ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------oOo----------------
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAM
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
VỚI VIỆC PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT
TOÀN DÂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.03.02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
TP. HỒ CHÍ MINH – 2017
LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Trần Chí Mỹ
TS. Hà Thiên Sơn
Phản biện độc lập:
Phản biện:
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ
lực thù địch đang ráo riết lợi dụng những sơ hở, yếu kém của chúng ta
để khoét sâu mâu thuẫn xã hội, thực hiện “diễn biến hòa bình”. Cuộc
đấu tranh bảo vệ chủ quyền, biển đảo trên Biển Đông diễn ra ngày càng
phức tạp. Thực tiễn đòi hỏi phải tiếp tục củng cố vững chắc khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh to lớn toàn dân trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, nghiên cứu, nắm vững và
vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
trong điều kiện hiện nay của đất nước có ý nghĩa rất quan trọng và cấp
thiết.
Tp. Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế,
văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội
nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và lan toả lớn của
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả
nước. Quá trình phát triển kinh tế thị trường, CNH, HĐH và hội nhập
2
quốc tế ở Tp. Hồ Chí Minh diễn ra mạnh mẽ và sôi động nhất nước.
Cộng đồng dân cư ở đây rất đa dạng. Thành phố luôn là trọng điểm
chống phá nhiều mặt, là địa bàn xung yếu của chiến lược “diễn biến
hòa bình” của các thế lực thù địch. Nhân dân Thành phố có truyền
thống yêu nước, đoàn kết, khoan dung, nghĩa tình. Những đặc điểm đó
tạo ra cả cơ hội và thách thức, cả thuận lợi và khó khăn đan xen nhau;
đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới lớn hơn, phức tạp hơn đối với
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã
hội ở Tp. Hồ Chí Minh hiện nay. Không phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân thì công cuộc xây dựng và phát triển Thành phố chẳng
những khó đi đến thành công, mà ngược lại sẽ đưa đến những tổn thất
không lường. Điều đó đạt được đến đâu trước hết tuỳ thuộc vào nhận
1997; cuốn sách Hồ Chí Minh tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb.
CTQG, HN, 2009 gồm các tác phẩm, bài nói, bài viết của Phạm Văn
Đồng về Hồ Chí Minh từ năm 1948 đến tác phẩm cuối cùng hoàn thành
vào năm 1998; tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách
mạng Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm chủ biên, Nxb.
CTQG, HN, 2015 (xuất bản lần thứ 5); cuốn sách Hồ Chí Minh nhà tư
tưởng thiên tài, tác giả: GS. Trần Nhâm, Nxb. CTQG, HN, 2015; cuốn
Hồ Chí Minh vĩ đại một con người, Nxb. CTQG, HN, 2015. Các bài
viết này đã đem lại cho tác giả luận án không chỉ những gợi mở về nội
dung mà còn về phương pháp nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết nói riêng.
Ngoài ra, ở chủ đề thứ nhất cần phải kể đến một số công trình nghiên
cứu về phương pháp luận Hồ Chí Minh: Đó là các cuốn sách: Phương
pháp và phong cách Hồ Chí Minh, tác giả: GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb.
CTQG, HN, 1997; Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, GS. Lê Hữu Nghĩa,
chủ biên, Nxb. Lao động HN, 2000; Góp phần tìm hiểu đặc sắc tư duy
triết học Hồ Chí Minh, tác giả: Hồ Kiếm Việt, Nxb. CTQG, HN, 2002;
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh một số vấn đề cơ bản, tác giả: Trần
Văn Phòng và Hoàng Anh, Nxb. CTQG, HN, 2015; cuốn sách Một số
vấn đề về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí
Minh do PGS. Song Thành (chủ biên), Nxb. CTQG, HN, 1997.
Chủ đề thứ hai, các công trình nghiên cứu từ những góc độ
khác nhau về tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, tiêu biểu có các
công trình sau: Cuốn Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, Nxb. CTQG, 1994;
cuốn Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh do Phùng Hữu Phú chủ
biên, Nxb. CTQG, HN, 1995; cuốn Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
đoàn kết quốc tế của Lê Văn Yên, Nxb. Lao động xuất bản năm 1999;
cuốn Quan hệ giai cấp - dân tộc – quốc tế, GS.TS. Trần Hữu Tiến, GS.
TS. Nguyễn Ngọc Long, PGS. TS. Nguyễn Xuân Sơn, Nxb. CTQG,
HN, 2002; quyển Xây dựng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp
tế - xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh hiện nay. Trong đó, nổi bật là các bài báo
cáo tham luận sau: “Bốn mươi năm Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng,
phát triển và hội nhập” của Bí thư Lê Thanh Hải; “Chung sức, đồng
lòng xây dựng thành phố Hồ Chí Minh xứng đáng là thành phố anh
hùng, thành phố mang tên Bác kính yêu” của Chủ tịch Ủy ban Nhân
dân Thành phố Lê Hoàng Quân; Thành phố Hồ Chí Minh phát huy sức
mạnh đại đoàn kết dân tộc trong 40 năm xây dựng Thành phố năng
5
động, sáng tạo, văn minh, hiện đại, nghĩa tình của tác giả Võ Thị Dung,
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tp. Hồ Chí Minh; Phát huy sức
mạnh đoàn kết, tạo sự đồng thuận xã hội, bảo đảm sự thắng lợi trong
40 năm xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả: TS. Lê
Thị Thanh Tâm.
Trong các công trình tiêu biểu nêu trên, các tác giả đã phân tích
khá kỹ các phương diện khác nhau có liên quan trực tiếp hay gián tiếp
đến tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Tuy nhiên chưa có công trình
độc lập nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về tư tưởng đại
đoàn kết Hồ Chí Minh với tư cách là một hệ quan điểm và giải pháp về
đại đoàn kết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án: Phân tích, làm rõ nội dung, đặc điểm cơ
bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, thực trạng phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tp. Hồ
Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh về đại đoàn kết nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án: Để đạt mục đính nêu trên luận án tập trung
Nguồn tài liệu: bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập gồm 15 tập Nxb.
CTQG, HN xuất bản năm 2011; các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, của Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam Tp. Hồ Chí Minh; kế thừa các công trình nghiên cứu của các tổ
chức và cá nhân các nhà khoa học có liên quan đến tài liệu luận án; các
tài liệu, số liệu thống kê của Cục Thống kê Tp. Hồ Chí Minh, của các
cơ quan Đảng, chính quyền và đoàn thể ở Tp. Hồ Chí Minh.
6. Cái mới của luận án
Một là, phân tích và trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Hồ
Chí Minh đại đoàn kết. trong đó làm nổi bật những nội dung cơ bản và
đặc điểm đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết. Hai là,
đánh giá thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong phát triển
kinh tế -xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh từ 2006 đến nay một cách có hệ
thống và góp phần vào việc xác định các giải pháp vận dụng tư tưởng
đại đoàn kết tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh hiện
7
nay.
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận án làm rõ những
nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết như một
hệ thống chỉnh thể, từ quan niệm đến quan điểm, giải pháp xây dựng và
phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong quá trình vận động của cách
mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.
Ý nghĩa thực tiễn: Sự luận giải trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh
và kinh nghiệm thực tiễn về các giải pháp nhằm phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh có
nước nhỏ yếu làm thuộc địa, các nước đế quốc còn đánh nhau để giành
thuộc địa. Tình hình đó tạo điều kiện và cơ hội cho phong trào đấu
tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa phát triển mạnh mẽ. Nhân
dân ở các dân tộc thuộc địa nhiều lần vùng dậy chống CNTD nhưng
đều bị thất bại. Nguyên nhân của tình trạng đó, theo Hồ Chí Minh là do
“họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo”, do “họ chưa biết đoàn kết
nhau lại để đấu tranh”
Sự ra đời của Quốc tế III cùng với sự ảnh hưởng to lớn của cách
mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã cổ vũ, soi sáng và thúc đẩy mạnh mẽ
sự phát triển của các phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc ở các
nước thuộc địa trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Đó cũng là cơ
sở lịch sử quan trọng của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó
có tư tưởng đại đoàn kết của Người.
Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việt Nam cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Giữa thế kỷ XIX, khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và trở
thành thuộc địa của Pháp. Toàn xã hội Việt Nam, đặc biệt là các giai
cấp lao động, lâm vào thân phận nô lệ bi thảm, bị nô dịch, bị chà đạp
bởi chế độ thuộc địa với phương thức cai trị bảo thủ, hà khắc và vô
nhân đạo của thực dân Pháp. Chương trình khai thác thuộc địa quy mô
lớn của đế quốc Pháp ở Việt Nam đã dẫn đến những biến đổi xã hội sâu
sắc tại đây. Bên cạnh những giai cấp cũ là địa chủ phong kiến và nông
dân, đã ra đời những giai cấp, tầng lớp mới: công nhân, tư sản dân tộc,
trí thức tân học, tiểu tư sản thành thị. Từ ngày bị đế quốc Pháp xâm
lược, nhân dân ta đã liên tục đứng lên đấu tranh bất khuất và anh dũng
“kẻ trước ngã người sau đứng dậy”. Nhưng tất cả những cuộc khởi
nghĩa yêu nước ấy “đã bị dìm trong bể máu.
Năm 1890, Hồ Chí Minh được sinh ra trên đất Nghệ An, một cái
nôi của phong trào yêu nước, trong một gia đình nhà nho nghèo, yêu
nước, tiến bộ. Ngay từ khi ở Nghệ An và những năm học ở Huế, những
ngay từ thời trẻ cho đến hơi thở cuối cùng, kiên trì một tấm lòng vì dân,
vì nước và một niềm tin mãnh liệt ở nhân dân, có bản lĩnh kiên định, có
khí tiết kiên cường trong đấu tranh thực hiện mục tiêu, lý tưởng đã
chọn. Hồ Chí Minh là con người đặc biệt thông minh, ham học hỏi, có
tư duy độc lập sáng tạo, có trí tuệ uyên bác, kiến thức sâu rộng, biết
nhiều ngoại ngữ, do đó có điều kiện để tiếp xúc với văn hóa của nhiều
dân tộc.
Hồ Chí Minh là một con người mẫu mực về đạo đức cách mạng,
tác phong bình dị, chân tình, gần gũi, hòa mình với quần chúng, có sức
10
cảm hóa lớn đối với mọi người. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn
Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam nói: “Những
tư chất và phẩm chất ấy được phát huy trong suốt cuộc đời hoạt động
của Người. Nhờ vậy, giữa vô vàn lý thuyết, học thuyết khác nhau, đối
lập nhau, đúng và sai, thật và giả đan xen lẫn lộn, trong khi nhiều chí sĩ
cách mạng như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng đến Phan Chu
Trinh, Phan Văn Trường, … không phát hiện được ở đâu là quy luật, là
chân lý, thì chính Hồ Chí Minh đã tìm ra được mục tiêu, lý tưởng cách
mạng đúng đắn và con đường để đi tới mục tiêu, thực hiện lý tưởng ấy.
Giữa thực tiễn vô cùng sinh động, phức tạp, với bao tình huống khó
khăn, bao sóng gió thử thách, có khi đe dọa cả cuộc sống và sinh mệnh
chính trị của mình, Người vẫn đứng vững, vượt lên, vẫn kiên trì chân
lý, có những quyết định đúng đắn và sáng suốt, những hoạt động sáng
tạo để biến tư tưởng thành hiện thực” [tr.67-68].
1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
Đã có những cách phân chia khác nhau về các giai đoạn của quá
và tư tưởng chiến lược của Quốc tế Cộng sản. Việc Hồ Chí Minh đến
với chủ nghĩa Mác – Lênin và Quốc tế Cộng sản, tìm thấy ở đó “cái cần
thiết” và “con đường” giải phóng dân tộc Việt Nam, là bước quyết định
trong quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh nói
chung, tư tưởng của Người về đại đoàn kết nói riêng. Nhưng bất cứ tư
tưởng lý luận nào, ngoài sự kế thừa những tư tưởng trước đó còn phải
bắt nguồn từ thực tiễn, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và sự phát triển
sáng tạo qua hoạt động thực tiễn. Vì vậy, cần phải nhìn nhận rằng, cuộc
sống và hoạt động thực tiễn hết sức phong phú, đa dạng gắn với cả một
thời kỳ lịch sử của dân tộc và thời đại là một trong những nguồn gốc
quan trọng, không thể thiếu của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh –
nguồn gốc thực tiễn. Thực tiễn ấy là cơ sở để tư tưởng Hồ Chí Minh,
trong đó có tư tưởng đại đoàn kết của Người ngày càng phát triển và
hoàn thiện qua tiến trình lịch sử của Việt Nam và thế giới thời hiện đại.
Chương 2
NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
2.1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đoàn kết là “kết lại thành một
12
khối”, “mọi người đều nhất trí”, “muôn người như một”, “đồng lòng
chung sức” phấn đấu cho một mục đích chung: đấu tranh giành độc lập
cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, cho mọi người và cho
mỗi người Việt Nam.
Nội dung căn cốt nhất của khái niệm đại đoàn kết trong tư tưởng
13
Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh luôn gắn với mục tiêu độc lập
của dân tộc, tự do dân chủ, ấm no và hạnh phúc của nhân dân. Người
đã nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Nhưng Người cũng từng
nói: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc
lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Hồ Chí Minh ý thức rõ rằng, đánh thắng
đế quốc phong kiến đã khó, thắng nghèo và lạc hậu còn khó hơn nhiều.
Việc thực hiện đoàn kết toàn dân cũng vậy, trong việc chống kẻ thù phá
hoại đòi độc lập thì dễ dàng kéo cả toàn dân. Còn “Trong việc kiến thiết
thì khó kéo hơn, vì nó đụng chạm đến quyền lợi của một đôi giai tầng
trong nước”. Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh trong từng
giai đoạn để thực hiện đoàn kết, đại đoàn kết phải tìm ra được một lợi
ích phát huy tác dụng trong lịch sử, lợi ích đó cần phản ánh lợi ích rộng
rãi của giai cấp mình và của các giai cấp, quần chúng khác. Trong khi
phải nắm vững mục đích của toàn bộ sự nghiệp cách mạng thì mỗi giai
đoạn cũng cần xác định bây giờ dân tộc Việt Nam muốn gì.
2.1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đại đoàn kết
Đại đoàn kết là cội nguồn sức mạnh và động lực to lớn của
cách mạng Việt Nam: Quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Ngọn cờ ấy được coi là nguồn sức mạnh, tiềm năng không giới
hạn và động lực to lớn để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tiềm năng, động
lực đó được bộc lộ qua việc phát huy lực lượng vật chất và tinh thần
trong cách mạng Việt Nam. Lực lượng vật chất và tinh thần được cô
đọng, tập trung ở những tầng lớp, thế hệ nhân dân được nhận thức và tổ
chức lại. Nếu thực dân đế quốc “mạnh về vật chất” thì nhân dân Việt
Nam mạnh về tinh thần, với một chí cương quyết chiến đấu cho tự do.
Sức mạnh tinh thần thể hiện ở chỗ nó biến sự hiểu biết thành ý chí
giáo dục, vận động đại đoàn kết: Sử dụng các hình thức tuyên truyền,
giáo dục, vận động quần chúng; Người làm công tác tuyên truyền, giáo
dục, vận động về đại đoàn kết phải là tấm gương đoàn kết trong cả lời
nói và việc làm; thứ hai, phương pháp tổ chức: Muốn xây dựng, củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì yếu tố quyết định là phải có
phương pháp xây dựng Đảng, chính quyền cách mạng và phương pháp
xử lý các mối quan hệ; thứ ba, phương pháp xử lý các mối quan hệ: Đó
là phương pháp xử lý mối quan hệ: cách mạng – trung gian – phản cách
mạng.
2.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
Từ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn
kết, luận án rút ra được một số đặc điểm cơ bản của tư tưởng đó bao
gồm: Sự thống nhất giữa tính khoa học và cách mạng trong tư tưởng
đại đoàn kết của Hồ Chí Minh; sự thống nhất tính dân tộc, giai cấp và
15
nhân loại trong tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh; sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết;
Tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Đại đoàn kết với tính cách là một tư tưởng cách mạng của Hồ Chí
Minh có nội dung phong phú, bao quát các vấn đề lý luận cơ bản: khái
niệm đại đoàn kết, đối tượng của đại đoàn kết; vai trò của đại đoàn kết;
nguyên tắc và phương pháp xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn
kết. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là đoàn kết chặt
chẽ và rộng rãi. Đại đoàn kết, xét cả về tư tưởng và hoạt động đoàn kết
của Hồ Chí Minh, bao quát các đối tượng: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết
3.1.1. Khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hoá, con người ở
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây
Nam Bộ, Tp. Hồ Chí Minh hiện nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng
diện tích 2.095,06 km², với 8.224,4 ngàn người. Tuy nhiên, nếu tính
những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của Thành phố
vượt trên 10 triệu người. Có thể khái quát những điều kiện phát triển
kinh tế - xã hội của Tp. Hồ Chí Minh theo bốn yếu tố chính: kinh tế,
văn hoá, chính trị - xã hội, dân cư.
Về kinh tế: Với vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mối giao lưu và trao
đổi hàng hóa; kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ phát
triển; dân cư đông đúc, nguồn nhân lực dồi dào, năng động… là nhân tố
quan trọng để Tp. Hồ Chí Minh phát triển kinh tế - xã hội và phát huy
sức mạnh đại đoàn kết của mình.
Song, những điều kiện đó xét về mặt đầu tư, phát triển kinh tế là
thuộc về “thiên thời”, “địa lợi”. Để có thể phát triển nhanh, bền vững
nền kinh tế Thành phố còn đòi hỏi một nhân tố quan trọng nữa: “nhân
hoà”, tức là sự đồng thuận xã hội, sự đoàn kết chung sức chung lòng
của toàn dân, của tất cả các thành phần, các ngành kinh tế.
Điều kiện văn hóa: Từ những đặc điểm kinh tế như trên đã hình
thành và biến đổi đời sống văn hóa, tinh thần của Sài Gòn – Tp. Hồ Chí
Minh. Kinh tế Thành phố phát triển trong mối giao lưu kinh tế đa chiều
nên văn hóa vì thế cũng rất đa dạng, tiếp xúc được với nhiều cái mới,
tạo nên tính tiên phong trong biến đổi đời sống văn hóa – xã hội. Mảnh
17
đất này là nơi tiếp nhận các nguồn lưu dân từ Trung, Bắc đến lập
nghiệp; người Hoa đến định cư và hội tụ với cư dân bản địa; sau đó, trở
sự khác biệt văn hoá của các tầng lớp, các dân tộc và giai cấp khác
nhau. Đây là điều thuận lợi cho việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết
18
toàn dân; bởi sự đa dạng, cởi mở, phóng khoáng sẽ dễ trong việc chấp
nhận nhau, hòa đồng với nhau và bổ sung sức mạnh cho nhau… một
cách năng động và linh hoạt. Nhưng bên cạnh đó, sự đông đúc và đa
dạng của dân cư còn đưa đến cho Gia Định - Sài Gòn - Tp. Hồ Chí
Minh nhiều diễn biến phức tạp trong đời sống kinh tế - xã hội. Sự khác
biệt về phong tục tập quán, các thành phần dân cư chưa thật sự hiểu
nhau nên đôi khi xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về mặt lợi ích, nhất là
lợi ích kinh tế, dẫn đến va chạm giữa các tầng lớp, các dân tộc, các tôn
giáo khác nhau trên địa bàn. Lối sống sùng ngoại, thực dụng, lai căng,
đề cao tự do chủ nghĩa… nhất là một bộ phận trong giới trẻ; các tệ nạn
xã hội diễn biễn phức tạp; các thế lực thù địch lợi dụng sự đa dạng của
thành phần dân cư để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân ở
nơi đây, đặt ra cho Tp. Hồ Chí Minh nhiều thách thức việc phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội.
3.1.2. Tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Thành phố Hồ
Chí Minh
Nhìn vào sự vận động và phát triển của lịch sử xã hội, sức mạnh
đại đoàn kết đóng vai trò hết sức quan trọng và vai trò đó được thể hiện
một cách sinh động trong thực tiễn hoạt động của con người. Bằng sự
tổng kết thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm, đánh giá vai trò của đại đoàn
kết đã được Đảng ta khái quát thành lý luận: “Đại đoàn kết toàn dân tộc
là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và
nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Nhận định đó
được coi là nguồn sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần vô biên cho
sự nghiệp cách mạng Việt Nam; thì hiện nay Tp. Hồ Chí Minh đã xem
“nguồn lực đại đoàn kết” thực sự là sức mạnh liên kết của các chủ thể
đã, đang và sẽ tạo ra nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần đóng
góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
3.2. THỰC TRẠNG PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN
KẾT TOÀN DÂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.2.1. Những thành tựu của việc phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở Thành phố Hồ Chí
Minh
Lĩnh vực kinh tế: Kinh tế là một trong những lĩnh vực cơ bản của
đời sống xã hội. Mọi sự biến đổi trong đời sống kinh tế, tất yếu sẽ kéo
theo hàng loạt những biến đổi trong các lĩnh vực khác. Tp. Hồ Chí
Minh bắt đầu từ sự vươn lên trong lĩnh vực kinh tế đã phát triển trở
thành một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, giáo dục và
khoa học – công nghệ của cả nước. Do đó, Thành phố đặc biệt chú ý
đến việc thực hiện đại đoàn kết trong lĩnh vực kinh tế và đạt được nhiều
20
thành tựu: Thứ nhất, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đã giúp
Tp. Hồ Chí Minh đi tiên phong trong công cuộc đổi mới đất nước; thứ
hai, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đưa nền kinh tế Tp. Hồ
Chí Minh phát triển nhanh và bền vững; thứ ba, phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân ở Tp. Hồ Chí Minh góp phần hoàn thiện nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN.
Lĩnh vực chính trị - xã hội: Chính trị là một trong những lĩnh vực
cơ bản và phức tạp nhất của đời sống xã hội; vì vậy, nó trở thành nội
Minh về vấn đề đại đoàn kết toàn dân, về tầm quan trọng của việc phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đã có những chuyển biến tích cực;
thứ hai, Thành phố có một môi trường kinh tế - xã hội ổn định và phát
triển, quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng đã tạo điều
kiện thuận lợi để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đạt được
nhiều thành tựu; thứ ba, Thành phố là nơi hội tụ đa dạng các thành
phần, các tầng lớp và các lực lượng; cùng với đó là tinh thần cởi mở,
phóng khoáng, năng động, sẵn sàng chia sẻ và đón nhận. Đây là những
điều kiện thuận lợi để thực hiện và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân.
3.2.2. Những hạn chế trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh
hiện nay
Bên cạnh những thành tựu và những kết quả do phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân trong lĩnh vực kinh tế ở Tp. Hồ Chí Minh
thì sức mạnh đại đoàn kết của Thành phố vẫn còn những hạn chế và
đang đối diện với những khó khăn, thách thức nhất định. Những hạn
chế này đang trực tiếp lẫn gián tiếp đe dọa đến khối đại đoàn kết toàn
dân: Thứ nhất, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân chưa thể khắc
phục hết hậu quả của mặt trái nền kinh tế thị trường; thứ hai, sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân chưa thực sự phát huy một cách tích cực và hiệu
quả trong xây dựng dân chủ, xây dựng đảng trong sạch vững mạnh; thứ
ba, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân chưa thực sự theo kịp
những biến đổi nhanh chóng và phức tạp của văn hóa, xã hội, tôn
giáo…
Những hạn chế, yếu kém của việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh trong
những năm qua có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi lên một số nguyên
nhân cơ bản sau: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết chưa đủ mạnh để có
thể giảm thiểu những tác động tiêu cực từ mặt trái của quá trình phát
hàng, du lịch, khoa học công nghệ, … có hoạt động kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế sôi động nhất nước. Mặt khác, Tp. Hồ Chí Minh là
trọng điểm hàng đầu, là địa bàn xung yếu của chiến lược “diễn biến hòa
bình” mà các thế lực thù địch đã và đang ráo riết thực hiện ở nước ta.
Chiến tranh và do những thủ đoạn chia rẽ của kè thù đã để lại những
định kiến, mặc cảm sâu nặng trong đời sống cộng đồng.
Những nỗ lực nhằm xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh trong
những năm qua là rất lớn, rất hiệu quả, góp phần tạo nên những thành
23
tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
Thành phố.
Tuy nhiên những thành tựu đã đạt được, phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở Tp. Hồ Chí Minh
còn bộc lộ một số hạn chế, tồn tại, chưa tương xứng với tiềm năng, thế
mạnh của Thành phố.
Dựa chắc vào tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, để tiếp tục
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, vừa phù hợp với điều kiện và
hoàn cảnh mới của Tp. Hồ Chí Minh hiện nay, vừa thúc đẩy sự phát
triển tiếp theo của nền kinh tế - xã hội Thành phố, luận án đề xuất một
số giải pháp cơ bản: Nâng cao nhận thức xã hội, nhất là nhận thức các
cấp về vị trí, vai trò và sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân; xây dựng
hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ở thành phố Hồ Chí Minh để
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; kết hợp hài hoà giữa các lợi
ích cá nhân, tập thể, xã hội và tạo lập niềm tin, nuôi dưỡng sự đồng
thuận xã hội; đẩy mạnh thực hành dân chủ và dân chủ hoá xã hội; đấu
tranh phòng, chống lợi ích nhóm, nạn tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân.