NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN HIVAIDS ĐIỀU TRỊ ARV TẠI PHÒNG KHÁM OPC TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 2016 - Pdf 47

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đại dịch HIV/AIDS đã và đang lan tràn ở khắp nơi trên thế giới.Tính đến
năm 2013 trong 32 năm qua, HIV/AIDS đã khiến 60 triệu người trên thế giới
bị lây nhiễm và trở thành nguyên nhân gây tử vong cho 30 triệu người khác.
Đại dịch HIV/AIDS trên thế giới vẫn đang diễn biến rất phức tạp, theo ước
tính của UNAIDS, trung bình mỗi ngày thế giới có thêm khoảng 7.000 người
nhiễm HIV. Tại Châu Á, Đông Nam Á là nơi có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao
nhất với nhiều khuynh hướng dịch tễ khác nhau [31].
Tại Việt Nam, trong 23 năm kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên phát
hiện ở Việt nam vào cuối tháng 12/1990, cho đến ngày 31/03/2013, số trường
hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống trên toàn quốc là 211.685 người, số bệnh
nhân AIDS hiện đang còn sống là 62.875 người và 64.852 bệnh nhân tử vong
do AIDS. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng và kinh nghiệm cho thấy so người
nhiễm HIV trên thực tế còn cao hơn so với số liệu báo cáo và quản lý được.
Trước năm 2013, hình thái lây truyền HIV chủ yếu ở nhóm người nghiện
chích ma tuý chiếm tỷ lệ 51,7% các trường hợp nhiễm HIV được phát
hiện. Nam giới chiếm 84,6%. Nhóm tuổi dưới 30, chiếm 62 %. Trên 78% số
xã/phường và 98 % số quận/huyện trong toàn quốc đã có người nhiễm
HIV/AIDS. Phần lớn các trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam là người nghiện
chích ma tuý hoặc có liên quan đến ma túy chiếm khoảng 44,4% [30].
Hiện nay, công tác phòng chống AIDS tại Việt Nam đã và đang chuyển
qua giai đoạn mới với việc mở rộng toàn diện độ bao phủ từ công tác dự
phòng tới chăm sóc và điều trị bệnh nhân AIDS, mục tiêu đến năm 2015 đáp
ứng điều trị 70% số bệnh nhân có nhu cầu; giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ
sang con xuống dưới 5% vào năm 2015 và dưới 2% vào năm 2020; giảm tử
vong liên quan đến HIV/AIDS. Điều trị ARV đã kéo dài và tăng chất lượng

1



Lentivirus (bao gồm HIV-1 và HIV-2) là virus gây suy giảm miễn dịch ở
người có giai đoạn tiềm tàng không triệu chứng kéo dài. AIDS (Acquired
Immuno Defficiency Syndrom) hay hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
là biểu hiện nặng ở giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV [2].
1.1.2 Sơ lược lịch sử bệnh
Lịch sử diễn biến HIV/AIDS trên thế giới có thể trải qua 3 giai đoạn
[16]:
- Thời kỳ “yên lặng” (1970 - 1981): Có thể nói HIV đã bắt đầu một
cách lặng lẽ từ những năm 70 trước khi mà AIDS và HIV được mô tả.
- Thời kỳ phát hiện virus (1981-1985):
Trong thời kỳ này đã phân lập được virus, xác định được phương thức
truyền bệnh. Phát hiện được kỹ thuật phát hiện bệnh.
Năm 1981 ở New York (Mỹ) báo cáo có nhiều trường hợp Sarcoma
Kaposi ở ngoài da và thông báo ở Los Angeles có 5 thanh niên đồng tính
luyến ái bị viêm phổi nặng do Pneumocystis pneumonia.
Năm 1985: Hội nghị danh pháp quốc tế xác nhận 3 vi rút (LAV, HTLV
III, ARV) chỉ là 1 và thống nhất tên gọi HIV1 là căn nguyên gây bệnh AIDS.
Năm 1984 - 1985: xác định kỹ thuật phát hiện kháng thể HTLV III và
chuẩn hóa bộ sinh phẩm phát hiện kháng thể kháng HIV bằng kỹ thuật gắn
men ELISA để sàng lọc máu và phát hiện lâm sàng.
Năm 1985, thuốc điều trị AIDS đầu tiên AZT được thử nghiệm điều trị.

3


- Thời kỳ 1985 đến nay: là thời kỳ toàn thế giới chống AIDS. Chương
trình AIDS toàn cầu (GPA- Global Programe on AIDS). Được thành lập ngày
01/02/1987 với 3 mục tiêu là:
+ Phòng lây nhiễm HIV, phát hiện vacxin.
+ Giảm ảnh hưởng của HIV tới cá nhân và xã hội.

1.2.1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990 tính đến
ngày 30/9/2014, toàn quốc hiện có 224.223 trường hợp báo cáo hiện nhiễm
HIV (trong đó số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 69.617) và tính từ
đầu vụ dịch HIV/AIDS đến nay có 70.734 trường hợp người nhiễm
HIV/AIDS tử vong. Số người nhiễm HIV phát hiện mới có xu hướng giảm
trong 7 năm gần đây, tuy nhiên vẫn ở mức cao khoảng 12.000-14.000 ca mỗi
năm. Mặc dù số nhiễm HIV phát hiện mới có xu hướng giảm, nhưng tổng
số người đang nhiễm HIV ngày càng gia tăng. Hiện đã có 80,3% số xã,
phường, thị trấn và 98,9% số quận, huyện đã báo cáo có người nhiễm HIV.
Dịch HIV ở Việt Nam bao gồm nhiều hình thái dịch khác nhau trên toàn
quốc và vẫn đang tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ
lây nhiễm HIV cao: người nghiện chích ma túy (NCMT), nam quan hệ tình
dục đồng giới (MSM) và phụ nữ bán dâm (PNBD). Trong thời gian gần đây,
bạn tình của người nghiện chích ma túy được coi là quần thể có nguy cơ cao
mới, được bổ sung vào các can thiệp dự phòng. Việc gia tăng các trường hợp
phụ nữ nhiễm HIV mới được báo cáo, chiếm đến 32,5% các ca nhiễm mới
trong năm 2013, phản ánh sự lây truyền HIV từ nam giới có hành vi nguy cơ
cao sang bạn tình [6].
Tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT giảm dần trong giai đoạn
từ năm 2004 đến 2013, lần đầu tiên xuống dưới 11% trong năm 2013 kể từ
năm 1997. Tuy tỉ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT đang giảm dần ở một số
tỉnh, nhưng ở hầu hết các tỉnh thực hiện giám sát, dịch HIV/AIDS vẫn đang
cao ở mức đáng báo động. Theo kết quả giám sát trọng điểm HIV năm 2013,
tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT đặc biệt cao ở các tỉnh Thái Nguyên

5


(34%), Lai Châu (27,7%), Hà Nội (24%), Quảng Ninh (22,4%) và Thành phố

phát hiện mới 175 trường hợp nhiễm HIV, 72 bệnh nhân AIDS, 16 trường hợp
tử vong do AIDS, không phát hiện trường hợp trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV bị
nhiễm HIV [2].
Theo thống kê mới nhất, đến cuối tháng 6/2013, thành phố Cần Thơ có
hơn 5.100 trường hợp nhiễm HIV còn sống, trong đó có hơn 1.600 bệnh nhân
AIDS và gần 1.400 trường hợp tử vong. Tỷ lệ người nhiễm HIV còn sống trên
100.000 dân của toàn thành phố là hơn 400. Quận Ninh Kiều, Cái Răng và
Thốt Nốt là địa phương có tỷ lệ người nhiễm HIV/100.000 dân cao nhất (500900 người). Người nhiễm HIV là nam giới nhiều hơn nữ giới 20%, chủ yếu là
thanh niên trong độ tuổi từ 20-39 tuổi (80,1%), số lượng nữ giới nhiễm HIV
cũng ngày càng tăng cao. Lây nhiễm HIV qua đường tình dục là xu hướng lây
truyền dịch HIV chính tại thành phố Cần Thơ (79,4%), lây nhiễm qua đường
truyền máu chiếm 20,6%. Đáng lưu ý là một số quận, huyện như Bình Thủy,

7


Phong Điền, Thới Lai, Vĩnh Thạnh có số nhiễm HIV sáu tháng đầu năm 2013
tăng so với cùng kỳ 2012 [2].
1.2.2 Mầm bệnh
HIV có vật liệu di truyền là ARN, trong quá trình nhân lên phải trải
qua giai đoạn trung gian phiên mã phân tử từ ARN thành ADN sợi đôi nhờ
enzyme phiên mã ngược RT (reverse transcriptase) của HIV. Do đặc tính này
cũng như do tốc độ nhân lên nhanh, HIV có tỷ lệ đột biến gen và mang tính đa
dạng di truyền cao. Có hai loại HIV-1 và HIV-2, trong đó HIV-1 là tác nhân
gây bệnh thường gặp nhất trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam [2].
Virus có dạng hình cầu kích thước 80 - 120 nm từ ngoài vào trong cấu
trúc của virus HIV có ba lớp:
- Màng ngoài là một màng lipit kép có câu trúc glycoprotein mang tính
kháng nguyên (gp120, gp41).
- Lớp vỏ trong là protein sát với màng lipit hình cầu có phân tử p18 với

Tỉ lệ nhiễm bệnh có khác nhau tuỳ theo khu vực, lối sống, phong tục,
hành vi… Theo kết quả giám sát trọng điểm HIV năm 2013, tỉ lệ hiện nhiễm
HIV trong nhóm NCMT đặc biệt cao ở các tỉnh Thái Nguyên (34%), Lai Châu
(27,7%), Hà Nội (24%), Quảng Ninh (22,4%) và Thành phố Hồ Chí Minh
18,2%). Đối với nhóm phụ nữ bán dâm tỉ lệ này là 2,6%. Tuy nhiên tỉ lệ hiện
nhiễm HIV trong nhóm PNBD tương đối cao trên 10%, tại Hà Nội, Hải
Phòng, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh [7].
HIV phân lập được từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước
mắt, sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể. Nhưng nhiều nghiên cứu
dịch tễ học cho thấy chỉ có máu, dịch tiết âm đạo, tinh dịch đóng vai trò quan
trọng trong việc làm lây truyền HIV.
1.2.4 Sự lây truyền HIV
Có 3 phương thức lây truyền được xác định là lây truyền qua đường
tình dục, đường máu và đường mẹ con.
1.2.4.1 Lây truyền qua đường tình dục

9


Virus HIV có thể lây qua đường tình dục đồng giới (15%) hoặc khác
giới (71%). Người nhận tinh dịch có nguy cơ lây nhiễm cao hơn, nên tỉ lệ nam
truyền cho nữ nhiều gấp 4 lần qua quan hệ tình dục. Khi có bệnh viêm nhiễm
ở đường sinh dục nguy cơ cao hơn gấp 20 lần [10], [16].
1.2.4.2 Lây truyền qua đường máu
HIV có mặt trong máu toàn phần và các thành phần của máu do đó HIV
có thể truyền qua máu hay sản phẩm của máu có nhiễm HIV. Nguy cơ lây
nhiễm qua đường máu rất cao trên 90% [9]. Song nhờ các biện pháp sàng lọc
được tuân thủ nghiêm túc nên đã hạn chế được con đường lây nhiễm này. Tuy
nhiên ngay cả khi xét nghiệm máu âm tính, khả năng lây nhiễm HIV vẫn có
thể xảy ra. Người cho máu có thể cho máu sau khi mới bị nhiễm HIV, nhưng

Nhiễm HIV ở người lớn được chẩn đoán trên cơ sở xét nghiệm kháng
thể HIV. Một người được xác định là nhiễm HIV khi có mẫu huyết thanh
dương tính cả ba lần xét nghiệm kháng thể HIV bằng ba loại sinh phẩm khác
nhau với nguyên lý phản ứng và phương pháp chuẩn bị kháng nguyên khác
nhau [2].
Xét nghiệm phát hiện kháng thể HIV:
- Thử nghiệm ELISA (phản ứng miễn dịch gắn men).
Được dùng để chẩn đoán xác định HIV.
+ Kỹ thuật ELISA, phát hiện kháng thể IgG-HIV, dễ thực hiện, đặc hiệu
cao, được sử dụng thường qui.
+ Kỹ thuật ELISA, phát hiện kháng thể IgA-HIV, tính đặc hiệu cao,
nhưng độ nhậy hạn chế có giá trị chẩn đoán HIV ở trẻ dưới 1 tuổi.
+ Xét nghiệm kháng thể IgM-HIV độ nhậy thấp nên ít dùng.
Các kháng thể trong huyết thanh bệnh nhân phản ứng với kháng
nguyên HIV trong ống nghiệm. Nếu các kháng thể kháng HIV tồn tại, phản
ứng dẫn tới thay đổi màu, khi đó kết quả dương tính.
+ Các âm tính giả xuất hiện khi xét nghiệm được làm trong vài tuần
đầu vì kháng thể chưa thực sự hình thành ở giai đoạn này của bệnh.

11


+ Các kết quả dương tính giả thường phối hợp với các bệnh tự miễn
dịch, bệnh thận, đa thai, bệnh gan, lọc máu và đã tiêm chủng phòng viêm gan
B, dại hay cúm.
Xét nghiệm khẳng định Western Blot
- Kỹ thuật Western Blot, độ nhậy và độ đặc hiệu cao, được sử dụng
chẩn đoán xác định nhưng rất đắt tiền.
1.3.2 Phân loại giai đoạn nhiễm HIV
1.3.2.1 Phân loại giai đoạn lâm sàng

- Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng.
- Thiếu máu (Hb< 80g/L), giảm bạch cầu trung tính (< 0.5x10 9/L),
và/hoặc giảm tiểu cầu mạn tính (< 50x109/L) không rõ nguyên nhân.
Giai đoạn lâm sàng 4: Triệu chứng nặng
- Hội chứng suy mòn do HIV (sút cân >10% trọng lượng cơ thể, kèm
theo sốt kéo dài trên 1 tháng hoặc tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng không rõ
nguyên nhân).
- Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci.
- Nhiễm Herpes simplex mạn tính (ở môi miệng, cơ quan sinh dục,
quanh hậu môn, kéo dài hơn 1 tháng, hoặc bất cứ đâu trong nội tạng).
- Nhiễm Candida thực quản (hoặc nhiễm candida ở khí quản, phế quản
hoặc phổi).
- Lao ngoài phổi.
- Sarcoma Kaposi.
- Bệnh do Cytomegalovirus ở võng m ạc hoặc ở các cơ quan khác.
- Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương.
- Bệnh lý não do HIV.
- Bệnh do Cryptococcus ngoài phổi bao gồm viêm màng não.
- Bệnh do Mycobacteria avium complex lan toả.
- Bệnh lý não chất trắng đa ổ tiến triển (Progessive multifocal
leukoencephalopathy).
- Tiêu chảy mạn tính do Cryptosporidia.

13


- Tiêu chảy mạn tính do Isospora
- Bệnh do nấm lan toả (bệnh nấm Penicillium, bệnh nấm Histoplasma
ngoài phổi).
- Nhiễm trùng huyết tái diễn (bao gồm nhiễm Sallmonella không phải

trình bày tại biểu đồ 1.3

Biểu đồ 1.3 Số lượng người nhiễm HIV được điều trị ARV qua các năm
Trung bình mỗi năm có trên 10.000 người nhiễm HIV được đưa vào
điều trị ARV. Cuối năm 2013 đã có 60% người lớn nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn
điều trị được điều trị bằng thuốc ARV [7]. Độ bao phủ điều trị ARV ở trẻ em
cũng tăng lên tương ứng từ 15,7% vào năm 2005 lên 49,7% vào năm 2009 lên
83% vào năm 2013.
1.4.2 Nguyên tắc điều trị ARV
- Điều trị ARV là một ph ần trong tổng thể các dịch vụ chăm sóc và hỗ
trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV/AIDS.
- Điều trị ARV chủ yếu là điều trị ngoại trú và được chỉ định khi người
bệnh có đủ tiêu chuẩn lâm sàng, và/hoặc xét nghiệm và chứng tỏ đã sẵn sàng
điều trị.
- Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc. Điều trị
ARV là điều trị suốt đời, người bệnh phải tuân thủ điều trị tuyệt đối để đảm
bảo hiệu quả và tránh kháng thuốc.

15


- Người nhiễm HIV được điều trị ARV vẫn phải áp dụng các biện pháp
dự phòng lây nhiễm virus cho người khác.
- Người nhiễm HIV được điều trị ARV khi tình trạng miễn dịch chưa
phục hồi cần tiếp tục điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội [2].
1.4.3 Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV
Nếu có xét nghiệm CD4, chỉ định điều trị ARV khi [2]:
- Người nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng 4, không phụ thuộc số lượng tế
bào CD4.
- Người nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng 3 với CD4 < 350 TB/mm3.

[2].
1.4.5.1 Phác đồ AZT + 3TC + NVP
Liều lượng:
- AZT 300 mg 2 lần/ngày
- 3TC 150 mg 2 lần/ngày
- NVP liều 200mg 1lần/ngày trong 2 tuần đầu sau đó tăng lên 2lần/ngày
Uống cách nhau 12 giờ, có thể uống thuốc lúc đói hoặc lúc no. Xét
nghiệm Hgb, ALT trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần hoặc khi
nghi ngờ có thiếu máu hoặc ngộ độc gan. Không bắt đầu điều trị phác đồ này
cho người bệnh khi Hgb < 80 g/l, thận trọng khi sử dụng NVP trên người
bệnh có ATL > 2,5 lần trị số bình thường, người bệnh điều trị lao phác đồ có
rifampicin, phụ nữ có CD4 >250/mm3 [2].
1.4.5.2 Phác đồ d4T + 3CT + NVP
Liều lượng:
- d4T 30 mg 2 lần/ngày
- 3TC 150 mg 2 lần/ngày
- NVP liều 200mg 1lần/ngày trong 2 tuần đầu sau đó tăng lên 2lần/ngày
Uống cách nhau 12 giờ, có thể uống thuốc lúc đói hoặc lúc no. Xét
nghiệm ALT trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần. Thận trọng khi

17


sử dụng NVP trên người bệnh có ATL > 2,5 lần trị số bình thường, người
bệnh điều trị lao phác đồ có rifampicin, phụ nữ có CD4 >250/mm3 [2].
1.4.6 Phát đồ điều trị thay thế
Sử dụng một trong hai phác đồ AZT + 3TC + EFV hoặc d4T + 3CT +
EFV khi người bệnh không sử dụng được NVP [2].
1.4.6.1 Phác đồ AZT + 3TC + EFV
Liều lượng:

kỳ 6 tháng/1 lần và điều chỉnh liều khi người bệnh có suy thận:
Bảng 1.1 Độ thanh thải creatinin và liều TDF [2]

Phát đồ TDF + 3TC+ EFV:
Liều lượng và cách sử dụng:
- 3TC, EFV: giống như trên.
- TDF: liều lượng 300 mg uống 1 lần/ngày
Xét nghiệm creatinin/độ thanh thải creatinin trước khi điều trị và định
kỳ 6 tháng/1 lần và điều chỉnh liều khi người bệnh có suy thận (như trên).
1.4.8 Phác đồ AZT+ 3TC+ TDF
Sử dụng phác đồ này khi người bệnh không dùng được cả NVP và
EFV [2].
Liều lượng và cách sử dụng:
- Đối với AZT, 3TC: giống như trên.
- TDF: liều lượng 300 mg uống 1 lần/ngày
Xét nghiệm creatinin/ độ thanh thải creatinin trước khi điều trị và định
kỳ 6 tháng/1 lần và điều chỉnh liều khi người bệnh có suy thận (như trên).
Xét nghiệm Hgb trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần hoặc khi
nghi ngờ có thiếu máu.

19


1.5 Theo dõi điều trị ARV
Theo dõi tiến triển lâm sàng:
Mỗi lần tái khám, người bệnh cần được đánh giá tiến triển lâm sàng,
phát hiện và xử trí các tác dụ ng phụ ho ặc các nhi ễm trùng cơ hội mới, cụ
thể [2]:
- Theo dõi cân nặng, nhiệt độ, mạch, huyết áp và khả năng vận động.
- Theo dõi các dấu hiệu lâm sàng liên quan đến tác dụng phụ của thuốc.

dụng phụ thường gặp của các thuốc ARV sử dụng cho bệnh nhân HIV/AIDS
tại Tanzania cho kết quả là: thiếu máu, nhiễm độc gan, phát ban trên da và
bệnh lý thần kinh ngoại biên là những tác dụng phụ thường gặp của thuốc
ARV [35].
Tsertsvadze T, Bolokadze N, Sharvadze L, Gabunia P, Davli N trong
nghiên cứu về điều trị ARV tại Georgia trên 594 bệnh nhân được điều trị ARV
cho kết quả: 22/594 trường hợp ngừng điều trị, 111 bệnh nhân tử vong, 461
đang tiếp tục điều trị ARV, 406 bệnh nhân người lớn và 21 trẻ em sử dụng
phác đồ bậc 1, 31 người lớn và 2 trẻ em sử dụng phác đồ bậc 2, 1 người lớn
được điều trị khẩn cấp, 55 trường hợp được xác định bị thất bại điều trị, trong
đó 7 trường hợp thất bại về miễn dịch, 1 thất bại về lâm sàng và 47 trường
hợp thất bại về vi rút học, 72% thất bại về vi rút học là do không thuốc và
28% là do không tuân thủ. Phần lớn các ca tử vong do các bệnh lý không liên
quan tới AIDS hoặc mắc các bệnh lý không thể chữa khỏi được, các trường
hợp chết do bệnh lý liên quan tới AIDS do đến cơ sở y tế muộn hoặc ở giai

21


đoạn nguy kịch của bệnh. Nguyên nhân gây tử vong cao nhất là do suy gan ở
bệnh nhân đồng nhiễm HIV/HCV hoặc HIV/HBV [36].
1.6.2 Tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Phan Văn Điền về đánh giá kết quả điều trị ARV
của bệnh nhân HIV/AIDS tại Phòng khám Ngoại trú - Bệnh viện Đa khoa
Lâm Đồng năm 2014 ghi nhận sau khi điều trị ARV từ 1 - 3 năm, tỉ lệ bệnh
nhân có CD4>350 chiếm 62,5%, chứng tỏ có sự phục hồi miễn dịch và không
còn phải điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội. Trong quá trình điều trị ARV,
có 8 trường hợp tử vong do AIDS (chiếm 7,4%). Đa số đối tượng được nghiên
cứu nhiễm HIV lây qua đường tình dục (53,3%) và phối hợp lây nhiễm HIV
qua đường tiêm chích lẫn tình dục (chiếm 38,3%). Trong số bệnh nhân điều

p < 0.05, trước điều trị và sau khi điều trị ARV cho các đối tượng giữa các
nhóm nhận thấy được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01, chức
năng gan thận đều bình thường, tỷ lệ có nồng độ triglyceride tăng dần theo
thời gian điều trị chiếm một tỷ lệ đáng kể, đặc biệt là các đối tượng có sử
dụng D4T [19].
Năm 2008 Nguyễn Trần Chính và CS đã nghiên cứu “Hiệu quả điều trị
phác đồ ARV bậc 1 tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh, tác
giả cho thấy đáp ứng điều trị ARV là tốt bằng phác đồ bậc 1, một tỷ lệ nhỏ
phải chuyển đổi phác đồ do tác dụng không mong muốn của ARV hay tương
tác thuốc với Ma túy hoặc bờnh nhõn tham gia điều trị ARV ở giai đoạn
muộn, khi TCD4 < 100 hoặc trong giai đoạn lâm sàng của WHO 3 hoặc 4
[30].

23


Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS được điều trị ARV tại Trung tâm Y tế
dự phòng Cái Răng.
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/04/2015 đến 31/10/2015.
Địa điểm nghiên cứu: tại phòng khám OPC quận Cái Răng.
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn vào
- Tất cả bệnh nhân đăng ký trực tiếp và những bệnh nhân nơi khác
chuyển về điều trị trước ngày 31/12/2014 tại Trung tâm Y tế dự phòng Cái
Răng.

+ Khmer
+ Dân tộc khác
− Trình độ học vấn: biến thứ bậc, gồm 5 giá trị như sau:
+ Mù chữ hoặc biết đọc/biết viết: không biết đọc và biết viết hoặc học
< lớp 5.
+ Tiểu học: học hết lớp 5.
+ THCS: học hết lớp 9
+ THPT: học hết lớp 12
+ TH/CĐ/ĐH/sau ĐH
Nghề nghiệp: là biến định danh. Là nghề nghiệp mà đối tượng dành
nhiều thời gian nhất để làm, gồm 6 giá trị sau:
+ Công nhân viên
+ Nông dân

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status