BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
----------o0o---------
TRẦN THẾ MƢU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ SONG VUA
EPINEPHELUS LANCEOLATUS (BLOCH, 1790) Ở GIAI ĐOẠN PHÁT
TRIỂN BAN ĐẦU (PHÔI, ẤU TRÙNG VÀ CÁ HƢƠNG)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
----------o0o---------
TRẦN THẾ MƢU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ SONG VUA
Trần Thế Mưu
i
LỜI CẢM ƠN
Ðể hoàn thành luận án tiến sĩ này, trƣớc hết nghiên cứu sinh (NCS) xin chân thành
cảm ơn TS. Lê Xân và PGS.TS. Đỗ Văn Khƣơng là những ngƣời hƣớng dẫn đã tận tâm
chỉ dẫn và giúp đỡ NCS trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận án. NCS xin cảm ơn
Hội đồng Khoa học và Ðào tạo Viện nghiên cứu Hải sản, các thầy, các cô và các nhà
khoa học đã góp ý cho bản thảo luận án. Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, các cán bộ của Trung tâm Quốc gia giống Hải sản
miền Bắc đã hỗ trợ triển khai thí nghiệm, phân tích mẫu để NCS thực hiện các nội dung
nghiên cứu của luận án.
Nghiên cứu sinh cũng xin cảm ơn Ban chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nƣớc KC06.05/1115, Dự án ACIAR - Úc về sinh sản và phát triển nuôi cá Song vua, đã hỗ trợ các điều
kiện cần thiết cho NCS triển khai các thí nghiệm.
Nghiên cứu sinh xin đƣợc cảm ơn ngƣời thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,
khích lệ và sẵn sàng giúp đỡ trong suốt những năm tháng thực hiện luận án.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghiên cứu sinh
Trần Thế Mƣu
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ÐOAN ..................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................... iii
1.4.1.3. Artemia ...................................................................................................... 26
1.4.1.4 Giáp xác chân chèo (Copepod)................................................................... 27
1.4.2. Nghiên cứu thức ăn cho ấu trùng cá Song giai đoạn đầu ............................. 30
1.5 Tình hình nghiên cứu cá Song vua và các loài cá Song ở Việt Nam ............... 32
Chƣơng II: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PH P NGHI N CỨU ............................ 35
2.1. Đối tƣợng, thời gian, địa điểm nghiên cứu ...................................................... 35
iii
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................. 35
2.2.1. Nuôi vỗ cá bố mẹ và sử dụng hormone kích thích sinh sản ......................... 35
2.2.1.1. Phƣơng pháp nuôi vỗ thành thục ............................................................... 35
2.2.1.2. Phƣơng pháp kích thích sinh sản ............................................................... 36
2.2.2. Thí nghiệm ảnh hƣởng của nhiệt độ và độ mặn đến sự phát triển của phôi . 37
2.2.3. Thí nghiệm nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và tập tính bắt mồi
(giai đoạn ấu trùng lên cá hƣơng) ........................................................................... 40
2.2.4. Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hƣởng của nhiệt độ và độ mặn lên ấu trùng cá
Song vua ................................................................................................................. 42
2.2.4.1. Thí nghiệm ảnh hƣởng của nhiệt độ lên ấu trùng cá Song vua ................. 42
2.2.4.2. Thí nghiệm ảnh hƣởng của độ mặn lên ấu trùng cá Song vua .................. 43
2.2.5. Thí nghiệm ảnh hƣởng của một số loại thức ăn đến ấu trùng cá Song vua .. 43
2.2.5.1. Chuẩn bị thức ăn thí nghiệm .................................................................... 43
2.2.5.2. Thí nghiệm ảnh hƣởng của một số loại thức ăn tƣơi sống đến ấu trùng
(giai đoạn 2 - 9 ngày tuổi) ...................................................................................... 44
2.2.5.3. Thí nghiệm ảnh hƣởng của một số loại thức ăn sống đến ấu trùng (giai
đoạn 10- 21 ngày tuổi) ............................................................................................ 45
2.2.5.4. Thí nghiệm ảnh hƣởng của một số loại thức ăn đến ấu trùng (giai đoạn 22
- 42 ngày tuổi)......................................................................................................... 45
2.2.5.5. Thí nghiệm ảnh hƣởng của một số loại thức ăn đến cá Song vua giai đoạn
cá hƣơng lên cá giống (43 - 84 ngày tuổi) .............................................................. 46
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT ..................................................................................... 103
TÀI LIỆU TIẾNG ANH ...................................................................................... 104
PHỤ LỤC………………………………………………………………………..119
v
KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
IUCN
SL
TL
LHRHa
GnRHa
DO
ppt
ppm
HUFA
DHA
EPA
ARA
DW
CT
NTTS
NCS
ct/mL
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (International Union for Conservation
of Nature)
Chiều dài tiêu chuẩn (Standard length)
Chiều dài toàn thân (Total length)
khác nhau ................................................................................................................ 94
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Cá Song vua ..................................................................................................... 5
Hình 2.1. Kiểm tra khối lƣợng và sự thành thục của cá Song vua bố mẹ ..................... 36
Hình 2.2. Cấy viên hormone kích thích cá Song vua sinh sản ...................................... 37
Hình 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hƣởng nhiệt độ ................................................. 38
Hình 2.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm về ảnh hƣởng của độ mặn ...................................... 39
Hình 2.5. Sơ đồ chế độ chăm sóc cá Song vua giai đoạn ấu trùng ............................... 41
Hình 3.1. Một số giai đoạn phát triển phôi của cá Song vua ở nhiệt độ 28ºC ±1,0, độ
mặn 28 ppt ±0,5 ............................................................................................................. 51
Hình 3.2: Ấu trùng cá Song vua vừa mới nở ................................................................. 57
Hình 3.3 Ấu trùng cá Song vua 36 giờ sau khi nở ........................................................ 57
Hình 3.4: Ấu trùng và bộ phận tiêu hóa của cá Song vua 3 ngày tuổi .......................... 57
Hình 3.5: Miệng ấu trùng cá Song vua 3 ngày tuổi ....................................................... 58
Hình 3.6: Ấu trùng cá Song vua 4 ngày tuổi ................................................................. 58
Hình 3.7: Ấu trùng cá Song vua ngày tuổi thứ 7 ........................................................... 58
Hình 3.8: Ấu trùng và bộ phận tiêu hóa của cá Song vua ngày tuổi thứ 8 .................... 59
Hình 3.9: Gai ấu trùng cá Song vua 9 ngày tuổi ........................................................... 59
Hình 3.10: Ấu trùng cá Song vua 10 ngày tuổi ............................................................. 59
Hình 3.11: Ấu trùng cá Song vua 13 ngày tuổi ............................................................. 60
Hình 3.12: Ấu trùng cá Song vua 15 ngày tuổi ............................................................. 60
Hình 3.13: Ấu trùng cá Song vua 18 ngày tuổi và đầu gai cứng................................... 60
Hình 3.14: Ấu trùng cá Song vua 21 ngày tuổi và thân tia gai cứng ............................ 61
Hình 3.15: Ấu trùng cá Song vua 25 ngày tuổi và đầu tia gai cứng.............................. 61
Hình 3.16: Ấu trùng cá Song vua 30 ngày tuổi và vây đuôi ......................................... 61
Hinh 3.17: Cá Song vua 35 ngày tuổi............................................................................ 62
Tính cấp thiết của đề tài luận án
Cá Song vua Epinephelus lanceolatus (Bloch, 1790) hay còn gọi là cá Song vang
hoặc cá Mú nghệ là loài cá rạn san hô khổng lồ với chiều dài có thể lên đến 2,7 m và
khối lƣợng đạt 400 kg (Fourmanoir và Laboute, 1976). Thịt cá Song vua trắng, ngon, có
giá trị dinh dƣỡng cao, có mùi thơm đặc biệt, là đối tƣợng hải sản đƣợc tiêu thụ ở các thị
trƣờng truyền thống ở Trung Quốc, Đài Loan, Singapore và nhiều nƣớc khác trên thế
giới, với giá bán trên thị trƣờng rất cao từ 18 - 24 USD. Cá Song vua bụng nhỏ, mình dày
nên có thể phi lê đông lạnh. Ngoài ra, cá Song vua có khối lƣợng từ 100 kg trở lên còn
đƣợc dùng làm cá cảnh ở một số thủy cung và các khu triển lãm phục vụ khách tham
quan du lịch (Hoàng Nhật Sơn và cs., 2015).
Do nhu cầu ngày càng tăng của thị trƣờng, nên trong tự nhiên cá Song vua bị khai
thác quá mức và sản lƣợng cá đánh bắt tự nhiên trong các vùng biển loài cá này phân bố
đã bị giảm sút nghiêm trọng. Trƣớc nguy cơ tuyệt chủng, năm 1990 cá Song vua đƣợc
đƣa vào sách đỏ IUCN, mức độ VU (A2d). Tại Việt Nam, cá Song vua cũng nằm trong
danh sách những đối tƣợng có nguy cơ tuyệt chủng và cần đƣợc bảo vệ, ký hiệu VN
01/2000/TT - BTS. Trƣớc áp lực về bảo vệ nguồn lợi cá Song vua trong tự nhiên và đảm
bảo cung cấp nguồn thực phẩm cao cấp cho các thị trƣờng lớn và khó tính trên thế giới,
nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã chú trọng nghiên cứu loài cá này để đƣa vào sản xuất
giống nhân tạo và nuôi thƣơng phẩm, tuy nhiên do còn nhiều hạn chế nên chƣa đạt đƣợc
kết quả nhƣ mong đợi. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ sống của ấu trùng cá
Song vua đến giai đoạn cá giống còn rất thấp. Nguyên nhân có thể do ấu trùng cá Song
vua có tính ăn thịt lẫn nhau, chất lƣợng trứng, kỹ thuật ấp nở trứng, chế độ dinh dƣỡng
chƣa phù hợp và do ảnh hƣởng của điều kiện môi trƣờng.
Hiện nay, trên thế giới mới chỉ có Đài Loan đã chủ động đƣợc công nghệ sản xuất
giống nhân tạo ở quy mô hàng hóa. Tuy nhiên, công nghệ sản xuất giống này đƣợc bảo
mật rất chặt chẽ nên không có hoạt động chuyển giao công nghệ cũng nhƣ trao đổi thông
tin từ nƣớc bạn ngoài một số công bố về một số ít đặc điểm sinh học sinh sản. Các nƣớc
1
luận án.
2
Cho đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam chƣa có công trình nào nghiên cứu về đặc
điểm sinh học, sinh sản cá Song vua. Do vậy, việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
ở giai đoạn phát triển sớm của cá Song vua là rất cần thiết nhằm tạo cơ sở khoa học cho
nghiên cứu xây dựng qui trình kỹ thuật sản xuất giống cá Song vua.
2.
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận án
2.1.
Mục tiêu chính của luận án
Xác định đƣợc một số đặc điểm sinh học ở giai đoạn phát triển sớm của cá Song
vua làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu xây dựng qui trình công nghệ sản xuất
giống nhân tạo.
2.2.
Nội dung nghiên cứu của luận án
2.2.1. Nội dung 1: Nghiên cứu sự phát triển phôi của cá Song vua và ảnh hưởng của yếu
tố nhiệt độ và độ mặn đến quá trình phát triển phôi.
-
Nghiên cứu diễn biến phát triển phôi cá Song vua trong điều kiện nhân tạo.
3.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
-
Ý nghĩa khoa học: Hiện nay mới chỉ có Đài Loan thành công trong việc chủ động
sản xuất giống nhân tạo cá Song vua. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Song
vua giai đoạn ấu trùng là bƣớc tiến mới trong lĩnh vực khoa học công nghệ nuôi trồng
thủy sản tại Việt Nam. Luận án đã cung cấp các thông tin về sự phát triển của phôi, ảnh
hƣởng của yếu tố môi trƣờng đến sự phát triển của phôi, đặc điểm phát triển hình thái
của ấu trùng, ảnh hƣởng của môi trƣờng đến tỷ lệ sống, sinh trƣởng và thời gian biến thái
cũng nhƣ đặc tính sử dụng thức ăn của cá Song vua giai đoạn ấu trùng và cá hƣơng.
-
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đã cung cấp cơ sở khoa học, nguồn tài liệu tham khảo
quan trọng cho các nhà nghiên cứu về sinh sản và sản xuất giống các loài cá Song nói
chung và cá Song vua nói riêng. Nguồn thông tin này còn là cơ sở xây dựng quy trình
công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá Song vua, góp phần vào việc bảo tồn nguồn lợi đối
với cá Song vua đang có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên.
4.
Tính mới của luận án
Lần đầu tiên luận án tiến hành nghiên cứu và công bố đặc điểm hình thái, quá
trình phát triển các giai đoạn phôi, ấu trùng và cá hƣơng của ấu trùng cá Song vua một
cách đầy đủ, đây không chỉ là nghiên cứu mới của Việt Nam mà cả trên thế giới. Luận án
đã có 3 điểm mới cung cấp cho lĩnh vực chuyên ngành là: (1) mô tả đặc điểm phát triển
kính mắt bằng chiều dài đầu chia cho từ 5,8 đến 14 lần; các lỗ mũi gần bằng nhau; hàm
dƣới có 2 - 3 hàng răng khi cá đạt chiều dài 20 - 25 cm SL (SL độ dài tiêu chuẩn) tăng
5
tới 15 - 16 hàng ở cá đạt chiều dài 177 cm SL; răng nanh mọc ở trƣớc hàm nhỏ hoặc
không có. Cung mang thứ nhất có 8 -10 tấm lƣợc mang, xƣơng nắp mang bao phủ kín
cung mang. Vây lƣng có 11 tia vây cứng, 14 - 16 tia vây mềm, chiều dài của tia vây cứng
ngắn hơn chiều dài tia vây mềm. Vây đuôi có dạng hình tròn có 3 tia vây cứng và 8 tia
vây mềm, vây ngực có 18 - 20 tia vây mềm. Chiều dài đầu bằng 1,8 - 2,2 lần chiều dài
của vây ngực, vây bụng không kéo dài đến gần vây hậu môn và bằng 2,1 - 2,6 lần chiều
dài đầu. Vẩy đƣờng bên cơ 54 - 62 chiếc.
Cá Song vua lúc còn nhỏ có màu vàng thể hiện rõ nhất ở rìa các vây lƣng, vây
đuôi, vây hậu môn và vây ngực, khi cá trƣởng thành toàn bộ cơ thể có màu nâu đậm, các
vây màu tối hơn.
1.1.2. Đặc điểm phân bố, môi trường sống và đặc tính ăn của cá Song vua
Cá Song vua là loài cá Song phân bố rộng, xuất hiện ở vùng Ấn Độ Dƣơng và
Thái Bình Dƣơng, từ Biển Đỏ tới vịnh Algoa, Nam Phi, quần đảo Hawaii và quần đảo
Pitcairn. Ở phía Tây Thái Bình Dƣơng, cá Song vua phân bố từ phía Bắc tới Nam Nhật
Bản và phía Nam thì tới Úc (Heemstra và Randall, 1993).
Tài liệu của Heemstra và Randall (1993) công bố đã bắt đƣợc cá Song vua ở độ
sâu 100 m nhƣng nó cũng đƣợc tìm thấy thƣờng xuyên hơn ở những vùng nƣớc nông, ở
các hang trong vùng rạn san hô và quanh những con tàu bị đắm; cá Song vua trƣởng
thành và cá nhỏ cũng đƣợc tìm thấy ở vùng cửa sông. Thức ăn ƣa thích của cá Song vua
sống ở vùng rạn san hô và ở vùng đáy nhiều đá là những cá thể giáp xác lớn nhƣ tôm
hùm, cua lớn, các cá thể rùa biển kích cỡ nhỏ. Khi cá Song vua sống ở vùng cửa sông,
vũng vịnh ven bờ, thức ăn chủ yếu là cá và một số loài giáp xác kích cỡ lớn nhƣ cua,
ghẹ, cá. Ở vùng cửa sông Nam Phi, mồi chính thƣờng đƣợc sử dụng để bẫy cá Song vua
là Cua bùn Scylla serrata.
1.1.3. Kích thước và sinh trưởng
đƣợc 164.550 ấu trùng cá Song vua mới nở (Vatanakul và cs., 1999).
Trong hội nghị tổng kết về nuôi trồng thủy sản ở Indonesia năm 2007, tác giả
Santoso Djunardi đã đề cập tới tầm quan trọng của việc cung cấp chế độ dinh dƣỡng
thích hợp cho cá bố mẹ cá Song vua nuôi tại Lampung - Indonesia với việc sử dụng thức
ăn cá tạp và cua, có bổ sung vitamin C 150 mg/kg thức ăn và vitamin E 1000 mg/kg thức
ăn. Hanung Santosa và Sukadi (2008) cũng báo cáo sự thành công trong việc cho cá
Song vua sinh sản vào tháng 5 với việc cấy LHRHa liều lƣợng 10 - 20 mg/kg vào cơ thể
7
cá vào tháng 1. Tuy nhiên, báo cáo chỉ giới hạn ở mức độ cung cấp thông tin, chƣa có
nghiên cứu và kết quả cụ thể.
1.1.4.2. Nghiên cứu bảo quản tinh cá Song vua
Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc sinh sản cá Song vua đều gặp khó khăn trong việc
cho cá Song vua sinh sản tự nhiên và sự phát triển đồng pha tuyến sinh dục của cá đực và
cá cái. Năm 2008, nhóm tác giả Trung Quốc tiến hành thí nghiệm cho sinh sản với 12 cá
thể cái và 3 cá thể cá Song vua đực. Tác giả báo cáo rằng sau khi tiêm kích dục tố, cá
Song vua có thể sinh sản tự nhiên nhƣng trứng không thể thụ tinh. Trứng cá Song vua
trong thí nghiệm chỉ thụ tinh khi đƣợc thụ tinh nhân tạo và trứng nở sau 25 giờ 40 phút
sau khi thụ tinh với nhiệt độ 27 ± 0,5oC, độ mặn 31 ppt, pH 7,8 (Zhang và cs., 2008).
Tuy nhiên, báo cáo chỉ giới hạn ở mức độ cung cấp thông tin và kết quả không đƣợc
công bố rộng rãi.
Do những khó khăn trong việc cho sinh sản tự nhiên cá Song vua và việc thành
thục không đồng pha của cá đực và cá cái, nên các thí nghiệm về ảnh hƣởng của các yếu
tố môi trƣờng lên tinh trùng và các nghiên cứu để bảo quản tinh cá Song vua đƣợc thực
hiện bởi nhiều tác giả khác nhau. Liang và cs. (2009) thí nghiệm khả năng hoạt động của
tinh trùng cá Song vua cho thấy khả năng hoạt động tốt nhất của tinh trùng cá Song vua
ở độ mặn giữa 27,5 - 35 ppt với thời gian sống sót dài nhất đƣợc ghi nhận là 14,8 phút.
pH tối ƣu cho hoạt động của tinh trùng là 8,5 với thời gian vận động là 12,7 phút và thời
gian sống là 17,3 phút. Thời gian vận động dài nhất của tinh trùng đƣợc ghi nhận khi thí
cá Song vua trong môi trƣờng nitơ lỏng. Tinh trùng sau khi rã đông có hoạt lực cao với
tỷ lệ vận động 90,61 ± 3,03% và tỷ lệ thụ tinh 92,27 ± 2,43%, kết quả này không có sự
khác biệt so với tinh trùng sử dụng để thụ tinh ngay sau khi vuốt tinh mà không qua bảo
quản (94,34 ± 4% và 94,10 ± 1,87%). Trong thí nghiệm tinh trùng đƣợc lấy từ 3 cá đực
16 tuổi có khối lƣợng trung bình 63,4 ± 7 kg và chiều dài trung bình 1,26 ± 0,26 mTL.
Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu vẫn chƣa thuyết phục đƣợc các nhà chuyên môn do
tác giả không đề cập tới thời gian bảo quản tinh, một yếu tố rất quan trọng để đánh giá
hiệu quả của phƣơng pháp bảo quản và chất bảo quản.
1.1.4.3. Nghiên cứu ương ấu trùng cá Song vua
Các thông tin không chính thức đều nhận định rằng Đài Loan là nơi đầu tiên sản
xuất thành công giống cá Song vua nhƣng có rất ít các công bố của các tác giả Đài Loan
về nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản. Công bố của các tác giả Đài Loan chủ yếu liên
quan đến giai đoạn ƣơng cá hƣơng. Hseu và cs. (2004) sử dụng 800 cá hƣơng cá Song
9
vua có kích thƣớc tối thiểu 19 mm để nghiên cứu sự ăn thịt lẫn nhau của cá Song vua
ƣơng từ giai đoạn cá hƣơng lên cá giống. Nghiên cứu chỉ ra rằng khi sự chênh lệch về
kích thƣớc ở giai đoạn cá hƣơng của cá Song vua khoảng 30% thì nên tiến hành lọc phân
cỡ cá để hạn chế việc ăn thịt lẫn nhau.
Ling và cs. (2010) thực hiện thí nghiệm để theo dõi sự phát triển của phôi, sự thay
đổi hình thái và thức ăn của ấu trùng cá Song vua. Nghiên cứu chỉ ra rằng, thời gian phát
triển của phôi cá Song vua là 18 giờ 30 phút ở điều kiện nhiệt độ 29 ± 0,5oC, sục khí nhẹ,
độ mặn 30 ppt. Quá trình phát triển phôi của cá Song vua đƣợc chia thành 5 giai đoạn:
giai đoạn phân chia, giai đoạn phôi nang, giai đoạn phôi vị, giai đoạn phôi thần kinh và
giai đoạn hình thành các cơ quan. Ấu trùng mới nở đƣợc ƣơng ở các bể ngoài trời với
điều kiện nhiệt độ 25 - 30oC và độ mặn 33 - 35ppt. 72 giờ sau khi nở, noãn hoàng hầu
nhƣ biến mất và ấu trùng cá Song vua bắt đầu ăn protozoa. Từ ngày thứ 5 ấu trùng ăn
động vật nguyên sinh và luân trùng nhỏ. Từ ngày thứ 8 ấu trùng bắt đầu ăn nauplii của
copepod và một ít luân trùng. Sau 13 ngày từ khi nở, ấu trùng cá ăn chủ yếu copepod và
mô lớn hơn với những đòi hỏi cao hơn về việc duy trì thức ăn tự nhiên trong hệ thống
ƣơng. Hơn thế nữa, quần thể thức ăn tự nhiên ở các vùng sinh thái khác nhau là khác
nhau, có thể việc ƣơng cá Song vua thành công ở vùng này nhƣng lại không thành công
ở vùng khác.
Thí nghiệm nghiên cứu nhu cầu choline (một loại vitamin tan trong nƣớc) trong
khẩu phần thức ăn của cá giống cá Song vua đƣợc thực hiện bởi Yeh và cs. (2013). Khẩu
phần ăn của cá Song vua đƣợc bổ sung choline lần lƣợt các mức là 2,57 g/kg, 2,67 g/kg,
2,94 g/kg, 3,84 g/kg, 4,99 g/kg, 7,71 g/kg và thí nghiệm không bổ sung để đối chứng.
Thí nghiệm đƣợc tiến hành với 900 cá giống cá Song vua kích thƣớc ban đầu 9,34 ± 0,12
g, cá đƣợc thả trong các giai nổi kích thƣớc 1,0 m x 0,4 m x 0,4 m, mật độ cá là 50
con/giai, giai đƣợc thả trong bể ƣơng 2,5 m3 sử dụng nƣớc của hệ thống tuần hoàn, độ
mặn 20 ppt, ƣơng trong 56 ngày và 30 ngày để đánh giá sinh trƣởng, sự chuyển hóa chất
béo và khả năng chống chịu “sốc” của cá Song vua. Kết quả của thí nghiệm chỉ ra rằng
thức ăn bổ sung từ 2,57 tới 7,71 g/kg choline không ảnh hƣởng tới sinh trƣởng của cá
Song vua, nhƣng có ảnh hƣởng tích cực tới việc chuyển hóa lipid và nâng cao khả năng
chịu “sốc” của cá. Báo cáo cũng đƣa ra đề nghị là nên bổ sung ít nhất 2,94 g/kg choline
trong khẩu phần ăn của cá.
Năm 2014, một nghiên cứu chi tiết về việc ƣơng ấu trùng cá Song vua ở Trung
tâm Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản Thái Bình Dƣơng và các nguồn tài nguyên ven
biển, thuộc trƣờng đại học Hawaii ở Hilo đã đƣợc báo cáo bởi García-Ortega và cs.
11
(2014). Trong nghiên cứu này, trứng thụ tinh đƣợc thu từ cá bố mẹ bắt tự nhiên, trứng
đƣợc thả trong một hệ thống nuôi thâm canh với 3 bể tròn thể tích 1 m3 với hệ thống điều
khiển khí, nhiệt độ duy trì 27,6 ± 0,02oC, độ mặn 29,5 ± 0,3 ppt. Trứng cá Song vua nở
sau thụ tinh 30 giờ, ở cá Song vua 2 ngày tuổi có chiều dài trung bình 2,4 ± 0,2 mm. Thí
nghiệm tiến hành với 2 chế độ cho ăn khác nhau. Bể sử dụng thức ăn là ấu trùng Hàu
Thái Bình Dƣơng Crassostrea gigas để cho ăn vào ngày thứ 2 và thứ 3 sau khi nở, rồi
nghiên cứu ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng đến quá trình phát triển của phôi và ấu
trùng, hình thái cấu tạo của ấu trùng cá Song vua và nhu cầu thức ăn đoạn đầu của đối
tƣợng này để làm cơ sở xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo.
1.2.
Nghiên cứu quá trình phát triển phôi và ảnh hƣởng của một số yếu tố môi
trƣờng đến quá trình phát triển phôi của một số loài cá biển
1.2.1. Nghiên cứu quá trình phát triển phôi của một số loài cá biển
Giai đoạn phát triển phôi là một trong những giai đoạn quan trọng trong vòng đời
của các loài cá biển. Chất lƣợng của quá trình nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ, chất lƣợng
trứng đƣợc phản ánh qua sự phát triển của phôi và thông qua việc quan sát quá trình phát
triển của phôi ngƣời ta có thể dự đoán đƣợc chất lƣợng ấu trùng nở ra. Chính vì tính chất
quan trọng của giai đoạn phát triển này mà rất nhiều các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo
các loài cá biển đã thực hiện từ những năm 60 của thế kỷ 20 và các tác giả đều đi sâu
nghiên cứu sự phát triển của phôi. Do vậy, giai đoạn này đã đƣợc mô tả chi tiết bởi nhiều
tác giả với các loài cá biển khác nhau.
Nhìn chung, thời gian phát triển phôi của cá đƣợc tính từ lúc trứng thụ tinh cho
đến khi nở (ấu trùng bơi ra ngoài). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trứng cá biển thƣờng
có dạng hình cầu với một màng cứng trong suốt và trôi nổi nhờ giọt dầu (Glamuzina và
cs., 1998; Glamuzina và cs., 2000; Tseng và Ho, 1988). Tuy nhiên, các loài khác nhau có
đƣờng kính trứng khác nhau, ở cá song Epinephelus marginatus trứng có đƣờng kính
0,738 - 0,94 mm (Glamuzina và cs., 1998), Epinephelus costae đƣờng kính trứng là 0,89
- 0,95 mm (Glamuzina và cs., 2000), cá Song chấm đỏ Epinephelus akaara đƣờng kính
trứng là 0,70 - 0,77 mm (Ukawa và cs., 1966), cá Song chuột C. altivelis 0,80 - 0,86 mm
(Senoo và cs., 2002), cá Song mỡ Epinephelus tauvina Forsskl (1775) đƣờng kính trứng
0,90 mm (Chen và cs., 1977), đƣờng kính trứng của cá Song hổ E. fuscoguttatus 0,87 0,92 mm (Lim, 1993), cá Song da báo Plectropomus leopardus Lacepede (1802) đƣờng
kính trứng là 0,82 - 0,93 mm (Masuma và cs., 1993), Epinephelus striatus Bloch (1792)
đƣờng kính trứng là 0,86 - 0,97 mm (Powell và Tucker, 1992).
2009), thời điểm 12 phút sau khi thụ tinh, đĩa phôi xuất hiện và ở thời điểm 23 phút sau
khi thụ tinh sự phân cắt lần thứ nhất xảy ra; Giai đoạn 4 tế bào, 8 tế bào, và giai đoạn 32
tế bào, xảy ra 1 giờ sau khi thụ tinh; Sau đó phôi dâu, phôi nang và phôi vị phát triển
14