo nhóm.
- Tự học, đọc tài liệu tham khảo.
4. Kết quả đạt được:
A. Mở đầu:
Giáo dục ngôn ngữ ở các tỉnh miền núi luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm,
dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên luôn là
nhiệm vụ hàng đầu của những người đang giảng dạy tại nơi đây. Đó là việc dạy học
tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số đang cư trú tại
dải đất này, các dân tộc như Jarai, Bahnar...
- Trong tâm lí học lứa tuổi, học sinh lứa tuổi thiếu niên luôn ngự trị quy luật về
tính mất cân đối tạm thời, tính mâu thuẫn và quy luật về tính không đồng đều của sự
phát triển thể hiện ở tất cả các lĩnh vực của nhân cách và thể chất. Nhưng thực tế làm
công tác giáo dục tại các xã vùng đặc biệt khó khăn, học sinh là con em đồng bào dân
tộc thiểu thì mỗi người cán bộ GV phải biết những “tâm lí riêng” mà không sách vỡ lí
thuyết nào có thể nhắc tới. Hằng ngày, ngoài việc soạn bài lên lớp là việc vận động duy
trì số lượng, tìm các biện pháp nâng cao chất lượng, người GV còn phải là “Vừa là
thầy giáo, vừa là bạn bè”. Với kinh nghiệm thực tiễn sau đây sẽ giúp những GV mới
chập chững vào nghề đến nhận công tác ở miền núi có những biện pháp giáo dục hợp
lí, đặc biệt là GV chủ nhiệm lớp.
B. Nội dung:
1. Học sinh Tiểu học người dân tộc trước khi đến trường:
- Khác với học sinh người kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người dân
tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế cũng có số ít các em được trải qua
thấy rằng, các em học sinh ở đây đã biết ý thức về nguồn gốc của mình. Cái nghèo
luôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn gốc,
về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân. Nghèo đã giúp con người ta vươn lên
nhưng nghèo cũng làm cho con người luôn mặc cảm, tự ti, bằng lòng với cuộc sống
hiện tại. Mặc cảm số phận đã khiến con người không thể thoát khỏi những thiếu thốn
vật chất, không thể vươn xa hơn không gian sống hiện tại. Những học sinh tiểu học
người dân tộc thiểu số không có sự hồn nhiên của tuổi trẻ, không chỉ có "ngày hai
buổi đến trường", các em còn phải miệt mài trên nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô,...lo
cho cuộc sống vật chất của gia đình đang chật vật, thiếu thốn. Chúng tôi thật thương
tâm khi nghe nhưng đồng nghiệp đang giảng dạy ở những vùng miền núi Tây Nguyên
tâm sự, rằng "chúng em phải vào tận làng lùng sục các em, đưa các em đến trường.";
cũng có nhiều giáo viên chia sẻ, "Em phải dùng tiền lương của mình để mua quà ăn,
đồ dùng học tập cho các em, rồi mới đưa các em trở lại trường. Nhưng có lúc cũng
không thành công!",... Theo tôi, cái gốc rễ của vấn đề là ở chỗ, cái nghèo truyền kiếp
đã quy định trách nhiệm của các em đối với gia đình. Cái ăn từng bữa còn chưa có,
chưa đủ thì học chữ để làm gì, suy nghĩ của các em và gia đình của các em là vậy! Họ
không hiểu rằng, chính cái chữ sẽ giúp con người thoát khỏi cuộc sống nghèo khó
hiện tại, giúp con người hoạch định tương lai. Cho nên vào thời điểm mùa màng, số
lượng học sinh trên lớp học rất ít. Cũng có những hôm thầy giáo cắp cặp tới lớp, rồi
quay về, tìm cách xuống bản, tới từng gia đình học sinh, giảng giải cho các em,
thuyết phục gia đình các em rằng, cần phải dành thời gian cho các em học tập, bởi
các em còn trong độ tuổi đến trường. Thế nhưng, hiệu quả của công việc "tuyên
truyền" này không phải lúc nào cũng như ý, lắm lúc, giáo viên còn phải nhận những
câu trả lời cay nghiệt của phụ huynh khiến cho họ có những giây phút nản lòng.
Một số học sinh có ý thức học tập, đến mùa màng, cũng xin phép giáo viên chủ
nhiệm, nhà trường nghỉ phép vài hôm, nhưng rồi các em cũng quên trở lại trường khi
mùa gặt kết thúc. Giáo viên lại phải nhọc công tìm đến tận bản, vận động các em đến
trường.
giờ học, đặc biệt là các em rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng
nghĩa với việc kiềm hãm sự phát triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường
giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, "sợ" phải đến
trường. Học tập lúc này là công việc quá khó khăn đối với các em.
- Đối với các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong
gia đình hoặc không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn
đốc nhắc nhở quản lý, hay do hoàn cảnh sống khó khăn mà gia đình đã không chú
trọng tới việc học của con, em mình. Điều này cho thấy đa số các em không được
nằm trên một cái nền học vấn nhất định nào đó của gia đình. Việc học tập của các em
phải nhờ đến sự tận tâm của giáo viên, nhờ vào kế hoạch giáo dục của nhà trường.
Cho nên ý thức học tập là đặc tính rất cần được chúng ta xây dựng cho các em.
C. Kết luận:
Học sinh luôn có niềm tin sâu sắc vào GV và thực tiễn. Các em thường dễ dàng
nghe theo những người mình đã tin cậy, đặc biệt là GV. Khi các em đã tin GV, các em
thường quyết tâm thực hiện cho được những công việc GV giao, nhiều khi các em
còn bắt chước tác phong, cử chỉ, ngôn ngữ,.. của GV. Vì vậy, GV phải luôn gần gũi,
đi sâu, đi sát giúp đỡ các em, cố gắng cảm hóa các em bằng sự tận tình chăm sóc của
mình; đồng thời cũng cố gắng gương mẫu về mọi mặt để dành cho được sự tin yêu
của các em, từ đó phát huy tác dụng giáo dục của mình.
Nắm vững những đặc điểm tâm lí của học sinh gái. Trong học sinh miền núi,
học sinh gái thường ít nói, e dè và dễ xấu hổ, những em gái lớn trong một lớp thường
thiếu những hoài bão ước mơ cần thiết; cho nên những tác động ngoại cảnh dễ làm
cho các em này bỏ học. Khi một em có ý định bỏ học thường rủ thêm một số em khác
bỏ theo. Từ những đặc điểm trên, trong khi giao tiếp, gặp gỡ riêng với các em học
sinh gái, GV phải thường nói chuyện tâm tình với các em về các vấn đề như vai trò
của người phụ nữ trong xã hội ta hiện nay, những công việc mà người phụ nữ miền
núi phải có trách nhiệm vươn lên để gánh vác, sự cần thiết phải có trình độ văn hóa
tối thiểu trong thời đại ngày nay, đồng thời phân tích cho các em những hạn chế của
nhà trường phê duyệt)
Qua một thời gian vận dụng những kiến thức kĩ năng đã học tập ở module TH1 vào
thực tế đơn vị. Bản thân tôi đã tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn công tác được 90%
so với kế hoạch BDTX của bản thân đã được nhà trường phê duyệt.
MODULE TH4
1. Nội dung bồi dưỡng
* Môi trường dạy học lớp ghép (TH4) 15 tiết: Tự học 8 tiết; học tập trung 7.
- Môi trường học tập lớp ghép
- Không gian hoạt động của giáo viên và học sinh
- Tổ chức sắp xếp thiết bị, đồ dùng trong phòng học ở lớp ghép
- Môi trường dạy học lớp ghép ở một số giờ học
- Vai trò của giáo viên trong việc xây dựng môi trường dạy học lớp ghép có
hiệu quả.
2. Thời gian bồi dưỡng:
- Từ ngày 01 tháng 01 đến 31 tháng 01 năm 2016.
3. Hình thức bồi dưỡng:
- Tập trung theo nhóm.
- Tự học, đọc tài liệu tham khảo.
4. Kết quả đạt được:
A. Môi trường học tập lớp ghép
* Lớp ghép:
Dạy học lớp ghép (DHLG) là một hình thức tổ chức dạy học mà một GV có
trách nhiệm tổ chức dạy học cho HS ở hai hay nhiều trình độ khác nhau đạt đến
những mục tiêu giáo dục đã đặt ra. Như vậy, LG là lớp học gồm HS ở các trình độ
(TĐ) khác nhau và trong mỗi lớp có hai hay vài nhóm trình độ (NTĐ) khác nhau.
Hình thức dạy học LG khác với hình thức tổ chức dạy học phổ biến ở nước ta hiện
nay ở chỗ trong mỗi LG có một GV, cùng một lúc dạy HS ở các TĐ khác nhau. Định