vấn đề NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT học tây âu cận đại (4) - Pdf 47

***

TIỂU LUẬN
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC- LÊ NIN
VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU
CẬN ĐẠI

Học viên

:

Lớp

:

HÀ NỘI, THÁNG 12-2017

1


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……………………………………………………………….

1

NỘI DUNG
I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI
KỲ CẬN ĐẠI…………………………..............................................

3

2.3. Đề cao nhận thức lý tính...............................................................

16

KẾT LUẬN ……………………………………………………………

20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………

21

MỞ ĐẦU

Thời cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kỳ giai
cấp tư sản đã giành được thắng lợi chính trị (Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế
kỷ XVI; Cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVII và Cách mạng tư sản Pháp thế kỷ
XVIII). Trong số các cuộc Cách mạng tư sản Tây Âu, thì Cách mạng tư sản
2


Pháp (1789 - 1794) là cuộc cách mạng triệt để nhất - nó xóa bỏ toàn bộ chế độ
phong kiến trung cổ, xác lập nền cộng hòa tư sản Pháp.
Phương thức sản xuất tư bản được xác lập và trở thành phương thức sản
xuất thống trị, công nghiệp và kỹ thuật rất phát triển. Đây là thời kỳ chuyển từ
nền “ văn minh nông nghiệp” sang “văn minh công nghiệp”, là thời kỳ phát triển
mạnh mẽ thị trường, tạo ra thị trường thống nhất toàn quốc và mở rộng thị
trường quốc tế.
Khác với thời kì Phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước
Tây Âu là thời kì giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi về chính trị trước giai

thức kinh viện trung cổ, thì triết học thế kỷ XVIII, điển hình là triết học Khai
sáng Pháp, kết hợp phê phán tri thức với phê phán xã hội, từ đó hình thành hai
xu hướng vận động song song với nhau – cải tổ hoạt động tinh thần và cải tổ
môi trường xã hội. So với thời Phục hưng, giai cấp tư sản thế kỷ XVII – XVII
đóng vai trò lực lượng chính trị độc lập cách mạng, tập hợp xung quanh mình
các nhân tố tích cực, tiến bộ, tấn công trực diện vào chế độ phong kiến và nền
tảng tinh thần của nó, xác lập những chuẩn mực, giá trị mới, đon giản hóa các
quan hệ xã hội, phù hợp với sự vận động lịch sử. Thời Phục hưng thể hiện quá
trình chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản, còn thời đại mới
đã là thời đại của các cuộc cách mạng tư sản và sự hình thành xã hội tư sản, với
những đặc trưng mà xã hội trước đó chưa thể có được.
Phục hưng về cơ bản gắn liền với sự trở về những giá trị bị lãng quên, để
từ đó thực hiện sự nhận thức lại quá khứ và mở hướng cho tương lai. Thế kỷ
XVII – XVIII tiếp thu tinh thần mở đó, và làm cho nó trở nên hiện thực thông
qua cuộc cách mạng cơ cấu, nghĩa là cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi quan hệ
và cơ cấu xã hội, thay đổi hình thức và cơ chế quyền lực chính trị, phá vỡ các
đặc quyền đẳng cấp, thay đổi quan hệ giữa nhà nước và nhà thờ v.v.. Cách mạng
trong lý trí đi trước cách mạng trong lĩnh vực thực tiễn, các học thuyết triết học
thực hiện quá trình phê phán cái cũ, cái lỗi thời, xác lập cái mới, cái tiến bộ, xem
cái đang tồn tại, tức chế độ phong kiến và hệ tư tưởng của nó là cái phi lý, cũng
4


đồng thời là phi nhân tính, đòi hỏi thay thế nó bằng cái hợp lý – hơp nhân tính,
theo quan điểm phổ biến về sự thống nhất lý trí – nhân tính. Bacon, Descartes,
Spinoza, Locke, Montesquieu, Voltaire, Rousseau, Diderot, Holbach …đều bắt
đầu học thuyết của mình bằng tinh thần hoài nghi và phê phán như thế.
1.2. Liên minh giữa triết học và khoa học tự nhiên
Sự phát triển của triết học gắn kết chặt chẽ, hữu cơ với sự phát triển của
khoa học tự nhiên, thể hiện trình độ nhận thức chung của thời đại. Nhiều nhà

XVII – XVIII có những mặt tích cực nhất định, nhất là trong điều kiện các nhà
khoa học cần đến “những chứng cứ của lý trí” để chống các hình thức nguỵ tạo
khoa học và triết học kinh viện. Song phương pháp ấy lại tỏ ra không thích hợp
trong việc giải thích bản chất của thế giới đang biến đổi. Vấn đề là ở chỗ, trong
khi tìm hiểu những mặt, những thuộc tính của sự vật, những lĩnh vực của đời
sống, các nhà triết học và khoa học chưa vạch ra một cách thỏa đáng mối liên hệ
và tác động lẫn nhau giữa chúng, hoặc tuyệt đối hóa mặt nào đó, đồng thời lý
giải thiếu thuyết phục nguyên nhân, động lực của vận động và phát triển. Hình
thức thứ hai của chủ nghĩa duy vật, tức chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII
cũng chịu sự quy định của tính chất máy móc, siêu hình ấy, và được gọi là chủ
nghĩa duy vật máy móc – siêu hình, hay đơn giản là chủ nghĩa duy vật siêu hình.
1.3. Hình thành hai khuynh hướng chủ đạo trong nhận thức
Sự quan tâm đến nhận thức đáp ứng đòi hỏi của con người trong điều kiện
bùng nổ các khám phá và phát minh khoa học, phát triển lực lượng sản xuất. Có
thể xác định một số đặc trưng của lý luận nhật thức thế kỷ XVII – XVIII. Một
là, cùng với việc các khoa học cụ thể về tự nhiên và xã hội tách dần khỏi triết
học, đã diễn ra sự thay đổi tất yếu của đối tượng triết học: các nhà triết học ngày
càng tập trung sự chú ý vào việc giải quyết cùng lúc hai mặt của một vấn đề lớn,
mà thiếu một trong số chúng, triết học sẽ mất đi vai trò xã hội của mình – mặt
bản thể luận và mặt nhận thức luận – lôgíc học.
Hai là, sự thay đổi căn bản trong quá trình phát triển của khoa học tự
nhiên, sự xuất hiện ngày càng nhiều các phương pháp chuyên biệt đối với các
lĩnh vực khoa học tự nhiên và lịch sử đặt ra trước triết học nhiệm vụ khái quát
6


các thành quả của chúng và xây dựng phương pháp triết học chung của nhận
thức, cũng như làm sáng tỏ mối quan hệ giữa triết học với các khoa học chuyên
biệt. Nhu cầu phân tích mang tính nhận thức luận đối với các kết quả nghiên cứu
khoa học trở nên cấp bách, bởi lẽ các chất liệu tiềm tàng và đa dạng do khoa học

các quan điểm, các cách tiếp cận dường như đối lập nhau, đó là quan niệm hai
chân lý (chân lý khoa học và chân lý thần học, đức tin đều có chỗ đứng trong
tâm hồn con người), phiếm thần, thần luận tự nhiên. Tuy nhiên so với thời đại
trước, những liên hệ này không tỏ ra nặng nề, thậm chí mang ý nghĩa tích cực
nhất định: 1) phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội hiện có; 2) các nhà triết học
đôi khi sử dụng phiếm thần và thần luận tự nhiên trong cuộc đấu tranh vì tự do
tín ngưỡng và tôn vinh những giá trị của con người. Điều này giải thích vì sao
trong chủ nghĩa duy vật hiện diện đầy đủ các phương án vừa nêu, từ Bacon,
Descartes đến Spinoza, Locke, phần lớn các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII.
Hình ảnh Thượng đế trong nhiều trường hợp trở thành biểu tượng cao nhất của
sự hoàn thiện lý trí. “Tự nhiên thần luận, ít ra là đối với nhà duy vật, chỉ là một
phương pháp thuận tiện và dễ dàng để thoát khỏi tôn giáo”1.
1.4. Tư tưởng nhân văn, khai sáng
Tư tưởng nhân văn, khai sáng làm nên một trong những nội dung cốt lõi
của triết học Cận đại. Quan điểm của Bacon về xã hội lý tưởng, được xây dựng
trên cơ sở “quyền lực của tri thức” cho đến nay vẫn còn ý nghĩa thời sự. Nếu
Bacon tuyên bố “tri thức là sức mạnh”, thì Hobbes nhấn mạnh rằng quyền lực
cần phải hàm chứa yếu tố tri thức, nghĩa là được xác lập trên sự hiểu biết bản
chất con người, hướng đến mục tiêu ổn định chính trị, chủ quyền quốc gia và
thống nhất ý chí toàn dân. Locke trở thành người đặt nền móng cho quan điểm
nhà nước pháp quyền, được các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII phát triển và
hoàn thiện ở đêm trước của cách mạng tư sản. Hình ảnh “con người lý trí” và
“nhà nước hợp lý tính”, quan niệm về tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ … không
chỉ gợi mở con đường đi tới một trật tự xã hội khác với chế độ phong kiến “phi
lý” và phi nhân tính, ngự trị suốt hàng ngàn năm, mà còn là mục tiêu phấn đấu
của nhiều dân tộc. Một số phác thảo của các nhà khai sáng về mô hình xã hội
1

C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.2, CTQG, HN, 1995, tr. 197.


biểu lớn nhất. Tiến hành phê phán triết học kinh viện Trung cổ từ lập trường lý
9


luận của hai nhà triết học duy vật này, song, Ph.Bêcơn không phủ định thần học
một cách tuyệt đối. Ông để lại cho thần học một lĩnh vực nghiên cứu – đó là
Thượng đế và phương tiện tiếp xúc với Thượng đế là niềm tin và sự mặc khải.
Tuy nhiên, lý luận hai chân lý ở Ph.Bêcơn đã cho thấy thái độ phê phán
của ông đối với hệ tư tưởng phong kiến. Ông coi hệ tư tưởng phong kiến chính
là cái đã hạn chế quyền lực của lý tính con người. Đối tượng chủ yếu của triết
học, theo ông, là giới tự nhiên, còn các phương tiện để đạt đến sự nhận thức giới
tự nhiên là lý trí, lý tính, trí nhớ, ý nguyện của con người. Trong khi nghiên cứu
tự nhiên và con người, triết học cần dựa vào các phương tiện nhận thức khoa học
là kinh nghiệm và sự quan sát. Do vậy, có thể coi quan niệm về hai chân lý của
Ph.Bêcơn là sự luận chứng triết học cho quan hệ giữa con người và giới tự
nhiên, là ý định đầu tiên nhằm gạt bỏ mối quan hệ đó ra khỏi các mưu đồ của
thần học.
Thần luận là hình thức phê phán triết học phổ biến nhất đối với tôn giáo ở
thế kỷ XVII. Xu hướng cơ bản của nó là “giảm thiểu” vai trò của Thượng đế,
coi Thượng đế chỉ là nguyên nhân đầu tiên cho sự xuất hiện một thế giới phát
triển theo các quy luật riêng của nó. Giới tự nhiên (trừ thời điểm xuất hiện) tồn
tại khách quan, vận động theo các quy luật tự nhiên vốn có của nó. Về phương
diện nhận thức luận, giới tự nhiên được nhận thức là khách thể tự nhiên chung.
Con người là một thực thể tự nhiên; lý tính là đặc tính riêng, vốn có ở con
người. Lý tính, theo R.Đêcáctơ, là sức mạnh do tự nhiên gieo trồng vào trí tuệ
con người(2).
Điều đó cho thấy, trong quan niệm của R.Đêcáctơ về lý tính con người,
ngoài tư tưởng về bản chất tự nhiên của năng lực tư duy hợp lý, còn bao hàm tư
tưởng về sự bình đẳng của con người đối với năng lực tư duy ấy. Quan niệm như
vậy về lý tính con người cho phép xem xét cá nhân trừu tượng với tư cách chủ

sâu xa và vững chắc của nhận thức và hành động. Bản thân tên gọi tác phẩm của
R.Đêcáctơ - “Mặc tưởng về phương pháp để điều khiển tốt lý tính của mình và
tìm kiếm chân lý trong khoa học” đã cho thấy rõ mục đích nghiên cứu của ông.
Nguyên tắc hoài nghi phổ biến đối với R.Đêcáctơ là phương tiện tìm kiếm
các cơ sở nền tảng của quan hệ nhận thức giữa con người và thế giới. Việc
11


nghiên cứu nguồn gốc của nhận thức và năng lực tư duy của chủ thể nhận thức
đã đưa R.Đêcáctơ đến tư tưởng khẳng định tính thiết yếu của sự hoài nghi trong
mọi lĩnh vực nghiên cứu. Phân tích một cách sâu sắc các vấn đề này, R.Đêcáctơ
đi đến kết luận về tính hạn chế của sự phản ánh bằng cảm tính, về tính ảo tưởng
của nó và đôi khi còn là tính vô căn cứ hoàn toàn của nó. Hạn chế của nhận thức
cảm tính, theo ông, không thể khắc phục được bằng việc hoàn thiện kỹ thuật.
Thí nghiệm có thể giúp đỡ cho con người phát hiện ra các quy luật của tự nhiên,
nhưng nó cũng là phương tiện không đầy đủ, vì sự tác động của các sự vật tự
nhiên bao giờ cũng phụ thuộc vào các giác quan nhất định. Theo R.Đêcáctơ,
nguyên nhân cơ bản sinh ra tính hạn chế của nhận thức cảm tính là ở chỗ, cảm
giác có quan hệ với “liên minh giữa thể xác con người và tâm hồn”, cảm giác
thực hiện vai trò của cái có thể chỉ ra giá trị của sự vật đối với con người và chỉ
“đôi khi và một cách ngẫu nhiên, nó mới cho thấy thể xác tự nó là gì”(3).
Tri thức về khách thể được hình thành bởi lý tính và bằng con đường phân
tích, theo R.Đêcáctơ, cũng là hạn chế và không hoàn toàn đáng tin cậy. Bởi
không có gì bảo đảm rằng giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức không
được trung gian hóa bởi Đấng toàn năng (Thượng đế). Thượng đế đã đặt giữa
chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức một thế giới ảo thay cho các sự vật
hiện thực. Do sự trung gian hóa này, R.Đêcáctơ khẳng định, con người không
thể coi tri thức về bản chất đơn giản của sự vật là chân lý đáng tin cậy. Con
người chỉ có thể tin vào chính bản thân mình, vào lôgíc của lý tính của riêng
mình.

thân mình.
Xét về phương diện này thì việc phân tích luận điểm “Tôi tư duy, vậy tôi
tồn tại” của R.Đêcáctơ có một ý nghĩa đặc biệt. “Tôi tư duy…” ở R.Đêcáctơ cho
thấy, ông chủ trương chống lại thần học, “gột rửa” quan hệ nhận thức của con
người với giới tự nhiên và với chính bản thân mình khỏi mọi cái siêu nhiên, mọi
cái trung gian, thần bí. Theo nghĩa đó thì “Tôi tư duy…” của R.Đêcáctơ có thể
được hiểu là “Người tư duy là Tôi, chứ không phải là Thượng đế”. “Tôi tư
duy…” còn cho thấy có sự hiện diện của chủ thể có ý thức (Tôi tư duy về thế
giới) và sự hiện diện của tự ý thức (Tôi khẳng định rằng tôi đang tư duy). Luận
13


điểm này cho thấy, R.Đêcáctơ đề cao cả lý tính với tư cách “ánh sáng tự nhiên”
lẫn lý tính với tư cách tự ý thức và là cái có khả năng giám sát “ánh sáng tự
nhiên” đó, làm cho nó phù hợp với các quy luật của tự nhiên. Với quan niệm đó,
R.Đêcáctơ khẳng định chủ thể nhận thức là chủ thể có ý thức về đối tượng và ý
thức về chính bản thân mình. Rằng, sự tương tác giữa ý thức về đối tượng và ý
thức về bản thân mình thực hiện chức năng sáng tạo của nhận thức con người.
Luận điểm “Tôi tư duy…” của R.Đêcáctơ đã đi vào lịch sử triết học với tư
cách một câu phương ngôn, có nội dung và ý nghĩa sâu sắc. Luận điểm ấy biểu
thị xu hướng định hướng nhận thức về phía chủ thể hiện thực, tức là chuyển từ
Thượng đế sang con người. Nói cách khác, ông chuyển tính chủ động trong
nhận thức, các năng lực và khả năng nhận thức thế giới khách quan cho con
người. Trong quá trình nhận thức, con người quan sát giới tự nhiên, con người là
tác giả của các giả thuyết và là người tổ chức kiểm tra các giả thuyết, xây dựng
các học thuyết lý luận. Nghiên cứu những đặc điểm của quan hệ nhận thức, con
người có khả năng lựa chọn và xây dựng các phương tiện nhận thức, nghiên cứu
các điều kiện đảm bảo sự phù hợp của tư duy với các quy luật của bản thân giới
tự nhiên.
Các tác giả của học thuyết về phương pháp không dừng lại ở việc khẳng

và cùng với phép diễn dịch, nó phải thực hiện nhiệm vụ duy trì nội dung khách
quan của các tiền đề lý luận trong quá trình nhận thức.
Các luận điểm cơ bản trong học thuyết về phương pháp nhận thức của
R.Đêcáctơ đã được ông cụ thể hóa bằng các quy tắc:
1/ Không thừa nhận bất kỳ cái gì là chân lý trước khi thừa nhận nó là một
chân lý hiển nhiên. Nghĩa là phải cố tránh sự vội vàng và định kiến, chỉ nên đưa
vào phán đoán của mình những gì mà đối với trí tuệ là rõ ràng và hiển nhiên.
2/ Chia mỗi sự vật phức tạp, trong chừng mực có thể làm được, thành các
bộ phận để có được sự tiện lợi nhất trong việc nghiên cứu chúng.
3/ Trong quá trình nhận thức, chủ thể nhận thức cần phải xuất phát từ
những đối tượng đơn giản nhất và dễ nhận thức nhất, đi dần theo các thang bậc
cho tới khi nhận thức được các đối tượng phức tạp nhất.
15


4/ Cần phải xem xét mọi dữ kiện, không được phép bỏ qua bất cứ một tư
liệu nào trong quá trình nhận thức sự vật.
Chủ thể nhận thức chỉ có thể hoàn thành các chức năng nhận thức trong
quá trình nhận thức sự vật trên cơ sở tự ý thức. Vai trò đó của tự ý thức được
R.Đêcáctơ thể hiện rõ trong luận điểm “Tôi tư duy…”. Luận điểm này vạch ra
cấu trúc nội tại của ý thức đang nhận thức – “Tôi tư duy” một cách đồng thời
trên hai bình diện: “Tôi tư duy về thế giới” và “Tôi khẳng định rằng tôi đang tư
duy”. Do vậy, ý thức của con người là sự thống nhất của hai phương diện: ý thức
về đối tượng và ý thức về bản thân mình.
Như vậy, có thể nói, tính tích cực của chủ thể nhận thức đã được các nhà
triết học Tây Âu Cận đại nêu ra, nhưng họ không thể chứng minh được trong
khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm. Trong suy
luận của các nhà triết học này, nhận thức của chủ thể dường như chưa với tới
bản thân thế giới, chưa nắm bắt được phương thức giải quyết bằng vật chất đối
với các mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể, xã hội và tự nhiên, cá nhân và xã

phê phán mọi quyền uy tinh thần trong tất cả các lĩnh vực. Triết học Khai sáng
Pháp - sự chuẩn bị trưc tiếp về mặt lý luận cho cách mạng tư sản Pháp - là bước
phát triển cao độ của định hướng phê phán trên cơ sở khoa học. Bản thân vấn đề
“Khai sáng là gì” từng là chủ đề của cuộc tranh luận sôi nổi giữa các nhà Khai
sáng. Tuy câu trả lời là rất phong phú, song có một điểm chung thống nhất: tất
cả đều thừa nhận thời đại Khai sáng là “thời đại của lý tính”. Quả vậy, thời đại
Khai sáng đã đem lại cho lý tính quyền uy cao nhất, biến nó thành toà án xét xử
tối cao. Lý tính cung cấp tiêu chuẩn để phê phán mọi niềm tin, luật pháp, các tác
phẩm nghệ thuật, những kinh sách thiêng liêng. Trước toà án lý tính, không có gì
là không thể phê phán hay bất khả xâm phạm, không có gì là tuyệt đối thiêng
liêng hay không thể sụp đổ - ngoại trừ bản thân lý tính.
Vậy, lý tính thực chất là gì mà nó được gán cho những sức mạnh ghê gớm
như vậy? Trong suốt thời Cận đại, nhiều quan niệm về lý tính đã xuất hiện,
nhưng có hai quan niệm cơ bản:
17


Thứ nhất, lý tính được hiểu là một năng lực phê phán hay năng lực thẩm
định mọi niềm tin theo những bằng chứng hiển nhiên.
Thứ hai, lý tính là một năng lực lý giải các sự kiện như những trường hợp
riêng của các quy luật mà khoa học đã mang lại.
Nếu quan niệm thứ nhất gắn với khuynh hướng duy lý thì quan niệm thứ
hai gắn với khuynh hướng chủ nghĩa tự nhiên khoa học. Cả hai trường hợp này
vẫn nằm trong phạm trù lý tính. Song, với khuynh hướng thứ nhất, lý tính được
giả định là một năng lực tự trị mang sẵn trong mình những tiêu chuẩn hiển
nhiên; trong khi đó, ở khuynh hướng thứ hai, lý tính được đồng nhất với khoa
học tự nhiên. Chúng tôi muốn lưu ý rằng, không phải chỉ có các nhà duy lý mới
đề cao lý tính và biểu hiện của hai quan niệm trên ở mỗi triết gia là rất phức tạp.
Những vết rạn đầu tiên xuất hiện ngay trong bản thân mỗi quan niệm về
lý tính và do đó, ngay trong mỗi khuynh hướng triết học lấy chúng làm cơ sở.

và giới hạn của tri thức nói chung. Lịch sử cho thấy sự phát triển của nhận thức
luận từ Lốccơ đến Hium và Béccơli ở Anh, từ Đêcáctơ đến Malơbrăngsơ và
Côngđilác ở Pháp, từ Lépnít đến I.Cantơ ở Đức đều nảy sinh từ yêu cầu phải
thiết lập sự phê phán chặt chẽ và có hệ thống.

19


KẾT LUẬN
Như trên đã nói, Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của Tây Âu
trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Đó là sự phát triển tiếp tục của chủ nghĩa
tư bản, của khoa học và tư tưởng, trong đó có chủ nghĩa duy vật triết học, nhưng
với những đặc điểm mới. Do vậy nó cũng quy định tính đặc thù riêng vốn có về
nhận thức luận ở thời kỳ này.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng duy vật, vô thần của thời cận
đại, chủ nghĩa duy tâm và thần học buộc phải có những bước cải cách nhất định.
Nhu cầu ấy đã được phản ánh đặc biệt rõ nét trong triết học duy tâm chủ quan
của nhà triết học thần học G.Béccli.

20


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.2, CTQG, HN, 1995, tr. 197.
2. Nguyễn Hữu Vui. Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
3. Ph. Bêcơn. Tác phẩm gồm 2 tập. Nxb Tư tưởng, Mátxcơva, 1971.
4. R.Đêcáctơ. Các quy tắc để chỉ đạo trí tuệ. Nxb Chính trị Quốc gia, Mátxcơva
1950.
5. R.Đêcáctơ. Tuyển tập. Nxb Chính trị Quốc gia. Mátxcơva 1964.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status