Công tác xã hội nhóm với việc phát huy vai trò tự giúp nhau trong chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại xã hợp hải, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ tt - Pdf 47

B GIO DC V O TO
TRNG I HC THNG LONG

NGUYN THU H C00274

CÔNG TáC Xã HộI NHóM VớI VIệC PHáT HUY VAI TRò
Tự GIúP NHAU TRONG CHĂM SóC SứC KHỏE
CủA NGƯờI CAO TUổI TạI Xã HợP HảI,
HUYệN LÂM THAO, TỉNH PHú THọ
TểM TT LUN VN THC S
CHUYấN NGNH

: CễNG TC X HI

M S

: 60 90 01 01

NGI HNG DN KHOA HC: PGS.TS NGUYN HI LOAN

H NI - 2016

1


MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Già hóa dân số, một hiện tượng mang tính toàn cầu xảy ra ở khắp
nơi và ảnh hưởng đến mọi quốc gia, dân tộc. Hiện tượng này bắt đầu
xuất hiện trong thế kỷ XX và được dự báo là sẽ tiếp tục trong thế kỷ
XXI với mức độ ngày càng gia tăng. Già hóa dân số phản ánh sự

trong chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại xã Hợp Hải để người
cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống tích cực tại công đồng.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc phân tích tài liệu thứ cấp và tiến hành điều tra xã
hội học để tìm hiểu và đánh giá tình trạng sức khỏe, các yếu tố liên
quan đến sức khỏe, công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi của
chính quyền địa phương cũng như nhu cầu của hoạt động công tác xã
hội trong lĩnh vực này tại xã Hợp Hải, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;
Vận dụng các lý thuyết liên quan với nhóm người cao tuổi để hỗ trợ
đáp ứng các nhu cầu chăm sóc sức khỏe góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống cho người cao tuổi tại xã Hợp Hải; Đề xuất việc vận dụng
phương pháp công tác xã hội nhóm trong việc phát huy vai trò tự giúp
nhau trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại xã Hợp Hải, huyện
Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
3.Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
3.1.Ngoài nước
Nhìn một cách tổng thể, có thể thấy rằng trên thế giới đã có rất
nhiều các công trình tìm hiểu về thực trạng đời sống của NCT, những
nhu cầu của họ trong cuộc sống đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe. Tuy nhiên, các mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi được
thực ở nước ngoài đều có sự khác biệt nhất định so với Việt Nam dù
đây là những tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình
nghiên cứu.
3.2. Trong nước
Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, vấn đề
NCT là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc
biệt là các nhà lập chính sách. Cho đến nay các ấn phẩm về NCT khá
đa dạng, bao gồm các kết quả nghiên cứu thực nghiệm dưới dạng
sách, bài tạp chí chuyên ngành, báo cáo nghiên cứu, dạng bài tham
luận, cho đến bài viết trên báo chí… Rất nhiều nghiên cứu được là kết

tuổi tại địa phương; những nhu cầu trong chăm sóc sức khỏe của
người cao tuổi tại cộng đồng để giúp cho các cán bộ làm công tác với
người cao tuổi có những biện pháp thiết thực thúc đẩy công tác chăm
sóc người cao tuổi ngày càng tốt hơn; Đồng thời, với việc xây dựng
mô hình nhóm tự giúp nhau trong chăm sóc sức khỏe của người cao
tuổi tại xã Hợp Hải để giúp họ có một cuộc sống tích cực và khỏe
mạnh hơn từ đó có thể nhân rộng mô hình này trong cộng đồng.
5. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm trong việc phát huy vai trò tự giúp nhau
trong chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại xã Hợp Hải, huyện
Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
4


6. Khách thể nghiên cứu:
Người cao tuổi tại xã Hợp Hải, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;
Người thân trong gia đình (con, cháu...) của người cao tuổi đang
chung sống trong một hộ gia đình; Chính quyền địa phương; Hội
người cao tuổi tại xã Hợp Hải; Chi hội người cao tuổi tại các tiểu khu;
Hội Cựu chiến binh; Nhân viên công tác xã hội địa phương.
7. Câu hỏi nghiên cứu:
1/ Thực trạng sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe của người
cao tuổi tại xã Hợp Hải, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ như thế nào?
2/ Nhu cầu của hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
người người cao tuổi tại xã Hợp Hải như thế nào?
3/ Công tác xã hội nhóm có vai trò ra sao trong việc phát huy vai
trò tự giúp nhau trong chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại cộng
đồng xã Hợp Hải, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
8. Giả thuyết nghiên cứu:
Người cao tuổi tại xã Hợp Hải, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện

1.1.1.1. Khái niệm về người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau, cách nhìn khác nhau về người cao
tuổi. Ở Việt Nam, Luật Người cao tuổi được Quốc hội thông qua vào
tháng 11 năm 2009 và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01 tháng 07 năm
2010 quy định tại điều 2 rằng người cao tuổi là “tất cả các công dân Việt
Nam từ 60 tuổi trở lên”. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tiến
hành nghiên cứu với những người cao tuổi ở các lứa tuổi khác nhau từ
60 đến 80 tuổi, nghề nghiệp khác nhau tại cộng đồng.
1.1.1.2. Một số đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi
Đặc điểm sinh lý đầu tiên của người cao tuổi là quá trình lão hóa.
Đặc điểm sinh lý thứ hai là người cao tuổi thường hay mắc các bệnh
về tim mạch và huyết áp, xương khớp, hô hấp, rối loạn tâm thần…
Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi
người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là: Thứ
nhất, hay hướng về quá khứ. Thứ hai, người cao tuổi hay chuyển từ
trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”. Thứ ba, người cao tuổi
thường gặp phải những biểu hiện tâm lý cô đơn, buồn phiền, trầm
cảm...
1.1.2. Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
1.1.2.1. Khái niệm sức khỏe
Theo định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì
một người khỏe mạnh phải đảm bảo ba yếu tố là có thể lực tốt, tinh
thần tốt và thực hiện được các chức năng xã hội.
6


1.1.2.2. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi là phòng chống sự già hóa
sớm, đề phòng và chữa trị các bệnh tuổi già sinh ra bằng nhiều biện
pháp khác nhau qua đó nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe (cả về thể

7


Việc ứng dụng CTXH nhóm ở những loại hình khác nhau với mục
đích tạo điều kiện để mỗi cá nhân khi tham gia nhóm sẽ có cơ hội,
điều kiện để tự nhìn nhận, đánh giá về bản thân, học tập chia sẻ kinh
nghiệm qua các hoạt động tăng cường sự đồng cảm với người khác
nhằm phát triển các mối quan hệ tương tác có hiệu quả hơn, tăng
cường sức mạnh từ tiềm năng. Trong phạm vi đề tài, tôi nghiên cứu
loại hình công tác xã hội nhóm tự giúp.
1.1.4.4.Tiến trình công tác xã hội nhóm
Có 4 bước cơ bản trong tiến trình công tác xã hội nhóm với người
cao tuổi. Bước 1: Chuẩn bị và thành lập nhóm; Bước 2: Khảo sát
nhóm (Khởi động và tiến hành hoạt động – giai đoạn đầu); Bước 3:
Duy trì nhóm (Tập trung hoạt động- giai đoạn trọng tâm); Bước 4:
Lượng giá và kết thúc hoạt động - giai đoạn cuối.
1.2.LÝ THUYẾT ÁP DỤNG
1.2.1.Lý thuyết nhu cầu
Tác giả nghiên cứu đề tài khi làm việc với người cao tuổi tại cộng
đồng cần biết đánh giá những nhu cầu của người cao tuổi đặc biệt là
nhu cầu về chăm sóc sức khỏe để có thể cung cấp dịch vụ đáp ứng
một cách phù hợp và hiệu quả nhất.
1.2.2.Lý thuyết vai trò xã hội
Người cao tuổi vốn có vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội,
là người có công sinh thành, nuôi dạy con cháu, hình thành nhân cách,
phát triển giống nòi, giáo dục truyền thống văn hóa đạo đức cho thế hệ
trẻ. Với người cao tuổi, vấn đề chăm sóc sức khỏe cũng rất quan
trọng, có sức khỏe sẽ giúp người cao tuổi thực hiện tốt các vai trò
khác, sống một cách vui vẻ và tích cực. Việc phát huy vai trò tự giúp
đỡ lẫn nhau giữa những người cao tuổi sẽ giúp những người cao tuổi

người cao tuổi trong xã hội truyền thống, ngày nay với sự phát triển
của kinh tế thị trường chăm sóc tại gia đình được hiểu là các mô hình
chăm sóc lưu động mang chất lượng của các gói dịch vụ nhỏ đến với
người cao tuổi ngay tại gia đình họ.
1.4.2. Mô hình y tế viễn thông trong chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các nước
phát triển đã xây dựng mô hình tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi từ xa và y tế viễn thông được đánh giá là một trong ba mũi nhọn
của ngành y tế ở thế kỷ XXI (dược phẩm, chẩn đoán hình ảnh và y tế
viễn thông).
1.4.3. Mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại cộng
đồng
9


Mô hình chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi tại cộng đồng
bao gồm khá nhiều hoạt động phong phú, nổi bật là hai hoạt động Nhà
dưỡng lão do cộng đồng hoặc tổ chức xã hội thành lập và hoạt động
của các nhóm, câu lạc bộ.
1.4.4. Mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại bệnh
viện
Ở các nước phát triển phúc lợi xã hội tăng, người cao tuổi được
chăm sóc miễn phí tại bệnh viện ngày càng nhiều. Đó chính là Viện
Lão khoa với mô hình chăm sóc sức khoẻ miễn phí dành cho người
cao tuổi. Đồng thời, thông qua thẻ bảo hiểm y tế dành cho người cao
tuổi diện nghèo, cô đơn và những người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên
được miễn phí khi khám chữa bệnh tại các bệnh viện.
1.4.5. Mô hình câu lạc bộ sức khỏe
Thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, ngoài các Trung tâm dưỡng

nhất” của lớp người cao tuổi.
* Tình trạng hôn nhân
Số liệu khảo sát cho thấy phần lớn người cao tuổi xã Hợp Hải đang
sống với vợ/chồng (chiếm 69,2%), tiếp đó là góa vợ/chồng (26,7%),
còn các tình trạng ly hôn/ly thân (chiếm 2,5 %); không vợ/chồng
chiếm tỷ lệ nhỏ (chiếm 1,7%).
* Mô hình gia đình người cao tuổi
Theo như số liệu điều tra, mô hình gia đình của người cao tuổi tại
xã Hợp Hải thì phổ biến nhất là hai vợ chồng người cao tuổi sống
cùng con cháu chiếm 58,3%, hai vợ chồng cao tuổi sống với nhau
chiếm 11,7%, một người cao tuổi sống với con cháu 28,3%, tỷ lệ NCT
sống cô đơn một mình chiếm tỷ lệ nhỏ (chiếm 1,7%).
* Trình độ học vấn
Có 22,5% người cao tuổi chưa tốt nghiệp cấp tiểu học, 29,2%
người cao tuổi đã tốt nghiệp tiểu học, 18,3% người cao tuổi tốt nghiệp
trung học cơ sở, 15% NCT tốt nghiệp trung học phổ thông, 6,7%
người cao tuổi tốt nghiệp trung cấp/cao đẳng/đại học và trên đại học.
* Cơ cấu người cao tuổi phân theo nghề nghiệp
Phần lớn người cao tuổi trong mẫu kháo sát đã hoặc đang tham gia
vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhóm nghề nghiệp này chiếm tỷ
lệ cao nhất với 60,8%; buôn bán, dịch vụ 15,0%, công nhân viên chức
10,8%, công nhân 6,7%, nội trợ 4,2%, khác 2,5%.
2.2. THỰC TRẠNG SỨC KHỎE VÀ CHĂM SÓC NGƯỜI
CAO TUỔI TẠI XÃ HỢP HẢI, HUYỆN LÂM THAO, TỈNH
PHÚ THỌ
11


2.2.1. Thực trạng sức khỏe người cao tuổi
2.2.1.1. Về tình trạng sức khỏe tự đánh giá của người cao tuổi

và 6,7% cho rằng khám 1 lần/năm là đủ. Có tới 13,3% còn lại trong số
12


các cụ cho rằng việc khám sức khỏe định kỳ hàng năm là không cần
thiết hoặc là chỉ đi khám khi gặp những vấn đề về sức khỏe.
2.2.2.2. Hình thức chăm sóc khi ốm đau, bệnh tật
* Việc thường làm của người cao tuổi khi ốm đau, bệnh tật
Theo kết quả khảo sát cho thấy có tới 63,3% người cao tuổi cho
rằng cần đến trạm xá/bệnh viện khi bị ốm đau hay bệnh tật. Tuy nhiên,
trong số những người cao tuổi được hỏi về việc đi khám và điều trị
bệnh thì một điều đáng ngạc nhiên là có 28,3% người cao tuổi không
đi khám mà tự mua thuốc điều trị tại nhà hoặc bằng phương pháp dân
gian, truyền thống (chiếm 8,3%).
* Các hình thức chăm sóc khi ốm đau, bệnh tật
Qua điều tra cho thấy, người cao tuổi nhận được sự hỗ trợ, chăm
sóc chủ yếu từ vợ hay chồng (chiếm 70,8%). Tiếp theo đó là nguồn trợ
giúp của con cháu (chiếm 63,3%). Sự giúp đỡ về mặt sức khỏe khi ốm
đau, bệnh tật không chỉ có những người thân trong gia đình mà còn có
anh chị em (chiếm 8,3%). Bên cạnh đó trong tổng số 120 cụ được hỏi
có 2,5% nhận được sự giúp đỡ từ bạn bè đồng nghiệp; 0,8% từ hội,
đoàn thể địa phương. Tỷ lệ các cụ tự phục vụ chiếm 5,0%. 2.2.2.3. Sự
quan tâm của gia đình tới sức khỏe người cao tuổi
* Sự quan tâm của người thân đối với người cao tuổi
Qua điều tra cho thấy, có 60,0% trong số các cụ cho rằng con cháu
thường xuyên quan tâm, 26,0% rất thường xuyên và 14,0% còn lại cho
rằng con cháu thỉnh thoảng quan tâm đến mình.
* Mức độ hài lòng của người cao tuổi về sự quan tâm của gia đình
Khi hỏi về mức độ hài lòng của các cụ với việc quan tâm, chăm sóc
của con cháu, có 39,2% các cụ rất hài lòng, 53,3% các cụ hài lòng và

không hút thuốc lá, thuốc lào. Mặt khác, những người cao tuổi không
hút thuốc lá, thuốc lào có tỷ lệ không bị ốm là 33,2% cao hơn so với
tỷ lệ này ở các người cao tuổi hút thuốc lá, thuốc lào là 16,4%. Kết
quả điều tra cho thấy chỉ có 17,5% người cao tuổi thường xuyên tập
thể dục thể thao và thể dục dưỡng sinh, có tới 82,5% người cao tuổi
không luyện tập thể dục thể thao.
2.2.3.2. Các mối quan hệ xã hội của người cao tuổi
Theo kết quả điều tra, có 48,3% gặp gỡ hàng ngày; 35% gặp gỡ một
vài lần/tuần; 15,8% gặp gỡ một vài lần/tháng. Tuy nhiên, cũng có một
tỷ lệ nhỏ người cao tuổi có mối quan hệ hẹp (chiếm 0,8%). Khi được
hỏi về “Số lượng bạn tri ân, tri kỷ” có 33,3% trong số các cụ có từ
trên 5 người bạn, 23,3% có từ 3 - 4 người, 12,5% có 1 – 2 người bạn.
Theo như kết quả điều tra cho thấy, người đầu tiên được người cao
tuổi kể đến thường xuyên hỏi han, trò chuyện, chia sẻ nhất là người
bạn đời (chiếm 34,1%). Tiếp theo là quá trình giao tiếp với người con
14


trai (chiếm 26,7%), thứ ba người con gái (chiếm 23,3%). Ngoài ra,
con dâu, con rể cũng được người cao tuổi nhắc đến (chiếm 6,7%). So
với việc trò chuyện với con cháu và những người hàng xóm thì hoạt
động trò chuyện với bạn bè, đồng nghiệp của người cao tuổi có tần
suất thấp hơn (chiếm 3,3%). Kết quả điều tra cho thấy việc thường
xuyên tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng (nghe đài, đọc
báo, xem ti vi) là loại hình hoạt động đặc thù của người cao tuổi,
chiếm tỷ lệ cao nhất so với các hoạt động khác (chiếm 94,1%). Một
yếu tố thể hiện tính tích cực trong hoạt động và sử dụng thời gian rỗi
của người cao tuổi với một tỷ lệ cũng khá cao người cao tuổi tham gia
sinh hoạt đoàn thể, câu lạc bộ (chiếm 71,7%) và trực tiếp tham gia các
hoạt động xã hội (chiếm 25%). Theo số liệu điều tra, có 65,8% đi

(15,8%); nhu cầu được bổ sung chế độ chính sách (16,7%)... Như vậy,
có thể thấy rằng nhu cầu lớn nhất của nhóm người cao tuổi tại địa
phương hiện nay vẫn là nhu cầu được chăm sóc sức khỏe.
2.3.2. Đánh giá nhu cầu hoạt động của công tác xã hội tại địa
phương
2.3.2.1. Đánh giá về sự hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Từ những phân tích trên có thể thấy vấn đề sức khỏe là vấn đề quan
trọng, có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người cao tuổi. Tuy nhiên,
thông qua các số liệu điều tra tại xã Hợp Hải cho thấy sự hỗ trợ của
nhân viên công tác xã hội tại địa phương còn hạn chế, chỉ dừng lại ở
hoạt động tư vấn kiến thức chăm sóc sức khỏe và chế độ dinh dưỡng
(chiếm 15,0%), Còn một tỷ lệ rất lớn người cao tuổi chưa nhận được
sự hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội (85%). chuyên môn, kỹ năng,
phương pháp đặc thù của ngành công tác xã hội.
2.3.2.2. Đánh giá về mức độ và vai trò hỗ trợ của nhân viên công
tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Khi hỏi về mức độ thường xuyên quan tâm của nhân viên công tác
xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn xã Hợp Hải thì thu được kết
quả như sau: ở mức độ rất thường xuyên có 0,7%, thường xuyên
10,7%, thỉnh thoảng 80,6% và 8,0% người cao tuổi chưa nhận được sự
hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội tại địa phương. Thăm dò ý kiến
người cao tuổi về sự hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội, chỉ có 3,3%
cho rằng rất quan trọng, 10,8% cho rằng là quan trọng, 76,7 % cho
rằng bình thường và 9,2% cho rằng không quan trọng
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

16



* Mục tiêu hoạt động cụ thể của nhóm
- Xây dựng một mô hình hoạt động câu lạc bộ có tính chất tự quản
và tự giúp nhau; - Xây dựng các hoạt động liên quan đến chăm sóc
17


sức khỏe thể chất và tinh thần cho người cao tuổi; - Tạo sự bền vững
về tài chính thông qua các hoạt động tự tạo ra thu nhập thường xuyên
để hỗ trợ hoặc tự huy động nguồn lực từ cộng đồng để duy trì hoạt
động; - Cung cấp các thông tin khoa học trong chăm sóc sức khỏe cho
người cao tuổi; - Tập huấn các kỹ năng cơ bản cho các thành viên để
họ có thể tự tập luyện, tự chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ các thành viên
khác trong câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe; - Nâng cao năng lực để bản
thân những người trong câu lạc bộ có thể truyền thông cho cộng đồng
về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; - Tạo điều kiện cho các thành
viên trong câu lạc bộ tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí; giao
lưu với các tổ chức xã hội, đoàn thể khác của người cao tuổi.
3.1.1.3. Đánh giá các nguồn lực của nhóm
Nguồn lực nhóm bao gồm nguồn lực về bên trong và nguồn lực bên
ngoài, là động lực thúc đẩy hoạt động nhóm cho những mục tiêu mà
nhóm đặt ra.
3.1.1.6. Chuẩn bị môi trường hoạt động nhóm
Địa điểm: Nhà văn hoá khu 3 xã Hợp Hải; Thời gian: 01 buổi/tuần
vào chiều ngày thứ 7 trong tuần của tháng; mỗi buổi sinh hoạt kéo dài
khoảng 02 giờ; Phương tiện sinh hoạt: bàn ghế, bảng, giấy, bút, tài
liệu, học liệu sử dụng trong buổi sinh hoạt; Kinh phí sinh hoạt: được
đóng góp từ chính những người tham gia câu lạc bộ và có thể vận
động từ nguồn ngân sách của chính quyền địa phương hoặc xin dự án
từ các tổ chức xã hội…; Tuyên truyền về hoạt động của câu lạc bộ
nhiều người cao tuổi có thể biết đến.

Tương trợ, đoàn kết, giúp đỡ người cao tuổi cải thiện các vấn đề sức
khỏe, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần; Mọi cuộc thảo luận đều
phải mang tính chất dân chủ, thống nhất dựa trên sự nhất quán của chủ
nhiệm nhóm; Không kỳ thị hay phê phán nhóm viên khác.
3.1.2.3. Xây dựng nội dung và kế hoạch hoạt động cụ thể
Nội dung hoạt động 1: Truyền thông, hướng dẫn, tư vấn sức khỏe
cho người cao tuổi; Nội dung hoạt động 2: Thành lập câu lạc bộ sức
khỏe ngoài trời; Nội dung hoạt động 3:Cung cấp dịch vụ chăm sóc tại
nhà dựa vào tình nguyện viên; Nội dung hoạt động 4: Cung cấp dịch
vụ chăm sóc tại nhà có trả công; Nội dung hoạt động 5: Hoạt động hỗ
trợ đời sống cho người cao tuổi khó khăn trong nhóm; Nội dung hoạt
động 6: Cung cấp dịch vụ thăm khám sức khỏe.
3.1.3. Duy trì nhóm (Giai đoạn tập trung hoạt động – giai đoạn
trọng tâm)
Dựa trên nội dung kế hoạch hoạt động dự thảo của nhóm, nhân viên
công tác xã hội tiến hành 10 buổi sinh hoạt nhóm với từng chủ đề cụ
thể.
19


Thời gian: 8h30 – 10h30 sáng thứ 7 hàng tuần
Địa điểm: Nhà văn hóa khu 3
Thành phần tham dự: Các thành viên trong nhóm người cao tuổi và
nhân viên công tác xã hội
Bước 1: Công tác chuẩn bị cho một buổi sinh hoạt nhóm:
Bước 2: Tổ chức buổi sinh hoạt (theo nội dung đã thống nhất trong
kế hoạch tổng thể)
Bước 3: Kết thúc buổi sinh hoạt
3.1.4. Lượng giá và kết thúc hoạt động (Giải quyết vấn đề và
đạt được các mục tiêu xã hội)

tuổi vẫn là một nhóm bị bỏ quên, bị vô hình trước những người làm
công tác phát triển. Người cao tuổi gặp nhiều vấn đề về sức khỏe.
Người cao tuổi chỉ nhận được phần nhỏ nguồn lực mà họ cần trong
chăm sóc sức khỏe, trong khi những đóng góp tiếp tục của họ cho xã
hội không phải là ít. Nhiều NCT bị phân biệt đối xử , thậm chí bị
ngược đãi, bị bạo hành.Trong bối cảnh đó nghiên cứu về công tác xã
hội với việc phát huy vai trò của người cao tuổi là cần thiết. Mục đích
của luận văn thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng
sức khỏe và chăm sóc của NCT tại xã Hợp Hải – huyện Lâm Thao –
tỉnh Phú Thọ; những yếu tố liên quan đến sức khỏe, chăm sóc sức
khỏe và nhu cầu của hoạt động công tác xã hội trong chăm sóc người
cao tuổi trên địa bàn. Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất
xây dựng một mô hình CTXH nhóm để NCT sống vui, sống khỏe,
sống có ích tại cộng đồng. Những phân tích trong luận văn này góp
phần làm rõ mục đích nghiên cứu và là nguồn tư liệu bổ sung khoảng
trống về chủ đề nghiên cứu này.
Kết quả nghiên cứu cho thấy số NCT từ 60 – 69 chiếm tỷ lệ cao
nhất, tỷ lệ giới tính của nhóm NCT nghiêng về phía các cụ bà, đặc
điểm này thể hiện rõ ở các nhóm tuổi cao hơn. Mặc dù trình độ học
vấn hay chuyên môn của NCT đang ngày càng được nâng lên theo
thời gian nhưng trên thực tế vẫn còn một nhóm nhỏ các cụ vẫn còn mù
chữ. Hiện nay nhu cầu chăm sóc sức khỏe của NCT ngày càng tăng.
Nhu cầu khám và điều trị chưa được đáp ứng. Hiện nay chỉ có nhóm
người về hưu được khám chữa bệnh tốt hơn các nhóm khác, nhờ Nhà
nước bỏ tiền để mua bảo hiểm y tế cho họ. Gần đây nhóm người già
cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi nghèo ở địa phương được
cấp phát thẻ khám và chữa bệnh miễn phí hoặc thẻ bảo hiểm y tế.
Nhìn chung số NCT được hưởng chế độ này còn rất ít và hiệu quả của
việc khám, chữa bệnh cho NCT rất hạn chế. Tuy sức khỏe của NCT
những năm gần đây có khá hơn trước nhưng hiện tại sức khỏe người

Do điều kiện kinh tế - xã hội ngày một phát triển, NCT tại địa
phương có cuộc sống tâm lý, tinh thần tương đối thỏa mái. Tuy cuộc
sống còn nhiều khó khăn song đời sống văn hóa tinh thần của NCT hiện
khá đa dạng và thường xuyên được cải thiện. Hoạt động văn hóa phổ
biến của NCT là đọc sách báo, nghe đài, xem ti vi, đây là những hoạt
động văn hóa thông tin thường ngày của NCT và là những hoạt động
thích hợp với các cụ. Tuy nhiên hiện nay các hoạt động này còn mang
22


tính tự phát và đơn lẻ không có tổ chức. Việc tham gia các hoạt động
văn hóa xã hội có tác dụng tích cực đối với NCT. Một mặt nó đem lại
cho các cụ tinh thần thỏa mái sống, vui sống khỏe, mặt khác phát huy
tài năng trí tuệ của NCT phục vụ cho xã hội.
Bên cạnh những việc đã làm được dành cho NCT, công tác chăm
sóc sức khỏe cho NCT vẫn còn những khó khăn, bất cập, làm ảnh
hưởng đến hiệu quả công tác chăm sóc NCT ở địa phương trong thời
gian qua. Nhìn chung các mô hình, các loại hình chăm sóc chưa đồng
bộ và chưa toàn diện, có nhiều yếu tố cản trở về nguồn lực để duy trì
phát triển rộng và bền vững ở cộng đồng. Chính sách ban hành còn
thiếu văn bản, hướng dẫn, triển khai cụ thể đến đối tượng. Cán bộ
quản lý công tác chăm sóc các cụ còn mang tính kiêm nhiệm, thiếu sự
quan tâm; không dành nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu và nâng cao
kiến thức về công tác trên. Hoạt động kiểm tra công tác chăm sóc còn
chưa sâu, chưa sát với tình hình thực tế, chưa năm được tâm tư,
nguyện vọng của NCT để điều chỉnh công tác chăm sóc NCT tốt hơn.
Như vậy, có thể thấy vấn đề chăm sóc NCT tại gia đình và cộng đồng
cũng có nhiều khó khăn. Kiến thức, kỹ năng của các gia đình trong
chăm sõ NCT hiện nay là khá yếu. Các mô hình của các tổ chức xã hội
ở cộng đồng họat động còn khá nhỏ lẻ chủ yếu là hình thức của câu




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status