Tiểu luận môn triết học triết học và vai trò của triết học đối với sự phát triển của khoa học kinh tế - Pdf 47

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC KINH TẾ

Lớp:

Cao học Quản trị kinh doanh CH26P

Giảng viên hướng dẫn:

TS. Lê Ngọc Thông

Sinh viên thực hiện:

Khương Thị Liên

1


MỞ ĐẦU
Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người,
thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với
chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ,
Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tồn tại và tư duy, giúp cho
việc nhận thức và hoạt động cải tạo thế giới. Triết học Mác dựa vào những thành quả của
các khoa học cụ thể, nhưng nó không lấy phương pháp của các ngành khoa học cụ thể để
làm phương pháp của mình. Việc nghiên cứu các, nguyên lý, quy luật vận động, các cặp
phạm trù, phương pháp luận,... trong triết học có ý nghĩa rất lớn về cả mặt lý luận và mặt
thực tiễn.
Như vậy, triết học có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc

con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.
Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống;
song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện
trong những điều kiện nhất định sau đây:
Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được
cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.
Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên
cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và
triết học ra đời.
Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực
tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.
1.2. Đối tượng của triết học
Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn
3


lịch sử.
Ngay từ khi mới ra đời, triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao
hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng. Đây là nguyên
nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa
học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại. Thời kỳ này, triết học đã đạt
được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển
của tư tưởng triết học ở Tây Âu.
Thời kỳ trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực
đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học. Nền triết học tự nhiên bị
thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp
trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri
thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc
biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các

Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi
khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ
thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách
tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học. Triết
học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận. Chính vì tính đặc thù như vậy của đối
tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây
ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay. Nhiều học thuyết triết học hiện đại
ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng
nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ
nghĩa, chú giải văn bản...
Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề
chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói
chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.
1.3. Vấn đề cơ bản của triết học
Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liên
5


quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và là điểm xuất phát để
giải quyết những vấn đề còn lại được gọi là vấn đề cơ bản của triết học. Theo
Ăngghen: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là
vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại".
Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm
xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác
định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.
Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái
nào quyết định cái nào?
Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
Trả lời cho hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành các trường

mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.
Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế
giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.
Các trường phái chính của triết học là sự diễn tả thế giới quan khác nhau, đối lập
nhau bằng lý luận; đó là các thế giới quan triết học, phân biệt với thế giới quan thông
thường.

1.4.2. Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm:
Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học
thành hai trường phái lớn. Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước
và quyết định ý thức của con người được coi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp
thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật. Ngược lại, những người cho
7


rằng, ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy tâm; họ hợp
thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật: Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật đã được thể hiện dưới ba
hình thức cơ bản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
+ Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật
thời cổ đại. Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật
chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể và những kết luận của nó
mang nặng tính trực quan nên ngây thơ, chất phác. Tuy còn rất nhiều hạn chế, nhưng
chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì nó đã lấy giới tự nhiên để
giải thích giới tự nhiên, không viện đến Thần linh hay Thượng đế.
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật,
thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đỉnh cao vào thế kỷ

Chủ nghĩa duy tâm triết học cho rằng ý thức, tinh thần là cái có trước và sản
sinh ra giới tự nhiên; như vậy là đã bằng cách này hay cách khác thừa nhận sự sáng
tạo ra thế giới. Vì vậy, tôn giáo thường sử dụng các học thuyết duy tâm làm cơ sở lý
luận, luận chứng cho các quan điểm của mình. Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa chủ
nghĩa duy tâm triết học với chủ nghĩa duy tâm tôn giáo. Trong thế giới quan tôn giáo,
lòng tin là cơ sở chủ yếu và đóng vai trò chủ đạo. Còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại
là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.
Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ
cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó
của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.
Cùng với nguồn gốc nhận thức luận, chủ nghĩa duy tâm ra đời còn do nguồn gốc
xã hội. Sự tách rời lao động trí óc với lao động chân tay và địa vị thống trị của lao
động trí óc đối với lao động chân tay trong các xã hội cũ đã tạo ra quan niệm về vai
trò quyết định của nhân tố tinh thần. Các giai cấp thống trị và những lực lượng xã hội
phản động ủng hộ, sử dụng chủ nghĩa duy tâm làm nền tảng lý luận cho những quan
9


điểm chính trị
- xã hội của mình.
Một học thuyết triết học thừa nhận chỉ một trong hai thực thể (vật chất hoặc tinh
thần) là nguồn gốc của thế giới được gọi là nhất nguyên luận (nhất nguyên luận duy
vật hoặc nhất nguyên luận duy tâm).
Trong lịch sử triết học cũng có những nhà triết học xem vật chất và tinh thần là
hai nguyên thể tồn tại độc lập, tạo thành hai nguồn gốc của thế giới; học thuyết triết
học của họ là nhị nguyên luận. Lại có nhà triết học cho rằng vạn vật trong thế giới là
do vô số nguyên thể độc lập tạo nên; đó là đa nguyên luận trong triết học (phân biệt
với thuyết đa nguyên chính trị). Song đó chỉ là biểu hiện tính không triệt để về lập
trường thế giới quan; rốt cuộc chúng thường sa vào chủ nghĩa duy tâm.
Như vậy, trong lịch sử tuy những quan điểm triết học biểu hiện đa dạng nhưng

khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng duy vật không
chỉ là lý luận về phơng pháp mà còn là lý luận về thế giới quan. Hệ thống quan điểm của
chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân tố định hớng cho hoạt động nhận thức và
thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phơng pháp luận.
Như vậy, trong triết học Mác - Lênin, thế giới quan và phơng pháp luận thống nhất
hữu cơ với nhau, làm cho triết học Mác trở thành chủ nghĩa duy vật hoàn bị, một "công cụ
nhận thức vĩ đại".
Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa triết học và khoa học; sự
phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết học. Ng ợc lại, triết học
Mác - Lênin đem lại thế giới quan và phơng pháp luận đúng đắn cho sự phát triển khoa
học.
Ngày nay, khi khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ thì sự gắn bó giữa triết
học Mác - Lênin và khoa học càng trở nên đặc biệt quan trọng. Lý luận triết học sẽ khô
cứng và lạc hậu nếu tách rời các tri thức khoa học chuyên ngành. Ngợc lại, nếu không
đứng vững trên lập trờng duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì trớc những phát
hiện mới, ngời ta dễ mất phơng hớng và đi đến những kết luận sai lầm về mặt triết học.
11


Đời sống xã hội hiện đại đang có những biến đổi sâu sắc; việc nắm vững triết học
Mác - Lênin giúp chúng ta tự giác trong quá trình trau dồi phẩm chất chính trị, tinh thần
và năng lực tư duy sáng tạo của mình, tránh những sai lầm do chủ nghĩa chủ quan và phơng pháp tư duy siêu hình gây ra.
Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là đơn thuốc vạn năng có thể giải
quyết mọi vấn đề trong cuộc sống. Bởi vậy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần
tránh cả hai khuynh hớng sai lầm: hoặc xem thờng triết học hoặc là tuyệt đối hóa vai trò
của triết học. Nếu xem thờng triết học sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với
những biện pháp cụ thể nhất thời, dễ mất phơng hớng, thiếu chủ động và sáng tạo. Còn
nếu tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng máy móc
những nguyên lý, quy luật chung mà không tính đến tình hình cụ thể trong những trờng
hợp riêng, dẫn đến những vấp váp, dễ thất bại.

2.2.1. Thế giới quan và phương pháp luận
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, tư tưởng khái quát của con người về
thế giới (bao gồm cả con người trong thế giới đó), về mối quan hệ giữa con người với thế
giới. Thế giới quan phản ánh hiện thực bên ngoài gián tiếp qua các nhu cầu, lợi ích, các lý
tưởng mang tính cá nhân hay xã hội. Tùy thuộc vào tính chất và phương thức biểu hiện có
thể có nhiều loại thế giới quan khác nhau, như: Thần thoại, tôn giáo, khoa học, đạo đức,
mỹ thuật, chính trị, triết học... Xét về phương thức biểu hiện, triết học là thế giới quan lý
luận, là hệ thống các tư tưởng được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn và nhận thức.
Xét về tính chất, triết học là sự khái quát chung nhất, mang đặc trưng tư duy tổng hợp.
Những quan điểm, tư tưởng khi trở thành niềm tin của con người, sẽ tích cực tham
gia vào định hướng thái độ của con người đối với các hiện tượng, các sự kiện quan trọng
trong hiện thực và trong đời sống, xác định “chỗ đứng của con người trong thế giới”. Đối
với triết học, những quan điểm tư tưởng ấy còn giúp hình thành nên các nguyên tắc cơ
bản chỉ đạo con người trong các hoạt động của mình để đạt được mục đích; hay nói cách
khác, là chúng thực hiện chức năng phương pháp luận. Phương pháp luận triết học, do
xuất phát từ những quan điểm, quan niệm chung nhất về thế giới, con người và xã hội,
13


nên cũng là phương pháp luận chung nhất. Nó nêu lên những điều kiện chung cần thiết để
giải quyết các vấn đề, các nhiệm vụ cụ thể, chứ không phải trực tiếp giải quyết chúng.
2.2.2.Vai trò của thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự
phát triển khoa học kinh tế
Vai trò thế giới quan và phương pháp luận chung của triết học đối với khoa học
kinh tế, được hầu hết các nhà khoa học thừa nhận. Vấn đề ở chỗ, nếu có ai đó cho rằng,
mình không cần đến một quan điểm triết học nào, thì như thế cũng đã là có một quan
điểm triết học rồi, song là một quan điểm triết học mơ hồ. Đây cũng chính là tư tưởng của
Ph.Ăgghen khi ông nói: “Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là những kẻ nô
lệ của những tàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của triết học”. Albert Einstein - một trong
những nhà khoa học xuất sắc nhất của thể kỷ XX không ít lần chỉ rõ các khái quát triết

những “vấn đề triết học”, nghĩa là xung quanh nó luôn tồn tại những quan điểm khác
nhau. Có thể thấy hai quan điểm nổi bật. Quan điểm thứ nhất, tuyệt đối hóa vai trò của
triết học, hạ thấp, coi thường vai trò của khoa học. Quan điểm thứ hai, tuyệt đối hóa vai
trò của các khoa học, hạ thấp hoặc gạt bỏ vai trò của triết học. Cả hai quan điểm này thực
chất là cực đoan, chúng chỉ phản ánh và tuyệt đối hóa một xu hướng nhất định đã có trong
lịch sử triết học và khoa học mà chúng tôi đã đề cập ở trên. Có thể nói, cách tiếp cận như
vậy về mối quan hệ giữa triết học và khoa học là biểu hiện của lối tư duy siêu hình – lối tư
duy, mà xét trong những điều kiện nhất định có thể được coi là chính đáng, cần thiết,
nhưng xét trong phạm vi phổ quát thì nó bộc lộ những hạn chế nhất định.
Sự ra đời chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đem đến một quan điểm mới, tích cực
về mối quan hệ giữa triết học và khoa học kinh tế. Mối quan hệ giữa triết học và khoa
học kinh tế là mối quan hệ biện chứng, thống nhất của các mặt đối lập. Tính đặc thù của
mối quan hệ này nằm ở chỗ, tùy từng giai đoạn phát triển cụ thể mà mặt này hay mặt kia
nổi trội, tác động của mặt này lên mặt kia không phải chỉ theo một hướng duy nhất.
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại với sự phát triển nhanh chóng của
khoa học cũng như những ứng dụng rộng rãi của nó trong thực tiễn đã và đang làm thay
15


đổi sâu sắc đời sống con người, góp phần làm bộc lộ những hạn chế của tư duy siêu hình.
Con đường duy nhất để khắc phục những giáo điều, những khuôn sáo, trì trệ trong nhận
thức và hành động là nắm chắc và vận dụng đúng phép biện chứng duy vật, vì phép biện
chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách
mạng.
KẾT LUẬN
Qua những nghiên cứu ở trên có thể thấy, triết học là một môn khoa học chung
nhất về tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh
tế, xã hội nói chung. Đặc biệt, đối với khoa học kinh tế, nó cũng thể hiện vai trò nhất
định, làm tiền đề, định hướng, từ đó làm ra đời những quy luật kinh tế, để các nhà quản lý
kinh tế có hướng, có căn cứ để vận hành sao cho hợp lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status