BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------o0o---------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ CÁC BIỆN PHÁP
CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH HẢI DƯƠNG
Ngành: Kinh doanh
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 60340121
Họ và tên: LÊ THU QUỲNH
Nguời hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Duy Liên
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của em. Các
số liệu, tư liệu được nêu và trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và
trung thực. Nếu sai, em xin chịu mọi trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thu Quỳnh
STT
Chữ
viết tắt
Nội dung
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Hình thức hợp đồng Xây dựng
-Vận hành - Chuyển giao
1
BOT
Build Operate Transfer
2
BTO
Build Transfer Operate
3
BT
Buid Transfer
UBND
12
VCCI
Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam
Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Hình thức hợp đồng Xây dựng Chuyển giao - Kinh doanh
Hình thức hợp đồng Xây dựng Chuyển giao
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cảng cạn, nằm sâu trong nội
địa
Khu công nghiệp
Chỉ số năng lực cấp tỉnh
Uỷ ban nhân dân
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập toàn cầu hiện nay, việc thu hút cạnh
tranh nước ngoài của các địa phương đều được quan tâm và coi trọng hàng đầu. Các
địa phương tạo lập và phát huy hiệu quả lợi thế cạnh tranh của mình để thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng môi trường đầu tư hấp dẫn. Qua quá trình nghiên
cứu, luận văn đạt được một số kết quả như sau:
Thứ nhất, tác giả đã hệ thống hóa các định nghĩa và hiểu biết chung về môi
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc cải thiện môi trường đầu tư là
một đòi hỏi khách quan, là yêu cầu số một để khơi thông các dòng vốn cho đầu tư
phát triển. Thực tiễn trong những năm qua, môi trường đầu tư của tỉnh đã được cải
thiện từng bước, góp phần thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên,
việc thu hút đầu tư còn bộc lộ nhiều hạn chế. Thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu
tư còn nhiều vướng mắc; sử dụng các nguồn lực đầu tư còn dàn trải, lãng phí; hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư thấp. Sự cạnh tranh về môi trường đầu tư
của tỉnh Hải Dương với các tỉnh khác trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài chưa cao.
Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá đúng đắn những kết quả đã đạt được,
những yếu kém, hạn chế còn tồn tại, rút ra nguyên nhân đối với môi trường đầu tư
của tỉnh là hết sức cần thiết. Trên cơ sở đó và tiếp thu quan điểm, đường lối, phương
hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lớn trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng,
Nhà nước và tình hình thực tế của tỉnh để đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường
đầu tư, nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh, phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng của tỉnh.
Chính vì thế tác giả lựa chọn đề tài “Môi trường đầu tư và các biện pháp
cải thiện môi trường đầu tư nhằm nâng cao năng lực thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào tỉnh Hải Dương” làm đề tài của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về môi trường đầu tư đối với các doanh nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
phạm vi tỉnh Hải Dương, Luận văn đề xuất cải thiện môi trường đầu tư tại tỉnh Hải
10
Dương đến năm 2030 để có thể có năng lực cạnh tranh với các tỉnh khác trong quá
trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, Luận văn
Phạm vi không gian nghiên cứu: Người viết chỉ tập trung nghiên cứu tỉnh
Hải Dương, có nghiên cứu thêm một số thành phố và tỉnh lân cận để rút ra những
bài học bổ ích cho tỉnh Hải Dương.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt
ra, Luận văn sẽ sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, so sánh đối
chiếu… trên cơ sở những quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Tác giả cũng sử dụng các bảng biểu để so sánh, đối chiếu làm rõ.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Phần Tham khảo, nội dung chính của
Luận văn kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cải thiện môi trường đầu tư nhằm
nâng cao năng lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương II: Thực trạng về môi trường đầu tư với đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại tỉnh Hải Dương
Chương III: Các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút các
nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào tỉnh Hải Dương
12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI THIỆN MÔI
TRƯỜNG ĐẦU TƯ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Cơ sở lý luận về môi trường đầu tư
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về môi trường đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm về môi trường đầu tư
Trước khi nghiên cứu về môi trường đầu tư, bài viết nghiên cứu về khái niệm
“môi trường”.
các công ty có thể đầu tư một cách có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng hoạt động
của mình”.(Ngân hàng thế giới, 2005)
Trong định nghĩa thứ hai, khái niệm môi trường đầu tư đã được xem xét tại
địa điểm (một quốc gia, một vùng, một địa phương cụ thể). Các nhân tố tác động
đáng kể như chính sách pháp luật, thuế, hệ thống hành chính... cùng với các nhân tố
ít tác động như điều kiện tự nhiên, quy mô lao động... là các yếu tố cơ bản của môi
trường đầu tư. Theo định nghĩa này, hành vi của Chính phủ là rất quan trọng vì
thông qua cách lựa chọn chính sách của Chính phủ sẽ xác định được tình hình môi
trường đầu tư.
Như vậy, khái niệm này về môi trường đầu tư liên quan chặt chẽ đến những
nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác điều hành, các thể chế có chất
lượng cao và cơ sở hạ tầng xã hội trong việc tạo ra tăng trưởng. Nhìn chung, tiền đề
của tăng trưởng được khái quát từ khái niệm về một môi trường đầu tư lành mạnh
trong đó bao gồm các yếu tố: Sự ổn định về kinh tế và chính trị, luật pháp; cơ sở hạ
tầng thích hợp, thuế và các quy định tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, chính
sách lao động và khả năng tiếp cận các nguồn tài chính. Các yếu tố này được chia
thành 3 nhóm: Nhóm các yếu tố tự nhiên, xã hội, chính trị; nhóm các yếu tố điều
hành và nhóm các yếu tố cơ sở hạ tầng.
Ở định nghĩa thứ ba, môi trường đầu tư cũng làm rõ hơn cho định nghĩa thứ
hai về môi trường đầu tư:
“Môi trường đầu tư (theo nghĩa chung nhất) là tổng hòa các yếu tố bên
ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp
luật, cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, lợi thế của một quốc gia có tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của nhà đầu tư”.(Vũ Chí Lộc, 2012)
Ở định nghĩa này, môi trường đầu tư được hiểu là các điều kiện liên quan đến
kinh tế, chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết
14
15
Theo ý kiến của người viết, môi trường đầu tư là tổng hòa của các yếu tố bên
ngoài tác động đến các hoạt động đầu tư. Các yếu tố bên ngoài là các yếu tố kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, tự nhiên, công nghệ, các chính sách của Chính phủ, các
chính sách của địa phương đó... với các hoạt động đầu tư.
Về môi trường đầu tư của tỉnh Hải Dương, do phân tích với quy mô tại một
tỉnh cụ thể, tác giả cũng sẽ phân tích môi trường đầu tư theo định nghĩa thứ ba ở
trên và chia môi trường đầu tư của tỉnh thành các nhóm yếu tố tương ứng:
- Các đặc điểm tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh. Đây được coi là các yếu tố
cơ bản, thay đổi chậm và thời gian thực hiện dài.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng thu hút vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn nước
ngoài. Đây là yếu tố của môi trường đầu tư có thể thay đổi và phát triển được.
- Các chính sách của Chính phủ và chính sách của tỉnh trong thu hút đầu tư.
Đây cũng là các yếu tố có thể học hỏi, khắc phục và sửa chữa kinh nghiệm của các
tỉnh khác để nâng cao khả năng cạnh tranh của tỉnh trong khu vực khi thực hiện thu
hút đầu tư nước ngoài.
- Nguồn nhân lực, công nghệ của địa phương. Để thay đổi các yếu tố này
cũng phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách của tỉnh cũng như các giải pháp mang
tính đột phá và toàn diện.
Trong số các nhóm yếu tố trên, nhóm yếu tố tự nhiên là nhóm yếu tố khó cải
thiện và thay đổi nhất. Các chính sách của tỉnh chính là nhóm yếu tố có tính chất
quyết định và tác động đến toàn bộ các yếu tố còn lại.
1.1.1.2. Đặc điểm của môi trường đầu tư
Thứ nhất, môi trường đầu tư là sự tổng hợp của các yếu tố. Môi trường đầu
tư không chỉ tác động đến nhà đầu tư, mà còn tác động đến người lao động và cả
nền kinh tế. Do đó, khi đánh giá môi trường đầu tư cần đánh giá tổng hợp các yếu tố
và các mối quan hệ giữa các yếu tố. Khi cải thiện môi trường đầu tư cần chú ý đến
tục hành chính.
1.1.2. Phân loại môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư được cấu thành từ nhiều yếu tố, tùy cách tiếp cận khác
nhau và góc nhìn khác nhau, môi trường đầu tư được phân loại cụ thể.
1.1.2.1. Theo hình thái của môi trường đầu tư
Bao gồm môi trường cứng và môi trường mềm
- Môi trường đầu tư cứng liên quan đến các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đảm bảo cho sự phát triển của kinh tế vùng, quốc gia như hệ thống cơ sở hạ
17
tầng giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp năng lượng... Cơ sở hạ tầng
cũng là một yếu tố cơ bản và quan trọng của môi trường đầu tư như chất lượng
đường bộ, hệ thống tưới tiêu, cảng, các sân bay. Cơ sở hạ tầng thường được đánh
giá là một trong những rào cản lớn nhất đối với đầu tư.
- Môi trường đầu tư mềm bao gồm hệ thống dịch vụ hành chính công, dịch
vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư, hệ thống các dịch vụ ngân hàng, kế toán,
kiểm toán; hệ thống tài chính.... Hệ thống tài chính có thể khuyến khích đầu tư bằng
cách huy động nguồn vốn tiết kiệm cũng như giúp các nhà đầu tư kiểm soát rủi ro.
Hệ thống tài chính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo. Hệ
thống tài chính có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng, từ đó tác động gián tiếp tới việc
xoá đói giảm nghèo. Hệ thống tài chính cũng có thể tác động trực tiếp hơn tới xoá
đói giảm nghèo thông qua việc cho phép người nghèo có nhiều cơ hội tiếp cận với
các dịch vụ tài chính. Việc tiếp cận các tài khoản tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và
kiều hối cũng giúp các hộ gia đình kiểm soát tốt hơn những biến động về thu nhập,
và cho phép người nghèo đầu tư vào các dịch vụ thiết yếu như y tế và giáo dục.
1.1.2.2. Theo các nhóm yếu tố tác động đến đầu tư
- Khung chính sách: bao gồm hệ thống các quy định hành chính, luật pháp và
chiến lược của nhà nước. Khung chính sách bao gồm khung chính sách quốc gia và
phái, sự ủng hộ của các đảng phái, của quần chúng nhân dân, tổ chức xã hội với
đảng cầm quyền, năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo, tình hình an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội...
- Môi trường pháp lý và hành chính: hệ thống pháp luật công bằng, rõ ràng,
ổn định, khả năng thực thi pháp luật tốt...
- Môi trường kinh tế và tài nguyên: các chính sách kinh tế, tài nguyên thiên
nhiên và khả năng khai thác, chính sách bảo hộ thị trường trong nước...
- Môi trường tài chính: các chính sách tài chính, các chỉ tiêu đánh giá nền tài
chính quốc gia, tỷ giá hối đoái và khả năng điều tiết của nền kinh tế, hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng, khả năng đầu tư của chính phủ cho phát triển...
- Môi trường cơ sở hạ tầng: hệ thống đường sá, giao thông, hệ thống cung
cấp năng lượng...
- Môi trường lao động: nguồn lao động và giá cả lao động cũng như trình độ
của người lao động...
- Môi trường quốc tế: quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế...
Ngoài ra, môi trường đầu tư có thể chia theo phạm vi của môi trường đầu tư:
- Môi trường đầu tư cấp quốc gia
19
- Môi trường đầu tư vùng
- Môi trường đầu tư tỉnh
Trong phạm vi nghiên cứu của bài luận văn, tác giả nghiên cứu tập trung vào
phân tích môi trường đầu tư theo phạm vi của môi trường đầu tư tại một địa phương
cụ thể. Đó là môi trường đầu tư tỉnh Hải Dương. Ngoài ra, bài viết cũng phân loại
môi trường đầu tư theo nhóm các yếu tố cấu thành để có thể phân tích sâu hơn và có
cái nhìn tổng quan hơn về môi trường đầu tư ở tỉnh Hải Dương.
1.1.3. Khái niệm về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
Để đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư nước ngoài
20
-
Cạnh tranh bình đẳng - chỉ số thành phần mới;
-
Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong;
-
Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, do khu vực nhà nước và tư nhân cung cấp;
-
Có chính sách đào tạo lao động tốt;
-
Hệ thống pháp luật và tư pháp để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI không chỉ đánh giá khả năng cạnh
tranh của địa phương trong việc phát triển doanh nghiệp trong địa bàn mà còn cả
năng lực cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp cả trong và
ngoài nước.
Với việc loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố cơ bản như tự nhiên và xã hội
trong một tỉnh, điểm mạnh của bộ chỉ số PCI trong đánh giá môi trường một tỉnh là
đánh giá được yếu tố quyết định nhất trong môi trường đầu tư địa phương, giúp xác
định và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh, tập
khái quát hoá bản chất và nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Có thể thấy rõ qua một số khái niệm sau:
Ủy ban Liên hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) (1999) định
nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “Một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong
dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở
một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) trong một
doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư
nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh
hoặc chi nhánh nước ngoài) ”. (UNCTAD, 1999)
Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 được chấp nhận khá
rộng rãi về đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “Số vốn đầu tư được thực hiện để thu
được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền
kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và
đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp ”(IMF, 1997). Khái niệm này cho
thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư gián tiếp là
mục đích của các nhà đầu tư.
Năm 2005, Luật đầu tư nước ngoài được điều chỉnh và đã đưa ra định nghĩa
đầu tư nước ngoài trong Điều 2, chương I như sau: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà
22
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để
tiến hành hoạt động đầu tư”(Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, 2005).
Luật đầu tư nước ngoài năm 2005 không đề cập cụ thể đến khái niệm đầu tư
trực tiếp nước ngoài và đầu tư nước ngoài gián tiếp mà chỉ đưa ra khái niệm đầu tư
trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Hai khái niệm trên được hiểu trong Điều 3, chương I của
Luật đầu tư nước ngoài 2005 số 59/2005/QH11: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu
tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “đầu tư
gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các
được lợi ích cho tất cả các bên.
Theo các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có tư cách pháp
nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ
10% trở lên số cổ phần thường hay quyền bỏ phiếu (đối với doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân) hoặc tương đương (đối với doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân).
Những quan niệm đã trình bày ở trên cho thấy sự không thống nhất trên bình
diện quốc tế trong quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, do
đặc thù của mỗi quốc gia mà có các quy định khác nhau về mô hình doanh nghiệp cho
hoạt động đầu tư nước ngoài.
Ở Việt Nam, đến nay chưa có khái niệm chính thức nào khác về doanh nghiệp
FDI ngoài những ghi nhận được đề cập trong Luật Đầu tư năm 2005, Luật đầu tư năm
2014 cũng không đề cập đến khai niệm này.
Như vậy, khác với Luật Doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước quan
tâm đến tiêu chí trách nhiệm của doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và tiêu chí nguồn gốc vốn của
doanh nghiệp (công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước khác), thì qui định của
Luật Đầu tư nước ngoài lại nhấn mạnh theo tiêu chí tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư
nước ngoài trong doanh nghiệp. Điều này không phù hợp với thực tiễn về quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp, bởi vì điều mà các bên thứ ba quan tâm ở doanh
nghiệp không phải là nhà đầu tư có tỷ lệ góp vốn bao nhiêu, ... mà là doanh nghiệp
chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản trước đối tác, trước Nhà nước và các chủ
thể khác như thế nào. Đây chính là điểm hạn chế trước đây của Luật Đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam.
Để khắc phục hạn chế trên, Luật Doanh nghiệp 2005 đã phân loại doanh
nghiệp theo tiêu chí cách thức góp vốn và chịu trách nhiệm (công ty trách nhiệm
24
hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) mà không phụ
25
quyết định sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về các khoản lỗ, lãi. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài phát triển gắn liền với sự ra đời và hoạt động của các công ty
xuyên quốc gia.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng nhằm mở rộng,
chiếm lĩnh thị trường của các công ty xuyên quốc gia và thu về lợi nhuận tối đa cho
nhà đầu tư.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lý
các nguồn vốn đã được đầu tư. Khác với hình thức đầu tư gián tiếp, trong đầu tư
trực tiếp, chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên
doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình.
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có kèm theo việc chuyển giao công
nghệ và kỹ năng quản lý. Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có
thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý... Đây
là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với sự phát triển của thị
trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế. Trong hình thức đầu tư trực tiếp
nước ngoài, các công ty mẹ thường chuyển giao vốn của mình qua các công ty chi
nhánh. Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài có liên quan chặt chẽ với dòng lưu
chuyển vốn quốc tế, trong đó một công ty ở một nước tạo ra hoặc mở rộng chi
nhánh ở nước khác.
Những đặc trưng trên cho thấy bản chất và những lợi thế nổi bật của đầu
tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế của các nước đang phát triển nói
riêng và của nền kinh tế thế giới nói chung. Hiện nay, trong bối cảnh hầu hết các
quốc gia đều hoạt động theo cơ chế thị trường, xu thế khu vực hóa và toàn cầu
hóa các hoạt động kinh tế đang ngày càng phổ biến và diễn ra với tốc độ nhanh,
khoa học - kỹ thuật, công nghệ đạt đến trình độ phát triển cao.... đầu tư trực tiếp