Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TIỂU LUẬN
CÁC SINH VẬT ĂN THỊT VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG
TRONG ĐẤU TRANH SINH HỌC
CHUYÊN ĐỀ : ĐẤU TRANH SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN SINH HỌC
MÃ SỐ: 60140111
Cán bộ hướng dẫn: Học viên thực hiện:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
HUẾ - 2015
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 1 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
MỤC LỤC
I. Phần mở đầu………………………………………………………………………………………….3
II. Phần nội dung……………………………………………………………………………………… 3
1. Khái niệm ăn thịt: ………………………………………………………………………………… 3
2. Đặc trưng của các sinh vật ăn thịt……………………………………………………………………3
3. Các nhóm sinh vật ăn thịt chủ yếu………………………………………………………………… 3
A. CÔN TRÙNG ĂN THỊT SÂU HẠI……………………………………………………………… 3
2. Những nhóm côn trùng ăn thịt chủ yếu………………………………………………………………4
2.1. Họ bò rùa Coccinellidae( bộ cánh cứng Coleoptera……………………………………………….7
2.2. Họ bọ chân chạy Carabidae (thuộc bộ cánh cứng Coleoptera) ………………………………… 8
2.3. Họ bọ mắt vàng Chrysopidae ( bộ cánh mạch) ……………………………………………………8
2.4. Họ ruồi ăn rệp Syrphyde ( Bộ 2 cánh) …………………………………………………………….9
B. NHỆN ĂN THỊT SÂU HẠI……………………………………………………………………… 9
1. Nuôi nhện bắt mồi có sức tấn công nhện trắng và nhện đỏ son, bọ xít bắt mồi có sức tấn công bọ trĩ.
2. Nhện ăn thịt sâu hại…………………………………………………………………………………10
3. Nhện nước làm tổ trong những đám cỏ, rơm rạ mục trong ruộng lúa ngập nước hay ruộng cạn
kiện nhất định. Biện pháp này ít tốn kém không ảnh hưởng đến môi trường và đem lại
hiệu quả cho người nông dân.
II. Phần nội dung
1. Khái niệm ăn thịt: Là hiện tượng một loài (ăn thịt) săn bắt loài khác(con mồi) làm
thức ăn và thường dẫn đến cái chết của con mồi trong thời gian ngắn.
2. Đặc trưng của các sinh vật ăn thịt
- Loài ăn thịt có kích thước lớn hơn con mồi
- Loài ăn thịt tự tìm con mồi
- Để hoàn thành sự phát triển, mỗi cá thể ăn thịt phải tiêu diệt nhiều con mồi.
3. Các nhóm sinh vật ăn thịt chủ yếu
A. CÔN TRÙNG ĂN THỊT SÂU HẠI
- Nhóm 1: Loài có kiểu sống ăn thịt ở pha trưởng thành.
Thuộc nhóm này chủ yếu là các loài đa thực, số lượng không lớn. Phần lớn chúng đẻ
trứng ở ngoài nơi ở của con mồi.
- Đại diện có ở các họ: Bittacidae, Boreidae, Panorpidae
( Bộ Mecoptera) và bộ cánh cứng ngắn Staphilinidae, Formicidae thuộc bộ cánh
màng Hymenoptera.
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 3 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
Hình 1: Bộ Mecoptera
Hình 2: Bộ cánh màng(Hymenoptera)
- Nhóm 2: Loài có kiểu sống ăn thịt ở pha ấu trùng
- Ở pha trưởng thành chúng thường ăn mật hoa và phấn hoa, các cá thể cái đẻ
trứng ơ nơi có nhiều con mồi là thức ăn của ấu trùng.
- Đại diện cho nhóm này có các loài ruồi ăn thịt ở họ Cecidomiidae, Syrphidae,
Chamemyiidae và một số loài bọ mắt vàng ( Chrysopa carnea).
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 4 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
Hình 3: Ấu trùng thuộc họ cecidomiidae
Hình 4: côn trùng thuộc họ cecidomiidae
Hình 8: Bộ cánh cứng
1. Đặc điểm tập tính của côn trùng ăn thịt: Ấu trùng các loài côn trùng ăn thịt phải tự
tìm kiếm con mồi, chúng có cấu tạo, tập tính và thích nghi với việc săn mồi. Tuy vậy
việc tìm kiếm nơi ở con mồi là do cá thể cái trưởng thành quyết định, do chúng phải đẻ
trứng vào nơi có con mồi là thức ăn của ấu trùng. Vì vậy việc xác định nơi ở của loài
mồi là rất quan trọng. Thị giác và khứu giác( Cảm nhận hóa học) là 2 cơ quan giúp
chúng định hướng tìm đúng nơi ở con mồi.
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 7 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
2. Những nhóm côn trùng ăn thịt chủ yếu:
- Các loài CTAT thuộc 189 bộ của 16 bộ côn trùng. Bộ hai đuôi, bộ ba đuôi; chồn
chồn, cánh thẳng, bọ ngựa, cánh da , bọ trĩ, cánh nữa, cánh cứng, cánh mạch, hai
cánh…
- Có những bộ các loài đều ăn thịt như: Chuồn chuồn, bọ ngựa, cánh mạch; Có
nhiều họ các loài đều ăn thịt: Reduviidae, Asilide, Anthocoridae…
- Đóng vai trò quan trọng nhất trong ĐTSH phòng trừ dịch hại nông nghiệp là các
CTAT thuộc các bộ: cánh nửa, bọ trĩ, cánh cứng, cánh mạch, hai cánh và cánh
màng.
- Các họ quan trọng nhất là:
2.1. Họ bò rùa Coccinellidae( bộ cánh cứng Coleoptera):
+ Họ có ý nghĩa lớn trong ĐTSH và được sử dụng từ lâu.
+ Thế giới có 4.500 – 5000 loại bọ rùa, ở nước ta có ít nhất 246 loài bọ rùa trong đó có
160 loài có ích( tài liệu của Hoàng Đức Nhuận, 1979).
2.2. Họ bọ chân chạy Carabidae (thuộc bộ cánh cứng Coleoptera)
- Có vai trò lớn trong ĐTSH và đã được sử dụng từ thời trung cổ.
- Chúng có kích thước cơ thể nhỏ hoặc lớn( 2-25 mm). Có nhiều loài ăn thịt ở pha
ấu trùng và trưởng thành, thức ăn chủ yếu là các loài côn trùng.
Hình 9: côn trùng thuộc họ chân chạy
2.3. Họ bọ mắt vàng Chrysopidae ( bộ cánh mạch)
- Được sử dụng từ lâu.
lùn thích ở ruộng nước và kéo màng ở gốc cây lúa phía trên mặt nước. Nhện lùn di
chuyển chậm và bắt mồi chủ yếu là khi chúng mắc vào màng. - Thức ăn chủ yếu là rầy
nâu
3. Nhện nước làm tổ trong những đám cỏ, rơm rạ mục trong ruộng lúa ngập nước hay
ruộng cạn. Khi ruộng lúa xuất hiện bướm sâu đục thân, sâu cuốn lá hoặc rầy nâu, chúng
tìm đến dùng vòi hút chất dinh dưỡng bên trong con mồi. Gặp trứng rầy nâu, chúng ăn
từ 5 - 15 trứng/ngày. Mật độ nhện nước càng tăng khi số sâu hại tăng, từ đó khống chế
sâu hại không tăng quá lớn để phá hại cây trồng.
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 10 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
4. Nhện chân dài có thân và chân dài thường nằm trên lá lúa. Nhện chân dài thích ở
vùng ẩm, chúng ẩn ở thân cây lúa lúc giữa trưa và rình mồi ở lưới vào buổi sáng. Nhện
chân dài chăng lưới loại hình tròn nhưng rất yếu.Thức ăn chủ yếu là rầy nâu, sâu uốn
lá… - Nhện lưới có màu sặc sỡ và chăn màng hình tròn dưới tán cây lúa. Con cái có các
vạch vàng và xám trắng ở bụng. Con đực nhỏ hơn và có màu nâu đỏ. Ban ngày trời
nóng con đực, con cái tìm chỗ trú dưới lá bên cạnh lưới. Khi trời có mây che phủ con
cái chờ mồi ở giữa lá và con đực chờ gần đấy. Chủ yếu ăn các loại rầy và sâu hại lúa,
hoa màu
5- Nhện linh miêu là một loại nhện săn mồi, không làm màng. Con cái có 4 vạch trắng
chéo, mỗi bên 2 vạch. Con đực có súc biện to. Loài nhện này sống trong tán lá lúa,
thích sống ở ruộng khô và sinh sống trên ruộng lúa sau khi ruộng phát triển tán lá lúa và
đã có độ che phủ cao. - Nhện nhảy có mắt lồi, khi bị động chúng di chuyển không
nhanh, thân nhện nhảy có lông nâu. Nhện nhảy thích sống ở vùng đất khô và ở trên lá
lúa. Chúng thường ẩn trong màng, làm những lá lúa bị cuốn và cuốn những lá khác để
chúng nằm và chờ mồi (bọ rầy, rầy xanh và các côn trùng nhỏ).
C. ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG KHÁC ĂN THỊT CÔN TRÙNG
Nhóm này chưa được nghiên cứu nhiều, chủ yếu là các loài thủy tức và giun dẹp là có
triển vọng.
1. Thủy tức Hydrozoa:
- Thủy tức rất phong phú trong các đầm ao nước ngọt, chúng có khả năng tiêu diệt ấu
thứ tiếp theo. Cứ như vậy ruồi xám hạn chế được mật số các loài sâu cuốn lá lớn.
Bọ đuôi kìm Tên khoa học là Eborellia, có màu đen bóng, giữa các đốt bụng có khoang
trắng và có điểm trắng đầu râu. Chúng thường sống ở những ruộng khô và làm tổ dưới
đất ở gốc cây lúa. Mỗi con cái đẻ 200 - 350 trứng. Bọ đuôi kìm chủ yếu hoạt động vào
ban đêm. Chúng chui vào các rãnh do sâu đục thân đục để tìm sâu non hoặc trèo lên lá
tìm sâu cuốn lá. Chúng có thể ăn 20 - 30 con mồi/ngày.
-Bọ xít nước Tên khoa học là Veliide, là loài bọ xít nhỏ, có vạch trên lưng, có nhiều
trên ruộng lúa nước. Đối tượng của chúng là những con rầy non. Chúng ăn rầy non rơi
xuống nước. Mỗi con bọ xít nước ăn từ 4 - 7 con bọ rầy/ngày. -Bọ xít mù xanh Tên
khoa học là Cytorbinus, có màu xanh và đen, thường đẻ trứng vào mô thực vật, sau 2 -
3 tuần sẽ trưởng thành và có thể sinh sản từ 10 - 20 con non. Chúng thích ăn trứng và
sâu non của các loài rầy. Chúng tìm trứng rầy ở bẹ lá và thân, dùng vòi nhọn hút kho
trứng. Mỗi con ăn hết 7-10 trứng/ngày hay 1 - 5 con bọ rầy/ngày.
D. ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG ĂN THỊT SÂU HẠI
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 13 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
Hình 18: Những thiên địch thường gặp
1. Cá (Pisces)
- Những loài cá quan trọng được sử dụng một cách rộng rãi và có hiệu quả để trừ côn
trùng hại ( chủ yếu là bọ gậy) thuộc họ Poeciliidae và họ Cyprinodontidae.
- Đặc điểm: Sinh sản nhanh( Sức đẻ cao, chu kỳ vòng đời ngắn).
- Cá trưởng thành có kích thước nhỏ, chúng kiếm ăn trên lớp nước mặt và thích ăn bọ
gậy.
- Thí nghiệm cho thấy loài cá pachypanchax-playfairi (Họ Cyprinodontidae) là thiên
địch của muỗi. Ngoài ra loài Gambusia affinis có thể tiêu diệt khoảng 60% muỗi
anopheles quadrimaculatus ở Đông Nam Hoa Kỳ.
Hình 19: Cá Gambusia affinis
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 14 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
2. Động vật lưỡng cư (Amphibia)
- Các đại diện đáng chú ý:
a) Bộ chim sẻ Passeriformes
+ Có số lượng loài lớn nhất trong lớp chim.
+ Có nhiều loài ăn côn trùng và săn bắt chủ yếu vào thời kỳ nuôi con
VD: Mộ con chim mổ ruồi nhỏ Myscicapa hypoleuca để nuôi 6 con chim non trong 15
ngày có thể bắt được từ 1 đến 15kg các loài côn trùng
+ Các họ có nhiều loài chim ăn sâu là: Chim mổ ruồi Myscicapidae, chim nhạn
Hirundinidae, vàng anh oriolidae, chim chìa vôi Motacillidae…
+ Ngay các loài chằn hạt trong thời gian nuôi con cũng bắt côn trùng để ăn và
nuôi con như chim sẻ Passer, Sơn ca rừng(Alauda arborea), Sơn ca đồng A. arvensis…
b) Bộ chim gõ kiến Picariae.
- Có nhiều loài ăn côn trùng.
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 16 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
- Gõ kiến rừng thường tiêu diệt ấu trùng và côn trùng họ xén tóc, bọ cát đinh, mọt
Ipidae (cả trong thân cây gỗ)
c) Bộ cú vọ Striges:
- Các loài cú chuyên săn bắt các loài gặm nhấm.
- Diều( giống Circus) bắt các loài chuột.
d) Bộ chim tu hú( Cuculiformes): Có loài Cuculus canorus, chuyên ăn sâu non các loài
bộ cánh vẩy.
Người ta nhập nội thành công loài sáo Ấn Độ Acridotherestristis để trừ châu chấu đỏ
Nomadacris septemfasciata ở đảo Mauritius năm 1762
Để duy trì và bảo vệ các quần thể chim trong tự nhiên người ta đã dùng các biện pháp:
- Làm tổ cho chim trú ngụ, sinh đẻ trong mùa xuân, tránh rét vào mùa đông.
- Trồng thêm nhiều cây gỗ, cây bụi vào quần xã nông nghiệp( rừng phòng hộ, trồng cây
bờ vừng) để tạo nơi ở, nơi trú ngụ và hấp dẫn các loài côn trùng đến.
5. Động vật có vú (Mammalia).
- Số loài thú bắt côn trùng không nhiều, số lượng cá thể không lớn và phân tán rải rác
trong các vùng sống. Một số có thể gây hại cho nông nghiệp. Vì thế ý nghĩa của chúng
sâu hại làm thức ăn, người ta chia thành:
6.1.1. Nhóm bắt mồi ăn thịt
Tác dụng của nhóm này là ăn sâu hại. Thiên địch bắt mồi chủ yếu là các loài nhện và
một số côn trùng như bọ rùa, hổ trùng, kiến, bọ xít, muồm muỗm, dế nhảy, chuồn
chuồn, một số loài bọ xít Thiên địch là những sinh vật có ích có
thể tiêu diệt sâu hại và mầm bệnh như: chim sâu, chuồn chuồn, ếch nhái, ong mắt
đỏ…
6.1.2. Nhóm ký sinh
Con ký sinh đẻ trứng trên trứng hoặc trên cơ sở sâu hại, ấu trùng nở ra sẽ ăn trứng sâu
hoặc ăn sâu non. Các loài ký sinh có thể sống trên một hoặc một số loài sâu nhất định.
Nhóm ký sinh phần lớn là các loài ong nhỏ như ong ký sinh trứng sâu đục thân lúa, ong
ký sinh trên trứng rầy nâu, trên trứng sâu cuốn lá lúa, ong ký sinh trên sâu non sâu đục
thân lúa, sâu cuốn lá lúa, sâu năn….
6.1.3. Nhóm gây bệnh cho sâu
Nhóm này chủ yếu là các loài vi sinh vật như nấm, vi khuẩn, vi rút. Có nhiều trường
hợp các loài nấm có thể gây bệnh tiêu tới trên 90% số lượng rầy nâu trên lúa. Vi khuẩn
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 18 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
và vi rút làm nhiều loài sâu non bị chết thối nhũn (như với sâu khoang, sâu xanh trên
rau màu).
6.2. Vai trò của thiên địch trong việc hạn chế dịch hại.
Trên đồng ruộng có nhiều loài sinh vật là thiên địch của dịch hại, góp phần rất lớn trong
việc hạn chế sự phát triển của dịch hại trong tự nhiên, giữ thế cân bằng trong hệ sinh
thái đồng ruộng. Thực tế đã chứng minh có rất nhiều trường hợp dịch hại bị tiêu diệt
bởi thiên địch mà con người không cần dùng bất kỳ biện pháp nào.Trên ruộng lúa có
nhiều khi phát hiện tỷ lệ trứng sâu đục thân lúa bị ong ký sinh tới trên 90%. Sức ăn của
các loài thiên địch bắt mồi cũng rất lớn. Một con nhện Lycosa trưởng thành mỗi ngày
ăn từ 5 - 15 con rầy nâu, một con sâu non của bọ rùa 8 chấm mỗi ngày ăn từ 5 - 10 con
mồi. Một con kiến vàng mỗi ngày ăn từ 5 - 10 con rệp hại cam
Ong đen kén trắng (Apenteles Plutellea) ký sinh sâu non, tơ thường xuất hiện ngay từ
thuốc chọn lọc (có phổ tác dụng hẹp) thuốc ít độc hại với thiên địch, chỉ dùng thuốc trừ
sâu khi cần thiết (tới ngưỡng phòng trừ), dùng dạng thuốc hạt rơi xuống đất, không
dùng thuốc trừ sâu đã hạn chế hoặc cấm sử dụng.
- Tạo nơi cư trú cho thiên địch sau mỗi vụ gieo bằng cách trồng xen các hàng cây phù
hợp, trồng cây họ đậu hoặc để cỏ trên bờ ruộng.
- Thực hiện các biện pháp để giúp thiên địch phát triển như giữ cho ruộng luôn đủ hoặc
giữ nước trong ruộng lúa, gieo trồng với mật độ thích hợp.
III. KẾT LUẬN
Như vậy: Tiềm năng của biện pháp phòng trừ sinh học nói chung và sử dụng các sinh
vật ăn thịt nói riêng là rất lớn. Song bên cạnh những ưu điểm nổi bật như: tạo ra các sản
phẩm sạch cho người dùng, không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, không cần
phun nhiều lần mà vẫn duy trì được hiệu quả. Lợi dụng những loài có sẵn trong tự nhiên
để tiêu diệt các sinh vật gây hại. Nhưng hiện nay vẫn chưa tạo ra các loài sinh vật ăn
thịt với số lượng lớn và chưa sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp vì phương pháp sử
dụng các sinh vật ăn thịt diệt trừ sinh vật gây hại còn tác dụng chậm, số lượng sinh vật
gây hại phát triển nhanh còn số lượng sinh vật ăn thịt phát triển chậm. Cần phải khuyến
khích những nhà nông dân sử dụng biện pháp dùng sinh vật ăn thịt các sinh vật gây hại
nhiều hơn nữa và rộng rãi trong nông dân để thay thế thuốc trừ sâu hóa học.
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THUẬN 20 HV: HỒ THỊ HƯƠNG GIANG
Tiểu luận: Các sinh vật ăn thịt và vai trò của chúng trong đấu tranh sinh học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS. Hà Quang Hùng, Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp,
NXB Nông Nghiệp, 1998.
2. Nguyễn Văn Thuận, Bài giảng đấu tranh sinh học ứng dụng, Đại học sư phạm
Huế, 2003.
3. Phạm Thị Thùy, Công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật, NXB ĐHQG HN,
2004.
4. Các website có liên quan:
http://www.vista.gov.vn/nongthon/index.asp?mstl=765&type=2
http://khoahoc.tv/timkiem/bọ+ngựa+ăn+thịt+châu+chấu/index.aspx