BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU (EVFTA) VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
HỌ TÊN HỌC VIÊN: LÊ QUỲNH THƠ
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Tác giả xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của tác
giả, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS, TS Hoàng Văn Châu.
Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được
đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo
của luận văn. Các số liệu, bảng biểu được sử dụng để nghiên cứu, phân tích, nhận
LUẬN VĂN THẠC SĨ
xét, đánh giá trong luận văn đều được lấy từ các nguồn chính thống như đã trích dẫn
trong bài và trong danh mục tài liệu tham khảo. Những kết quả nghiên cứu được
trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình
Hà Nội - 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian làm luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý
kiến và chỉ bảo nhiệt tình của thầy cô, gia đình và bạn bè.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến GS,TS Hoàng Văn Châu - trường Đại
học Ngoại thương Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá
trình làm khoá luận.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Ngoại
thương Hà Nội nói chung, các thầy cô giảng dạy chuyên ngành Kinh doanh thương
mại nói riêng đã dạy dỗ cho tôi kiến thức về các môn đại cương cũng như các môn
chuyên ngành, giúp tôi có được cơ sở lý thuyết vững vàng và tạo điều kiện giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đã luôn tạo điều
kiện, quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận văn tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Quỳnh Thơ
MỤC LỤC
5
DANH MỤC BẢNG
Đồng tiền chung Châu Âu
Food
FAO
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
And
Agriculture
Organization of the United
Nations
Tổ chức lương thực và Nông nghiệp
Liên hợp quốc
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA
Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do
Research and Development
Nghiên cứu và phát triển
Trade
Policy Dự án hỗ trợ chính sách thương mại
SHTT
SPS
TBT
TRIPS
Sở hữu trí tuệ
Sanitary and Phytosanitary Biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm
Measure
và kiểm dịch động, thực vật
Technical Barriers to Trade
Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
Trade-Related
Intellectual Hiệp định về khía cạnh thương mại
Property Rights Agreement
triển mạnh hơn nữa, đưa thương hiệu nông sản Việt Nam đến với người tiêu dùng ở
các quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới. Qua quá trình nghiên cứu,
luận văn đạt được những kết quả như sau:
Thứ nhất, tác giả đã hệ thống hóa các nội dung cam kết trong Hiệp định
EVFTA một cách tổng quát và liệt kê chi tiết các cam kết liên quan trực tiếp đến
ngành Nông nghiệp. Đồng thời, tác giả cũng tổng hợp ngắn gọn các cơ hội và thách
thức mà EVFTA mang lại đối với Việt Nam.
Thứ hai, tác giả đã nêu lên thực trạng của ngành Nông nghiệp Việt Nam, và
mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và EU hiện nay, từ việc tổng hợp và các
phân tích, suy luận, tác giả đã chỉ ra các vấn đề đặt ra đối với ngành Nông nghiệp.
Các vấn đề được chỉ ra nằm trong bốn hoạt động của thương mại liên quan đến
ngành Nông nghiệp, bao gồm: Xuất khẩu, Nhập khẩu, Đầu tư và Sở hữu trí tuệ.
Trong từng hoạt động, tác giả chỉ ra các tác động tiêu cực mà EVFTA có thể mang
lại cho Nông nghiệp một cách cụ thể đến các khía cạnh như năng lực của doanh
nghiệp, tác động của môi trường kinh doanh, tác động của các biện pháp thuế quan
và phi thuế quan theo Hiệp định, cũng như các vấn đề liên quan đến hệ thống pháp
luật, chính sách hỗ trợ Nông nghiệp của Chính phủ Việt Nam…
Thứ ba, từ bối cảnh thực trạng cũng như các vấn đề khó khăn gặp phải được
đề cập trong Chương II, tác giả đã đề xuất các giải pháp, kiến nghị trên ba cấp độ:
Nông dân và doanh nghiệp nông sản, Hiệp hội ngành hàng, Bộ nông nghiệp và
Chính phủ Việt Nam. Theo đó, bên cạnh nỗ lực cải tổ, hạn chế các vấn đề nội tại
của doanh nghiệp, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh của các doanh nghiệp
8
thì Hiệp hội ngành hàng cần làm tốt vai trò hỗ trợ và đại diện cho doanh nghiệp khi
trong bối cảnh hội nhập, các can thiệp về trợ cấp của Chính phủ đã bị hạn chế. Về
phía mình, các bộ ngành liên quan và Chính phủ Việt Nam cũng cần có những động
thái kiến tạo một hệ thống pháp luật hoàn thiện, hỗ trợ cho hội nhập, cùng với đó là
riêng và ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung, đặc biệt ở các lĩnh vực xuất nhập
khẩu, đầu tư…Bên cạnh các tác động tích cực như đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu
tư nước ngoài, Việt Nam cũng phải đối mặt với các tác động tiêu cực khác như sức
ép cạnh tranh và các rào cản phi thuế nghiêm ngặt mà các quốc gia khác áp dụng.
10
EVFTA là Hiệp định Việt Nam vừa kết thúc đàm phán, đánh dấu bước thiết
lập chặt chẽ mối quan hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu
khi Việt Nam trở thành quốc gia thứ hai trong khu vực ASEAN ký kết FTA song
phương với EU (sau Singapore), đặc biệt trong bối cảnh EU đang trở thành đối tác
thương mại lớn đứng thứ hai của Việt Nam.
Sau hơn hai mươi năm thiết lập quan hệ ngoại giao, từ năm 1995 Hiệp định
khung về hợp tác EC - Việt Nam được ký kết, EU đã trở thành đối tác chiến lược
trong nhiều lĩnh vực của Việt Nam, đặc biệt là trong thương mại và đầu tư. Thời
gian gần đây, hoạt động thương mại quốc tế giữa Việt Nam và EU liên tục tăng
trưởng với kim ngạch xuất khẩu tăng từ 1.736 triệu Euro năm 2013 lên tới 2.420
triệu vào năm 2016, trong khi nhập khẩu giai đoạn này tăng hơn gấp hai lần từ 679
triệu lên 1.441 triệu Euro. Thành công trong việc đàm phán EVFTA sẽ là bước đệm
để Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh phát triển quan hệ thương mại hợp tác với các quốc
gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới.
Khi EVFTA được thực thi, có nhiều cơ hội mở ra đối với các ngành xuất khẩu
của Việt Nam. Bên cạnh các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay
như da giày, dệt may, Nông nghiệp cũng là một ngành kinh tế có nhiều thuận lợi để
phát triển. Việc cắt giảm thuế quan ngay lập tức đối với nhiều nông sản cũng như cắt
giảm theo lộ trình và áp dụng hạn ngạch các mặt hàng nhạy cảm như gạo là một cơ
hội thúc đẩy xuất khẩu, đưa nông sản Việt Nam đến tay người tiêu dùng EU. Bên
cạnh đó, người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cận với các sản phẩm xuất xứ EU từ lâu
đã nổi tiếng về chất lượng với mức giá giảm hơn nhiều, nông dân và doanh nghiệp
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu” của Ủy ban tư vấn
chính sách Thương mại quốc tế - VCCI (2013). Bài viết “Đánh giá tác động theo
ngành của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU: Sử dụng các chỉ số thương
mại” của Vũ Thanh Hương, Nguyễn Thị Minh Phương trên Tạp chí ĐHQGHN:
Kinh tế và Kinh doanh, Tập 32, số 3 (2016).
Báo cáo “Vietnam - EU free trade agreement: Impact and policy implications
for Việt Nam” (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu: Tác
động và những kiến nghị về chính sách cho Việt Nam) của tác giả Nguyễn Bình
Dương, Đại học Ngoại thương Hà Nội.
12
Các nghiên cứu ở trên đề cập mối quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam và EU,
bên cạnh đó đề cập đến triển vọng phát triển mối quan hệ này ở góc nhìn vĩ mô của
toàn bộ nền kinh tế. Ở một số nghiên cứu đã có đề cập đến xuất nhập khẩu nói chung
của Việt Nam - EU và tập trung vào một số ngành công nghiệp chủ đạo. Đối với
EVFTA, nghiên cứu cũng chỉ ra các động cơ tham gia hiệp định của EU, đề cập đến
các điểm cần phải cân nhắc của Việt Nam nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục
cũng như đề cập đến cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, về các kỳ vọng và quan
ngại, các tác động đến thương mại, các cơ hội thách thức đặt ra và từ đó đưa ra các
giải pháp kiến nghị về mặt chính sách. Chi tiết hơn tại nghiên cứu “Đánh giá tác động
theo ngành của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU: Sử dụng các chỉ số
thương mại”, tác giả đã sử dụng các chỉ số thương mại gồm: giá trị, tỷ trọng xuất
nhập khẩu, chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) và chỉ số chuyên môn hóa xuất
khẩu (ES) để đánh giá các tác động theo các ngành chia theo mã HS gồm có 19
nhóm.
Như vậy các nghiên cứu trên đã đưa ra những cái nhìn tổng thể nhất về mối
quan hệ thương mại Việt Nam - EU và các tác động cơ bản của EVFTA lên nền kinh
tế, bên cạnh việc đưa ra nghiên cứu tổng quan, cũng có những nghiên cứu chỉ ra tác
hiện trong bối cảnh hiện nay, khi EVFTA đã kết thúc đàm phán và sẽ được thực thi
vào năm 2018, được coi như bài nghiên cứu đầu tiên khi chỉ ra các vấn đề cụ thể
ngành Nông nghiệp phải đối mặt cũng như đưa ra các giải pháp, kiến nghị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: Thứ nhất, hiệp định EVFTA; thứ
hai, các vấn đề thách thức đặt ra liên quan đến ngành Nông nghiệp Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: nghiên cứu những vấn đề đặt ra đối với ngành Nông nghiệp
Việt Nam, trong đó ngành Nông nghiệp được hiểu theo định nghĩa về Nông nghiệp
trong Hiệp định Nông nghiệp của WTO, có nghĩa nông sản bao gồm các sản phẩm
trồng trọt và chăn nuôi, không bao gồm các ngành thủy sản, lâm nghiệp và diêm
nghiệp.
Về mặt không gian: Nông nghiệp của Việt Nam trong lãnh thổ Việt Nam và ở
các nước thuộc Liên minh Châu Âu.
14
Về mặt thời gian: từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là chỉ ra các vấn đề đặt ra đối với Nông nghiệp
Việt Nam khi EVFTA có hiệu lực, từ đó đưa ra các giải pháp đối với doanh nghiệp,
Hiệp hội ngành hàng và các kiến nghị về mặt chính sách.
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
NV1) Tìm hiểu cơ sở lý luận chung về Hiệp định EVFTA, các vấn đề liên
quan đến Nông nghiệp được đề cập trong Hiệp định và khái quát các cơ hội nhận
được và thách thức gặp phải của Việt Nam;
NV2) Thực trạng của ngành Nông nghiệp Việt Nam, đánh giá thực trạng và
nêu lên các vấn đề đặt ra đối với nông nghiệp Việt Nam khi tham gia EVFTA;
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có 90 trang, 06 bảng biểu, 14 biểu đồ, ngoài lời mở đầu, phần
kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính được chia làm 3 chương, chi
tiết như sau:
CHƯƠNG 1: HIỆP ĐỊNH EVFTA VÀ CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN NÔNG
NGHIỆP ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG HIỆP ĐỊNH
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ CÁC
VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHI
THAM GIA EVFTA
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO CÁC VẤN ĐỀ CỦA NGÀNH NÔNG
NGHIỆP VIỆT NAM KHI THỰC THI EVFTA
16
CHƯƠNG 1: HIỆP ĐỊNH EVFTA VÀ CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN
NÔNG NGHIỆP ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG HIỆP ĐỊNH
1.1.
Hiệp định EVFTA
1.1.1. Khái quát về Hiệp định EVFTA
Hiệp định EVFTA là Hiệp định thương mai tự do giữa Việt Nam với Liên
minh Châu Âu. Hiệp định đã được các bên ký tuyên bố kết thúc đàm phàn vào ngày
2/12/2015. Bắt đầu đàm phán từ năm 2012, sau 3 năm đàm phán và chỉ sau 4 tháng
tuyên bố kết thúc cơ bản, EVFTA sẽ sớm được ký kết, làm thủ tục phê chuẩn hiệp
định và đi vào thực thi cam kết. Các bên sẽ nỗ lực hoàn tất các thủ tục cần thiết để
Hiệp định có hiệu lực vào đầu năm 2018 (Trung tâm WTO và hội nhập, 2015)
EVFTA là Hiệp định toàn diện thế hệ mới, và là FTA đầu tiên mà EU ký kết
với quốc gia có mức thu nhập trung bình như Việt Nam.
99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất
khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập
khẩu trong hạn ngạch là 0% (Trung tâm WTO và Hội nhập, 2015)
Đối với các nhóm hàng quan trọng, cam kết của EU với Việt Nam như sau:
-
Các ngành hàng dệt may, giày dép và thủy sản (trừ cá ngừ đóng hộp và
cá viên): EU sẽ xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho các sản phẩm của
Việt Nam trong vòng 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Với cá ngừ
đóng hộp, EU đồng ý dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch thuế
quan thỏa đáng.
-
Đối với xuất khẩu gạo: EU dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch
đáng kể đối với gạo xay xát, gạo chưa xay xát và gạo thơm. Gạo nhập
khẩu theo hạn ngạch này được miễn thuế hoàn toàn. Riêng gạo tấm,
thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ theo lộ trình. Đối với sản phẩm từ gạo,
EU sẽ đưa thuế nhập khẩu về 0% trong 7 năm.
-
Hàng mật ong sẽ được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và
không áp dụng hạn ngạch thuế quan.
18
-
Một số lĩnh vực mà Việt Nam cam kết thuận lợi cho các nhà đầu tư EU bao
gồm các dịch vụ chuyên môn như: dịch vụ phân phối, dịch vụ viễn thông, dịch vụ
vận tải, dịch vụ tài chính. Hai bên cũng đưa ra cam kết về đối xử quốc gia trong lĩnh
vực đầu tư, đồng thời thảo luận về nội dung giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư
và nhà nước.
19
Về mua sắm của Chính phủ
Qua Hiệp định EVFTA, Việt Nam và EU thống nhất các nội dung tương
đương với Hiệp định mua sắm của Chính phủ (GPA) của WTO. Trong đó gồm một
số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập cổng thông tin điện tử để đăng tải
thông tin đấu thầu, v.v, Việt Nam có lộ trình để thực hiện. EU cũng cam kết dành hỗ
trợ kỹ thuật cho Việt Nam để thực thi các nghĩa vụ này.
Việt Nam bảo lưu có thời hạn quyền dành riêng một tỷ lệ nhất định giá trị các
gói thầu cho nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ và lao động trong nước.
Về vấn đề sở hữu trí tuệ
Cam kết về sở hữu trí tuệ gồm cam kết về bản quyền, phát minh, sáng chế,
cam kết liên quan tới dược phẩm và chỉ dẫn địa lý, v.v. Về cơ bản, các cam kết về sở
hữu trí tuệ của Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
EVFTA đã có quy định chi tiết về chỉ dẫn địa lý, khi Hiệp định có hiệu lực,
Việt Nam sẽ bảo hộ trên 160 chỉ dẫn địa lý của EU (bao gồm 28 thành viên) và EU
sẽ bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam đều liên
quan tới nông sản, thực phẩm, tạo điều kiện cho một số chủng loại nông sản của
Việt Nam xây dựng và khẳng định thương hiệu của mình tại thị trường EU.
Các nội dung khác
Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới cạnh tranh, doanh
nghiệp nhà nước, phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý - thể
chế. Các nội dung này phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ
Mật ong: EU sẽ xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và không
áp dụng hạn ngạch thuế quan.
-
Đối với ngô ngọt, tinh bột sắn và tỏi: EU áp dụng hạn ngạch thuế quan
đối với sản phẩm xuất xứ từ Việt Nam.
-
Đối với đường và các sản phẩm chứa hàm lượng đường cao: EU áp
dụng hạn ngạch thuế quan.
-
Toàn bộ các sản phẩm rau củ quả, rau củ quả chế biến, nước hoa quả
khác: về cơ bản sẽ được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu
lực.
1.2.2. Cam kết mở cửa thị trường hàng hóa của Việt Nam (các cam kết về
thuế quan)
Đối với vấn đề thuế nhập khẩu vào thị trường Việt Nam, trong biểu thuế của
Việt Nam, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực
đối với hàng hóa của EU thuộc 65% số dòng thuế trong biểu thuế, và cam kết xóa
bỏ trên 99% số dòng thuế trong biểu thuế trong vòng 10 năm. Số dòng thuế còn
lại sẽ áp dụng hạn ngạch thuế quan với mức thuế trong hạn ngạch là 0%. Đối với
21
Về cơ bản, các cam kết trong Hiệp định của phần này gồm 2 phần chính là
Các quy định chung về quy tắc xuất xứ và Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR), áp dụng
cho tất cả các mặt hàng, trong đó bao gồm nông nghiệp.
Các quy định chung về quy tắc xuất xứ mà Việt Nam và EU thống nhất trong
Hiệp định EVFTA có các nội dung cơ bản giống trong các Hiệp định FTA mà Việt
Nam đã ký kết trước đây. Ngoài ra, một số nội dung mới mà hai bên đã thống nhất
gồm có:
-
Cơ chế tự chứng nhận xuất xứ: Bên cạnh cơ chế cấp Giấy chứng nhận
xuất xứ (C/O) truyền thống, hai bên thống nhất cho phép nhà xuất khẩu
được tự chứng nhận xuất xứ. Hiện nay, EU đang xây dựng hệ thống nhà
xuất khẩu đăng ký (Registered exporters) - là hệ thống cho phép nhà
xuất khẩu chỉ cần đăng ký với cơ quan có thẩm quyền là có thể tự
chứng nhận xuất xứ. Khi hệ thống này hoàn thiện và được áp dụng, EU
sẽ thông báo cho Việt Nam trước khi thực hiện. Về phía Việt Nam: hiện
22
chưa chính thức triển khai cơ chế tự chứng nhận xuất xứ. Trong
thời gian tới, khi có thể chính thức áp dụng cơ chế này, Việt Nam sẽ
ban hành quy định liên quan trong nước và thông báo cho EU trước khi
thực hiện.
-
Thông tin thể hiện trên Giấy chứng nhận xuất xứ: Việt Nam và EU nhất
trí sử dụng mẫu C/O EUR 1 là mẫu chung trong Hiệp định EVFTA.
Mẫu EUR 1 yêu cầu thông tin khai báo đơn giản hơn so với mẫu C/O
trong các Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và các
23
Đối với nhóm hàng Nông nghiệp, do EU có chính sách bảo hộ mặt hàng
đường, sữa trong nước nên EU giới hạn tỷ lệ sử dụng đường, sữa nguyên liệu
không có xuất xứ trong quá trình sản xuất một số mặt hàng nông nghiệp. Trong
Hiệp định EVFTA, hai bên thống nhất tỷ lệ cơ bản được áp dụng là 20% với từng
nguyên liệu đơn lẻ và 40% với các nguyên liệu kết hợp so với trọng lượng của sản
phẩm cuối cùng. Đối với một số mặt hàng, EU đồng ý linh hoạt tỷ lệ 40% đường
nguyên liệu không xuất xứ và tỷ lệ kết hợp đường, sữa là 50%. Nhìn chung, quy
tắc xuất xứ đối với hàng nông nghiệp trong Hiệp định EVFTA chặt hơn so với các
FTA mà Việt Nam đang tham gia.
Bảng dưới đây thống kê thông tin về một số mặt hàng cụ thể:
Bảng 1.1 Quy tắc cụ thể mặt hàng đối với một số sản phẩm nông nghiệp
Sản phẩm
Mật ong (HS 0409)
Rau củ quả và các sản phẩm
rau củ quả (HS 07, 08 và 20)
Gạo (HS 1006)
Chế phẩm từ ngũ cốc, tinh
bột (HS 11)
Rượu và các đồ uống có cồn
(HS 22)
Thuốc lá và nguyên liệu thuốc
lá (HS 24)
Quy tắc
Quy tắc xuất xứ thuần túy
HRKTTM). Ngoài ra, Hiệp định còn bổ sung và làm rõ các khía cạnh cụ thể của
HRKTTM, trong đó có 3 loại biện pháp kỹ thật : Quy chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn
kỹ thuật, Thủ tục đánh giá hợp quy; và các vấn đề liên quan như tính minh bạch
trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật, đảm bảo các hoạt động giám sát
thị trường là đúng nguyên tắc, công bằng; các nguyên tắc về tiếp thị và ghi nhãn;
đảm bảo tạo thuận lợi cho thương mại và hợp tác.
Đặc biệt trong Hiệp định, Việt Nam cam kết tăng cường sử dụng các tiêu chuẩn
quốc tế trong ban hành các quy định về TBT của mình, cụ thể: “sử dụng các tiêu
chuẩn quốc tế có liên quan, chẳng hạn những tiêu chuẩn do ISO, IEC, ITU, Ủy ban
Codex Alimentarius xây dựng, làm cơ sở cho các quy chuẩn kỹ thuật của mình, trừ
trường hợp các tiêu chuẩn quốc tế này sẽ là một phương tiện không hiệu quả hoặc
không phù hợp cho việc thực hiện các mục tiêu chính đáng; và khi tiêu chuẩn quốc tế
đã không được sử dụng như một cơ sở theo yêu cầu của Bên kia để xác định độ lệch
đáng kể từ tiêu chuẩn quốc tế có liên quan và để giải thích lý do tại sao các tiêu chuẩn
đó được coi là không phù hợp hoặc không hiệu quả cho mục đích đang hướng đến”.
1.2.5. Các biện pháp phòng vệ thương mại
Với EVFTA, theo Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương), chương về các
biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm các điều khoản liên quan đến việc sử dụng
công cụ phòng vệ thương thương mại truyền thống trong WTO (bao gồm các biện
pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ), cho phép EU và Việt Nam bảo vệ
các nhà sản xuất của mình khỏi những bóp méo cạnh tranh dưới dạng hàng hóa
nhập khẩu bán phá giá hoặc được trợ cấp và đối phó với những chuyển đổi mạnh
mẽ trong dòng thương mại giữa hai bên (vụ việc tự vệ).
Cả EU và Việt Nam đều ý thức thừa nhận rằng các biện pháp chống bán phá
giá và chống trợ cấp có thể bị lạm dụng để cản trở thương mại, từ đó đưa đến các
25
cam kết: phòng vệ thương mại nên được sử dụng một cách tuân thủ đầy đủ các yêu