SKKN Giải pháp góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực thông qua một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn lớp 9 - Pdf 47

A .ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài.
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần
phải có những người lao động mới phát triển toàn diện về tri thức lẫn nhân cách. Vì
vậy, những đổi mới trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay là nhằm để nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam,
tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế
giới. Cho nên, giáo dục ngoài việc trang bị hệ thống kiến thức cho học sinh cần phải
trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực
thực tiễn, gọi chung là kĩ năng sống.
Đây là trách nhiệm chung của cả gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó có vai trò
của người giáo viên. Để làm được điều này, người giáo viên ngoài những yêu cầu về
kiến thức chuyên môn, đòi hỏi phải nắm vững và có phương pháp giáo dục kĩ năng
sống phù hợp, tạo điều kiện để các em cảm nhận được không khí thân thiện với trường
lớp, với gia đình và với mọi người. Tuy nhiên, tùy theo lứa tuổi, bậc học và môn học
mà người giáo viên có những biện pháp giáo dục khác nhau.
Đối với học sinh THCS, đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về mặt tâm sinh lí. Các em
đang được hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm
tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống,
dễ bị lôi kéo, kích động,… Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị
trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên phải chịu tác động đan xen của những yếu tố
tích cực và tiêu cực, bạo lực, lối sống ích kỉ và phát triển lệch lạc về nhân cách. Vì vậy,
việc giáo dục kĩ năng sống là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi, có trách
nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước, giúp các em có khả năng ứng
phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia
đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, hài hòa và lành mạnh.
Ở cấp học THCS, chúng ta có thể giáo dục kĩ năng sống cho các em ở tất cả môn học,
trong đó có môn Ngữ văn. Nhiều bài học của môn Ngữ văn hướng đến việc giúp các
em nhận thức được giá trị cuộc sống, hình thành lối sống, cách ứng xử có văn hóa
trong các tình huống giao tiếp đa dạng của cuộc sống.

quan trọng đặc biệt.
IV. Điểm mới của đề tài.
-Đưa ra một KNS cơ bản có thể triển khai giáo dục cho HS và những phương pháp
dạy học tích cực có thể sử dụng trong một số tiết ở ngữ văn 9 nhằm thực hiện tốt nhất
mục tiêu giáo dục KNS trong môn Ngữ văn lớp 9, góp phần thực hiện yêu cầu đổi mới
giáo dục phổ thông.
- Giúp HS tích cực, hứng thú học tập, lĩnh hội các tri thức, chuẩn mực một cách chủ
động, tự giác.
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Cơ sở lí luận:
Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến
đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích
cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức
từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong
xã hội đương đại.
Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp
với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống
của cuộc sống.
Như vậy, bản chất của kĩ năng sống là kĩ năng tự quản lí bản thân và các kĩ năng xã
hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc có hiệu quả.
Giáo dục kĩ năng sống là một trong những mục tiêu đổi mới giáo dục nói chung và
giáo dục phổ thông nói riêng. Đặc biệt rèn luyện kĩ năng sống được xắc định là một

2


trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua”Xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực”trong các trường phổ thông.
Chúng ta ai cũng biết rằng, kĩ năng sống không phải tự nhiên có được mà phải hình
thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Kĩ năng

- Thư viện nhà trường cũng đã cung cấp tài liệu về giáo dục kĩ năng sống đối với các
môn học, trong đó môn Ngữ văn.
- Sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành được biên soạn theo chương trình đổi mới và theo
hướng tích hợp.
- Bản thân cũng đang giảng dạy môn Ngữ văn khối lớp 9, chủ nhiệm lớp 9 cho nên đã
thường xuyên vận dụng, thực hiện giáo dục kĩ năng sống vào các tiết dạy, đặc biệt luôn
có ý thức trau dồi, tích lũy kinh nghiệm về những phương pháp tích cực, cũng như các
biện pháp giáo dục kĩ năng sống mà bản thân đã thực hiện trong quá trình giảng dạy.
3


- Giáo dục kĩ năng sống hiện nay đã được phổ biến rộng rãi trong xã hội, các phương
tiện thông tin đại chúng, cho nên hầu hết các bậc cha mẹ cũng như các em học sinh
cũng đã ý thức được việc hình thành kĩ năng sống và tầm quan trọng của kĩ năng sống
trong cuộc sống bản thân mỗi con người.
- Đặc biệt đối với môn Ngữ văn ở lớp 9 có nhiều bài học với những đơn vị kiến thức,
những tình huống đa dạng, liên quan rất nhiều đến kĩ năng sống,…. cùng với đặc trưng
môn học và những nội dung kiến thức đó đã dễ dàng giúp chúng ta giáo dục kĩ năng
sống cho các em một cách phù hợp, khéo léo.
-Nhà trường đã tổ chức cho các em những buổi hoạt động mang tính thực tế để các em
trải nghiệm thực tiễn kĩ năng sống của bản thân :Câu lạc bộ thơ – nhạc về anh bộ đội
cụ Hồ, Hội chợ xuân, Tham gia lao động Nông thôn mới, Câu lạc bộ tiếng Anh…
2/ Khó khăn:
- Một bộ phận giáo viên chưa chú trọng rèn kỹ năng sống mà chỉ chú trọng nội dung
môn học.
- Một số ít phụ huynh chưa ý thức đến tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống
cho các em trong gia đình dẫn đến thiếu quan tâm và chưa phối kết hợp cùng nhà
trường cùng giáo dục kĩ năng sống cho các em.
- Có nhiều em còn chưa yêu thích môn học, chưa ý thức về tầm quan trọng về việc rèn
luyện kĩ năng sống cho bản thân, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế. Từ đó dẫn đến việc

1. Biện pháp 1: Giáo viên cần xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng bài dạy có giáo
dục kĩ năng sống.
4


Biện pháp này nhằm mục đích cụ thể hóa những kĩ năng sống phù hợp cần được
giáo dục trong mỗi đơn vị bài học, đơn vị kiến thức. Trên cơ sở đó để giáo viên xác
định được mục tiêu tiết học, nắm chắc trọng tâm bài học, vận dụng phương pháp dạy
học tích cực để rèn luyện những kĩ năng sống cần thiết, phù hợp. Xây dựng được kế
hoạch cụ thể đó, giáo viên sẽ chủ động hơn trong việc soạn bài ở nhà cũng như giảng
dạy trên lớp.
Kế hoạch cần được xây dựng cụ thể, rõ ràng, bám sát nội dung bài học. Kế hoạch
phải thể hiện được việc giáo viên rèn luyện cho học sinh những kĩ năng sống nào, ở nội
dung nào của bài học. Từ đó xác định được các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực.
Có làm được như vậy thì giáo viên sẽ chủ động hơn trong quá trình giảng dạy ở trên
lớp.
Tiến trình xây dựng kế hoạch như sau:
+ Kết hợp với chương trình phổ thông ngày từ đầu năm học.
+ Xác định những kĩ năng sống cơ bản, cần thiết phải hình thành và rèn luyện cho học
sinh trong một bài dạy.
+ Xác định phương pháp, kĩ thuật dạy học sẽ sử dụng ở những nội dung bài học.
Sau đây là ví dụ minh họa cho kế hoạch giáo dục kĩ năng sống mà tôi đã xây dựng
trong các bài: Phong cách Hồ Chí Minh; Phương châm hội thoại; Đấu tranh cho một
thế giới hòa bình.
Các kĩ năng sống cơ bản được giáo Phương
Tuần Tiết Bài Tên bài
dục
pháp
Sử dụng
- Xác định giá trị bản thân: từ việc - Động não.

5


2

3

6 -7

11-12

2

3

- Suy nghĩ, phê phán, sáng tạo,
đánh giá, bình luận về hiện trạng
nguy cơ chiến tranh hạt nhân hiện
nay.
Đấu
- Giao tiếp: trình bày ý tưởng của
tranh
cá nhân, trao đổi về hiện trạng và
cho một
giải pháp để đấu tranh chống nguy
thế giới
cơ chiến tranh hạt nhân, xây dựng
hòa bình
một thế giới hòa bình.
- Ra quyết định về những việc làm


Ví dụ: Trong bài “Tuyên bố thế thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát
triển của trẻ em”, từ kế hoạch trên, tôi xác định kĩ năng sống cần rèn luyện cho các em
là kĩ năng tự nhận thức về quyền được bảo vệ và chăm sóc của trẻ em và trách nhiệm
của mỗi cá nhân đối với việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Tôi cho các em thảo luận
nhóm với câu hỏi: Qua bản Tuyên bố trên, em hiểu như thế nào về tầm quan trọng của
vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em cũng như sự quan tâm của cộng đồng quốc tế về vấn
đề này?
Đồng thời, qua hoạt động thảo luận nhóm, giáo viên còn tiếp tục rèn luyện cho các
em kĩ năng hợp tác, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp.
2. Biện pháp 2: Phân loại học sinh, quan tâm đến từng đối tượng học sinh để có
phương pháp cũng như vận dụng các kĩ thuật dạy học đúng và phù hợp với những
đối tượng học sinh đó.
Bắt đầu vào năm học mới, giáo viên cần phân loại học sinh trong lớp theo các mức:
giỏi, khá, trung bình, yếu kém bằng nhiều hình thức như kiểm tra trắc nghiệm, vấn đáp,

Chúng ta biết rằng, trong một lớp học sẽ có rất nhiều đối tượng học sinh, nhiều hoàn
cảnh, môi trường sống khác nhau, năng lực bản thân và trình độ mỗi em cũng khác
nhau. Nếu giáo viên đưa ra những câu hỏi, hình thức hoạt động quá khó, vượt tầm so
6


với những học sinh yếu, trung bình, các em sẽ không giải quyết được, từ đó sẽ dẫn đến
tình trạng chán học, lười học, không khí giờ học cũng buồn tẻ, nhàm chán, kết quả học
tập sẽ giảm sút, gây ảnh hưởng đến lớp học. Nếu câu hỏi quá dễ sẽ không phát huy,
kích thích, khơi gợi năng lực bản thân, chất lượng học tập của những học sinh khá giỏi.
Đó là chưa kể đến sự chênh lệch giữa lớp này với lớp khác.
Đầu năm học, tôi đã cho học sinh làm một bài kiểm tra ngắn, sau khi thu được kết
quả, tôi đã xếp học sinh vào các nhóm đối tượng.
Sau khi phân loại từng đối tượng học sinh, giáo viên cần xác định các kĩ năng sống

được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh nó. Đây là những kĩ năng cơ
bản và khá quan trọng. Nếu các em cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay
chính kiến nào đó, các em sẽ trở nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy

7


nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp học sinh sẵn sàng học và tiếp nhận
nhiều điều.
Đặc biệt, giáo viên sẽ đỡ mất thời gian, công sức trong việc soạn giảng bài dạy, sẽ dễ
dàng hơn trong quá trình rèn luyện kĩ năng cho học sinh, hình thành cho các em một
thói quen, một phản xạ có điều kiện trước mỗi nội dung, mỗi vấn đề của bài học. Từ
kiến thức bài học, các em có được kĩ năng sống tốt đẹp, cần thiết cho bản thân. Các em
có thể rút ra bài học cho bản thân từ nét đẹp cần phải học tập từ lối sống, phong cách
của Bác Hồ, hoặc lý tưởng sống cao đẹp, sự hy sinh thầm lặng của anh thanh niên
trong “Lặng lẽ Sa Pa”,…. Hơn nữa, nếu làm tốt phần này, giáo viên lại càng bám sát
đúng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng mà Bộ giáo dục đã đề ra.
Ví dụ: Giáo viên có thể đặt những câu hỏi như: Em rút ra bài học gì cho bản thân từ
lối sống giản dị mà thanh cao của Bác?; Nêu cảm nhận của em về nét đẹp trong lối
sống, phong cách của Bác? (Bài “Phong cách Hồ Chí Minh”)
Đối với phần thảo luận nhóm, giáo viên rèn cho học sinh các kĩ năng như: hợp tác,
lắng nghe tích cực, thương lượng, giải quyết vấn đề,…
Thực tế trong cuộc sống, các em cũng sẽ gặp những tình huống tương tự như vậy.
Giáo viên cần xác định những kĩ năng sống thực sự cần thiết như vậy để các em thích
ứng và có cách xử lí kịp thời.
Tuy nhiên, giáo viên cũng cần linh động ở mỗi bài dạy, mỗi đơn vị kiến thức, mỗi
lớp, không nên vận dụng một cách quá máy móc, cứng nhắc. Giáo viên nên đơn giản
bằng cách rèn cho các em những kĩ năng gần gũi, quen thuộc, cơ bản và cần thiết nhất
như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tự tin, xác định giá trị của bản thân, kĩ năng giao
tiếp, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giải quyết vấn đề,…. Vì thực tế, trong một hình thức, một

Từ đó rèn thêm cho các em kĩ năng hợp tác, tìm kiếm và xử lí thông tin,….
5. Biện pháp 5:
Rèn luyện kĩ năng sống thông qua việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa về văn
học.
Ngoài những tiết học Ngữ văn chính khóa, khi có điều kiện thì giáo viên nên tổ chức
cho các em các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Chúng ta biết rằng, ngoại khóa chính là
một sân chơi thoải mái, bổ ích. Ở đó, các em có dịp được giao lưu, tiếp xúc, được thể
hiện năng lực bản thân.
Giáo viên có thể tổ chức các hình thức như: câu hỏi “Vui để học” về kiến thức văn
học, đi tham quan các di tích có liên quan đến văn học, các Câu lạc bộ sáng tác thơ,
diễn kịch,… như dựng lại đoạn trích “Thúy Kiều báo ân, báo oán” (bài đọc thêm) mà
các em chưa được tìm hiểu trên lớp, trong các tiết chính khóa.
Hoặc sau khi học xong bài “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ
và phát triển của trẻ em”, giáo viên cho các em lập kế hoạch nhóm đến thăm một lớp
học tình thương hoặc trẻ em khuyết tật,…
Chính từ đó, các em sẽ thể hiện được năng khiếu của bản thân, thể hiện được kĩ năng
giao tiếp, sự cảm thộng, tự xác định được giá trị của bản thân, các em tự tin hơn trong
giao tiếp, khi đứng trước mọi người và trong cuộc sống.
IV/ Kết quả:
Sau khi tiến hành áp dụng đề tài vào giảng dạy, tôi đã cho học sinh làm bài kiểm tra
khách quan, kết quả cụ thể như sau:
- Em có thể làm gì để góp phần đấu tranh cho một thề giới hòa bình, ngăn chặn và xóa
bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân?
Lớp

Tổng số

9.B

35

thông qua dạy học các môn học và tổ chức các hoạt động giáo nhưng không phải là
lồng ghép, tích hợp thêm kĩ năng sống vào nội dung các môn học và hoạt động giáo
dục; mà theo cách tiếp cận mới, đó là sự dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm kĩ năng sống
trong quá trình học tập. Với cách tiếp cận này, sẽ không làm nặng nề, quá tải thêm nội
dung các môn học; mà ngược lại còn làm cho các giờ học và hoạt động giáo dục trở
nên nhẹ nhàng hơn, thiết thực và bổ ích hơn đối với học sinh.
Bên cạnh đó, giáo dục kĩ năng sống là một quá trình lâu dài, toàn diện, mọi lúc, mọi
nơi. Cho nên, giáo viên cùng nhà trương cần kết hợp với gia đình để giáo dục kĩ năng
sống cho các em. Cần giáo dục để các em cảm thấy thoải mái tự tin trong mọi tình
huống của cuộc sống. Nếu cha mẹ múôn giáo dục các em biết tự giữ kỷ luật, trứơc hết
cần đánh thức sự tự ý thức của các em, cố gắng khơi gợi để các em luôn nghĩ về bản
thân mình một cách tích cực và đừng bao giờ phá vỡ suy nghĩ tích cực về bản thân các
em. Người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với các em
và tạo điều kiện tốt nhất cho các em.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận.
Qua thời gian áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy, tôi cảm thấy bản thân dần dần có
ý thức giáo dục kĩ năng sống ngay từ bước soạn bài; cũng như vào trong tiết học ngay
khi có thể; không còn hời hợt, thiếu quan tâm đối với việc giáo dục kĩ năng sống vào
trong bài dạy như ngày trước.Việc áp dụng cũng không còn mang hình thức, đối phó
mà trở thành ý thức và kĩ năng của mỗi giáo viên.
Đề tài cũng đã góp phần làm đa dạng, phong phú thêm cho phương pháp dạy học
Ngữ văn theo hướng đổi mới tích cực hiện nay.
Và điều quan trọng hơn, tôi thấy bản thân các em đã có ý thức sâu sắc về việc rèn
luyên kĩ năng sống, hiểu rõ tầm quan trọng kĩ năng sống đối với cuộc sống các em.
Ngoài ra, một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống nêu trên đã làm cho tiết dạy Ngữ
văn thêm sinh động, sôi nổi và tích cực. Kĩ năng sống đi vào tiết Ngữ văn trở nên linh
hoạt, mềm dẻo, không còn cứng nhắc, máy móc và mang tính thực tế, thiết thực hơn; đi
vào cuộc sống thực tế cũng khá tự nhiên, phù hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status