ỏn kinh t vựng
mục lục
cơ cấu kinh tế l nh thổ việt nam và vai trò của các vùng ã
kinh tế trọng điểm
I) Một số khái niệm cơ bản về vùng kinh tế và vai trò của các vùng kinh tế trọng
điểm
1) Khái niệm về cơ cấu lãnh thổ
1.1) Vùng đợc coi nh bộ phận cấu thành cơ cấu lãnh thổ
1.2) Các loại vùng kinh tế
a) Vùng kinh tế ngành
b) Vùng kinh tế tổng hợp
c) Vùng kinh tế trọng điểm
2) Cơ cấu các vùng kinh tế trọng điểm đóng góp vào phát triển kinh tế chung của
đất nớc.
2.1 Đồng bằng Sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
2.2 Miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
2.3 Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
2.4 Trung du và miền núi Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc)
2.5 Tây Nguyên
2.6 Đồng Bằng Sông Cửu Long
II) Khái quát tình hình phát triển các vùng kinh tế trọng điểm
1) Những kết quả chủ yếu
2) Những tồn tại cua việc thực hiện chủ trơng phát triển ở 3 vùng kinh tế trọng
điểm.
III) Kiến nghị phơng hớng thúc đẩy sự phát triển các vùng kinh tế trọng điểm trong
giai đoạn tới.
1) Đối với 3 vùng kinh tế trọng điểm cần điều chỉnh mục tiêu đến năm 2010
2) Điều chỉnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu t hớng vào mục tiêu tăng trởng kinh tế.
3) Điều chỉnh cơ cấu đầu t theo hớng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
4) Về phát triển nguồn nhân lực
5) Tăng cờng công tác chỉ đạo và điều hành thực hiện quy hoạch.
lẫn nhau và đến một lúc nào đó, hầu như không tồn tại các vùng kinh tế
2
Đề án kinh tế vùng
của một ngành, mà chỉ có các vùng kinh tế đa ngành phức tạp với các
sản phẩm đa dạng.
Các vùng kinh tế ngành có ý nghĩa quốc gia là cơ sở hoạch định
chính sách phát triển và phân bố của các ngành, là cơ sở để kết hợp kế
hoạch hoá và quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.
b) Vùng kinh tế tổng hợp
Vùng kinh tế tổng hợp là một vùng kinh tế đa ngành phát triển một
cách nhịp nhàng cân đối. Nó là một phần tử cơ cấu của nền kinh tế quốc
gia.
Sự chuyên môn hoá của vùng kinh tế tổng hợp được quy định bởi
các vùng kinh tế ngành tồn tại trong vùng kinh tế tổng hợp, mà sự
chuyên môn hoá của chúng có ý nghĩa đối với các vùng kinh tế tổng hợp
khác. Lực lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động xã hội
càng tỉ mỉ và phân công lao động theo lãnh thổ trong các ngành càng
sâu sắc sẽ làm cho cơ cấu kinh tế của các vùng kinh tế tổng hợp trở
thành sự chuyên môn hoá của nhiều ngành kinh tế trong vùng. Số ngành
chuyên môn hoá của các vùng kinh tế tổng hợp tăng lên không có nghĩa
là trình độ chuyên môn hóa của chúng giảm xuống, bởi vì sự chuyên
môn hóa của vùng phản ánh mối quan hệ của vùng với nền kinh tế của
cả nước hoặc với nhiều vùng kinh tế tổng hợp khác.
Vùng kinh tế tổng hợp có hai loại là: vùng kinh tế cơ bản và vùng
kinh tế hành chính.
+ Vùng kinh tế cơ bản: là vùng có diện tích rộng hơn, ngành sản
xuất chuyên môn hoá nhiều hơn và sự phát triển tổng hợp của vùng
cũng phức tạp hơn so với vùng kinh tế hành chính. Vùng kinh tế cơ bản
chỉ có ý nghĩa và chức năng kinh tế. Do đó, tác dụng chủ yếu của vùng
kinh tế cơ bản là giúp cho việc nghiên cứu lập các chương trình kế
các địa phương, các đô thị, các địa bàn, lãnh thổ, đặc biệt là các vùng
kinh tế trọng điểm ở 3 miền đang được xây dựng và hình thành từng
bước. Các vùng kinh tế trọng điểm đóng góp khoảng 50% giá trị GDP cả
4
Đề án kinh tế vùng
nước. 75-80% giá trị gia tăng công nghiệp và 60-65% giá trị gia tăng khu
vực dịch vụ. Nhịp độ tăng trưởng của các vùng phát triển đều đạt trên
mức trung bình cả nước, đóng vai trò tích cực thu hút và kích thích các
vùng khác cùng phát triển.
Trong nông nghiệp đã hình thành nhiều vùng sản xuất nông, lâm,
thuỷ sản hàng hoá quy mô lớn cả ở khu vực đồng bằng và trung du,
miền núi như các vùng sản xuất lương thực tập trung ở đồng bằng sông
Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, các vùng nuôi trồng thuỷ sản ở ven
biển, các trung tâm dịch vụ nghề cá ở vùng đồng bằng ven biển; các
vùng cây công nghiệp hàng hoá xuất khẩu cà phê, cao su, điều, dâu tằm
ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và chè, quế, hồi... ở Trung Du miền núi
Bắc Bộ. Vùng cây ăn quả trước đây mới hình thành ở đồng bằng Bắc Bộ
và đồng bằng sông Cửu Long nay đã phát triển cả ở Trung Du miền núi;
đóng góp tích cực trong việc phát triển và ổn định đời sống các tầng lớp
dân cư..
Gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường
trong nước và ngoài nước. Các làng nghề ở nông thôn được khôi phục
và phát triển mạnh.
Trong công nghiệp, một số khu công nghiệp, khu chế xuất đang
được triển khai xây dựng theo quy hoạch. Điều này có tác động tích cực
đến sự nghiệp phát triển công nghiệp nói chung và của vùng nói riêng.
Hiện tại đã có 66 khu công nghiệp, khu chế xuất được cấp giấy
phép và đang triển khai ở những mức độ khác nhau. Nhìn chung các
khu công nghiệp đã triển khai theo đúng định hướng và qui hoạch và đã
phát huy tác dụng, nổi bật là 16/17 khu công nghiệp được ưu tiên sớm
hoá,... Tuy tỷ lệ đô thị hoá ít biến động song dân số đô thị ngày càng
tăng. Vai trò của các đô thị có sự lan toả cả phạm vi không gian và biến
đổi về chất. ở đồng bằng ven biển, năm 1990 bình quân khoảng 900 km
2
diện tích tự nhiên có 1 đô thị, đến năm 1998 đạt khoảng 700 km
2
có một
6
Đề án kinh tế vùng
đô thị. ở Trung du miền núi 1200 km
2
có 1 đô thị, nay là 1000 km
2
có 1
đô thị.
Vùng còn khó khăn cũng có những tiến bộ đáng khích lệ, mức
sống của bộ phận đáng kể nhân dân được nâng lên. Các chương trình
hỗ trợ đầu tư của Chính phủ đã có tác động tích cực, theo con số tổng
hợp sơ bộ, từ năm 1992 đến 1998 tổng vốn Ngân sách Nhà nước hỗ trợ
cho nhiệm vụ phát triển miền Núi ước vào khoảng 3000 - 3200 tỷ đồng,
trong đó vốn đầu tư cho các chương trình quốc gia khoảng trên 2000 tỷ
đồng và đầu tư cho định canh định cư khoảng trên 500 tỷ đồng (cả thời
kỳ 1986-1997 khoảng trên 800 tỷ đồng). Nhiều mặt kinh tế - xã hội của
miền Núi đã có sự chuyển biến tốt. Dân trí của một bộ phận nhân dân
được nâng lên, khai hoang được khoảng 200 nghìn ha, trong đó đưa
vào sử dụng để trồng cây lâu năm khoảng 70 - 80%, diện tích rừng
được khoanh nuôi khoảng 3 triệu ha, trồng mới được khoảng 65-70 vạn
ha, hình thành nhiều điểm dân cư mới. Hầu hết các xã miền núi đã có
cơ sở y tế và trường học (tuy nhiên nhà tạm còn nhiều).
Các vùng kinh tế trọng điểm đã phát huy được thế mạnh và tiềm
2.1- Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
8
Năm
Vùng
Năm
Vùng
Năm
Vùng