Vấn đề bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức cuối thế kỷ XIX - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

NGUYỄN CHÍ HIẾU

VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN
TRONG TRIẾT HỌC DUY TÂM CỔ ĐIỂN ĐỨC
CUỐI THẾ KỶ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI – 2010 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 18
Chương 1: BẢN THỂ LUẬN VÀ CÁC TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA BẢN THỂ LUẬN
TRONG TRIẾT HỌC DUY TÂM CỔ ĐIỂN ĐỨC 18
1.1. Khái niệm "bản thể luận" 18
1.2. Những điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị cho sự hình thành
bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức 37
1.3. Những tiền đề lý luận của bản thể luận trong triết học duy tâm
cổ điển Đức 45
1.3.1. Chủ nghĩa duy lý Đềcáctơ 45
1.3.2. Đơn tử luận Lépnít 50
1.3.3. Bản thể luận Vônphơ 56
Kết luận chương 1 63
Chương 2: BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC DUY TÂM CỔ ĐIỂN ĐỨC -
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
65
2.1. Triết học siêu nghiệm - nội dung bản thể luận Cantơ 65
2.2. Văn hóa tinh thần - đối tượng phản tư của bản thể luận Phíchtơ và
Sêlinh 88
2.3. Lôgíc của nhận thức khoa học về "tồn tại" - định hướng cơ bản của
bản thể luận Hêghen 109
Kết luận chương 2 129
Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA BẢN THỂ LUẬN DUY TÂM CỔ ĐIỂN ĐỨC
TỚI HUXÉC VÀ HAIĐƠGƠ - NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN
CHẾ 131

). Mỗi một thời
đại lịch sử đều sản sinh ra một số vĩ nhân. Họ là những vĩ nhân vì họ vượt lên
trên cuộc sống của con người phàm tục và dành toàn bộ nỗ lực thể chất cũng
như tinh thần cho công việc tìm kiếm những căn nguyên của nhân tính và rốt
cuộc, mỗi vĩ nhân đều khám phá ra một hay một số căn nguyên, giá trị nền
tảng của tồn tại người, khám phá ra những cái mà thiếu chúng thì nhân tính
không thể tồn tại, con người không thể làm Người.
Nghiên cứu các thời đại lịch sử bản thể luận không những đem lại cho
chúng ta bức tranh cô đọng, súc tích, chuẩn xác về tiến trình phát triển của bản
thân triết học, mà còn cho phép chúng ta nhận thấy các thang bậc kế tiếp nhau
trong công cuộc khám phá và hiện thực hoá bản chất loài của loài người thông
qua những giá trị tinh thần căn bản nhất. Đồng thời, việc nghiên cứu lịch sử
triết học nói chung, lịch sử bản thể luận nói riêng chính là con đường hữu hiệu
nhất giúp chúng ta nâng cao được năng lực tư duy lý luận. Năng lực ấy có vai
trò cực kỳ quan trọng, vì một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa
học thì không thể không có nó (Ph.Ăngghen).
Lịch sử loài người là một tiến trình thống nhất, vì đây là lịch sử của một
loài sinh vật đặc biệt. Cho dù mỗi dân tộc đều có văn hoá độc đáo của mình
như hình thức biểu thị "cái Ngã" riêng của mình, song mỗi dân tộc đều là một 
Xem thêm phần "Bản chỉ dẫn tên người" ở cuối luận án. 2
thành viên của loài người, do vậy đều tồn tại và phát triển dựa trên những giá
trị chung. Những giá trị như vậy được kết tinh lại trong lịch sử triết học nói
chung và đặc biệt là trong lịch sử bản thể luận nói riêng. Các quá trình toàn
cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi mỗi dân tộc phải chủ động hội nhập,

khác. Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy, nhưng đáng tiếc là cho đến nay,
vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta.
Như chúng ta đã biết, triết học duy tâm cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII -
nửa đầu thế kỷ XIX không chỉ là nguồn gốc lý luận trực tiếp cho sự ra đời của
triết học Mác, mà còn có ảnh hưởng mạnh mẽ và dài lâu tới nền triết học
phương Tây hiện đại, trong đó vấn đề bản thể luận đóng vai trò nền tảng cho
việc xây dựng hệ thống triết học. Hơn nữa, bản thể luận trong triết học duy
tâm cổ điển Đức biểu thị những tiền đề tư tưởng, những giá trị văn hoá nhân
văn cần thiết cho xã hội hiện đại được hiểu theo đúng nghĩa của từ này, vì các
triết gia cổ điển Đức có sứ mệnh trang bị tư tưởng cho công cuộc hiện đại hoá
nước Đức, đưa nước Đức thoát ra khỏi xã hội phong kiến trì trệ và lạc hậu, bị
giam cầm trong những xiềng xích tư tưởng giáo điều và cổ hủ. Do vậy, để tiếp
thu có sàng lọc những thành tựu của xã hội phương Tây hiện đại, việc nghiên
cứu bản thể luận của nó nói chung và bản thể luận duy tâm cổ điển Đức nói
riêng có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Với những lý do đó,
chúng tôi chọn "Vấn đề bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức cuối
thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX" làm đề tài nghiên cứu trong luận án Tiến
sĩ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về triết học cổ điển
Đức được công bố. Tuy nhiên, có thể khái quát những thành quả nghiên cứu
đó ở ba loại hình chủ yếu sau: 4
Loại hình thứ nhất là những cuốn sách, Kỷ yếu Hội thảo và các bài báo
được đăng tải trên các tạp chí (chủ yếu là trên tạp chí Triết học). Đó là các
công trình: Triết học Imanuin Cantơ (Kant) của Nguyễn Văn Huyên (1996);
I.Cantơ - người sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Viện Triết học (1997),
Triết học Cantơ của Trần Thái Đỉnh (tái bản năm 2005); hay các công trình

lầm trước đây.
Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu lịch sử triết học nói
chung và triết học cổ điển Đức nói riêng, năm 1996 Viện Triết học thuộc
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia cho xuất bản cuốn sách
Triết học Imanuin Cantơ của tác giả Nguyễn Văn Huyên. Tác giả đã phân tích
khá sâu những nội dung cơ bản của nhận thức luận Cantơ, đồng thời khi đề
cập đến các ý niệm của lý tính (mà thực ra là đối tượng của khoa siêu hình học
chuyên ngành), tác giả có nhắc đến tư tưởng của Cantơ cho rằng, siêu hình
học bao giờ cũng là khoa học cần thiết cho cuộc sống con người, nhưng đó
quyết không phải là khoa học lý thuyết thuần tuý. Và, để trở thành một siêu
hình học khoa học thực sự cần thiết cho con người thì tự nó phải chuyển lý
tính lý thuyết thuần tuý sang lý tính thực tiễn - đạo đức.
Năm 1997, Viện Triết học thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân
văn quốc gia đã tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn sách I.Cantơ - Người sáng
lập nền triết học cổ điển Đức. Đây là cuốn sách tập hợp nhiều bài viết có chất
lượng về các nội dung khác nhau của triết học Cantơ, cũng như ảnh hưởng của
nó đối với triết học phương Tây hiện đại. Đáng chú ý là bài viết của tác giả
Đặng Hữu Toàn đã đi sâu vào phân tích "siêu hình học Cantơ - một học thuyết
về các mối quan hệ", chỉ ra điểm khác biệt của bản thể luận trong siêu hình
học tiên nghiệm Cantơ so với mọi thứ bản thể luận trong siêu hình học truyền
thống ở chỗ nó là thứ "bản thể luận lý tính", "bản thể luận con người" - "bản
thể luận về lý tính con người". Từ đó, tác giả đã so sánh bản thể luận Cantơ
với bản thể luận "quan hệ xã hội" của Mác, vạch ra những đóng góp và khiếm
khuyết chủ yếu của nó. Các tác giả Nguyễn Đình Tường, Đỗ Minh Hợp, Ngô
Quang Phục đã nhấn mạnh đến ảnh hưởng của triết học Cantơ tới một loạt các
nhà triết học và các trường phái triết học phương Tây hiện đại như: 6
Sôpenhauơ (Schopenhauer), Nítsê (Nietzsche), Huxéc (Husserl), Haiđơgơ,

bản chất", là học thuyết về lý tính tuyệt đối và vô hạn.
Triết học cổ điển Đức cũng đã thu hút được sự quan tâm nhiều hơn của
các nhà khoa học thông qua Hội thảo quốc tế: Triết học cổ điển Đức - những
vấn đề nhận thức luận và đạo đức học diễn ra từ 21 - 22/12/2004 tại Trường
Đại học KHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội nhân kỷ niệm 200 năm ngày
mất của Cantơ (Kết quả của Hội thảo có quy mô lớn này đã được in thành Kỷ
yếu Hội thảo quốc tế năm 2006). Các bài viết tập trung nghiên cứu làm rõ bản
chất nhận thức luận và đạo đức học của các nhà triết học cổ điển Đức, phân
tích ảnh hưởng của triết học cổ điển Đức đối với sự hình thành triết học Mác
và các trào lưu triết học phương Tây hiện đại khác sau này.
Liên quan trực tiếp tới đề tài luận án là bài viết "Bản thể luận Huxéc với
chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Cantơ" của tác giả Đỗ Minh Hợp. Cùng xuất
phát từ tính chủ quan, từ ý thức, nhưng trong khi Cantơ cố xem xét các
phương tiện nhận thức của tính chủ quan, thì Huxéc lại muốn hiểu và mô tả
bản thân tính chủ quan, ý thức như một thực tại đặc biệt (tính quy định văn
hoá của tồn tại người) - cái thể hiện ra như là cơ sở thứ nhất tạo ra nghĩa ban
đầu cho mọi hình thức hoạt động của con người. Theo tác giả, có thể nói rằng,
bước tiến lớn của bản thể luận Huxéc so với chủ nghĩa tiên nghiệm Cantơ
chính là ở chỗ, Huxéc lần đầu tiên đã cố gắng khám phá ra một cách tiếp cận
đặc thù triết học - bản thể luận văn hoá, tức là cố vạch ra và mô tả các cội
nguồn văn hoá của tồn tại người.
Trong bài viết "Tư tưởng của I.Cantơ về sự thống nhất của lý luận nhận
thức, đạo đức học trong nhân học", tác giả Nguyễn Vũ Hảo đã cố gắng luận
giải quan điểm của Cantơ coi triết học chính là nhân học và coi lý luận nhận
thức, đạo đức học và các bộ môn triết học khác như những bộ phận không thể
tách rời của nhân học triết học. Qua phân tích nội dung cơ bản tác phẩm Nhân 8
học từ góc độ thực tiễn (1798) của Cantơ, tác giả Nguyễn Vũ Hảo đã cho thấy

Đức, xuất bản năm 2006. Điều đáng tiếc là tác giả mới chỉ điểm qua một cách
rất sơ lược triết học của Phíchtơ và Sêlinh (Schelling), chưa đi sâu vào phân
tích nội dung. Tác giả nghiêng nhiều về việc trình bày lý luận nhận thức và
học thuyết phạm trù của triết học Cantơ, mà chưa đề cập tới vấn đề bản thể
luận trong triết học của ông. Và, trong phần trình bày về triết học Hêghen,
mặc dù đã đề cập tới nội dung của Khoa học lôgíc - "sự biến tướng của siêu
hình học" (nhất là đã đi sâu phân tích nội dung Học thuyết về tồn tại), song tác
giả lại chủ yếu phân tích và đánh giá từ giác độ phép biện chứng. Tác giả Lê
Công Sự cũng đề cập khá đầy đủ và có hệ thống nội dung cũng như bản chất
khoa học của Học thuyết phạm trù trong triết học I.Cantơ (2007), đánh giá cả
những thành công và khiếm khuyết của nó. Không chỉ thế, tác giả còn chú
trọng phân tích những ảnh hưởng của học thuyết phạm trù Cantơ đối với triết
học Hêghen, triết học Mác - Lênin và triết học phương Tây hiện đại. Tuy
nhiên, tác giả vẫn chưa chú ý nhiều đến luận điểm của Cantơ coi bản thể luận
của ông trong lĩnh vực lý luận chính là "hệ thống các phạm trù của giác tính".
Trong cuốn sách Đâu là căn nguyên tư tưởng? hay con đường triết lý từ
Cantơ đến Haiđơgơ, tác giả Lê Tôn Nghiêm phân tích rất tỉ mỉ những chú giải
của Haiđơgơ về triết học Cantơ trong tác phẩm nổi tiếng Cantơ và vấn đề siêu
hình học (1929). Haiđơgơ nhìn thấy ý nghĩa sâu xa của Phê phán lý tính thuần
tuý là ở chỗ Cantơ đã triển khai ra tính hữu hạn trong tri thức con người, như
nền tảng không những cho bản thể luận mà còn cho cả siêu hình học. Nhưng,
Haiđơgơ còn đi xa hơn Cantơ khi coi tính hữu hạn ấy phát nguyên từ trí tưởng
tượng siêu nghiệm và lược đồ (niệm thức) của thời gian tính. Đây cũng là chủ
đề chính của bài viết "Thay lời giới thiệu: Triết học và/về tính hữu hạn" của
Bùi Văn Nam Sơn nhân tái bản cuốn sách trên của tác giả Lê Tôn Nghiêm. 10
Cũng cần phải kể đến các bài viết về các triết gia duy tâm Đức được
đăng tải chủ yếu trên tạp chí Triết học và Nghiên cứu con người. Tuy nhiên,

về đề tài: Triết học đạo đức của Immanuel Kant và ảnh hưởng của nó đối với
triết học Đức thế kỷ XIX (2007) và trước đó, có 2 luận văn Thạc sĩ của các tác
giả: Vũ Thị Thu Lan: Mệnh lệnh tuyệt đối trong đạo đức học của Cantơ
(2004); Khuất Duy Dũng: Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức
luận của I.Cantơ (2006).
Qua phần tổng quan trên, có thể thấy các công trình nghiên cứu đã nêu
một mặt, chủ yếu bàn về các vấn đề nhận thức, tư duy, phép biện chứng, lôgíc
học, đạo đức học, mỹ học, lịch sử triết học, v.v… của triết học cổ điển Đức,
còn vấn đề bản thể luận nói chung (ở triết học Cantơ nói riêng) hầu như không
được bàn đến và nếu được đề cập thì cũng còn rất tản mạn, không có hệ
thống; mặt khác, đa số các công trình tập trung vào các vấn đề của triết học
Cantơ và Hêghen, còn triết học của Phíchtơ và Sêlinh thì ít được đề cập tới.
Điều đó cho thấy, một mặt, ở Việt nam vấn đề bản thể luận nói chung
chưa được quan tâm nhiều và mới chỉ có một luận án Tiến sĩ của tác giả Đỗ
Minh Hợp nghiên cứu về đề tài này (Vấn đề bản thể luận trong một số trào
lưu triết học phương Tây hiện đại - 2000), còn bản thể luận trong triết học duy
tâm cổ điển Đức vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu. Tác giả Đỗ
Minh Hợp đã phân tích quá trình hình thành, cách đặt vấn đề mới về bản thể
luận trong triết học phương Tây hiện đại thông qua việc triết học này xét lại
truyền thống triết học duy lý cổ điển và chỉ ra những hạn chế của truyền thống
ấy. Đặc biệt, tác giả luận án đã khẳng định triết học siêu nghiệm của Cantơ là
cội nguồn trực tiếp của "cuộc cách mạng bản thể luận trong triết học phương
Tây hiện đại". Mặt khác, dễ dàng nhận thấy, số luận án Tiến sĩ chọn và bàn
đến các vấn đề, các trường phái triết học phương Tây hiện đại nói chung vẫn
còn quá ít ỏi. Ngoài luận án Tiến sĩ của tác giả Đỗ Minh Hợp, còn có luận án 12
Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa: Hiện tượng học của Edmund Husserl
và sự hiện diện của nó ở Việt Nam (2008). Tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa đã

Cantơ và vấn đề siêu hình học (tái bản năm 1998); Gốtphơrít Máctin
(Gottfried Martin), Immanuen Cantơ: Bản thể luận và lý thuyết khoa học
(1969); Raihát Lauthơ (Reinhard Lauth), Sự hình thành triết học đồng nhất
Sêlinh trong tranh luận với Khoa học luận của Phíchtơ (1974); Hebéc
Mắcquydơ (Herbert Marcuse), Bản thể luận Hêghen và học thuyết về lịch sử
tính (tái bản năm 1975); Giakion Han (Jakyoung Han), Triết học siêu nghiệm
với tư cách là bản thể luận (1988), Gêóc Xanxơ (Georg Sans), Phải chăng
bản thể luận Cantơ là có tính chất tự nhiên? (2000); Antơ và Ibơ (Anrdt và
Iber, chủ biên), Lôgíc về tồn tại của Hêghen (2000), v.v… Gần đây nhất có
công trình nghiên cứu của Elêna Phicara (Elena Ficara): Bản thể luận trong
"Phê phán lý tính thuần túy" (2006). Các công trình trên có đóng góp rất lớn
trong việc làm rõ bản thể luận triết học của từng đại biểu như Cantơ, Hêghen.
Tuy nhiên, do các tác giả nói trên đi sâu vào bản thể luận của từng đại biểu
một nên lại chưa có một cái nhìn tổng quan về cả giai đoạn. Và ở đây, điều hết
sức đáng tiếc khi thực hiện luận án này là việc nghiên cứu sinh không thể
tham khảo được các tài liệu bằng tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Nga.
Trong các cuốn sách viết về Cantơ của mình, Haiđơgơ đã chống lại
cách kiến giải "nhận thức luận" của trường phái Cantơ mới, cố gắng chú giải
Cantơ là nhà bản thể luận và qua đó "chứng minh" rằng, Cantơ là người đặt
nền móng cho "bản thể luận cơ bản" của ông. Haiđơgơ nhấn mạnh công lao
của Cantơ là đã đặt ra vấn đề tính hữu hạn và thời gian tính, dù Cantơ vẫn
chưa ý thức được điều ấy và cũng chưa hiểu đúng. Xuất phát từ "bản thể luận
cơ bản" này, Haiđơgơ cũng xem xét và phê phán triết học của Phíchtơ, Sêlinh
và Hêghen trong một loạt các bài giảng (sau này được in thành sách). 14
Nối tiếp Haiđơgơ, cùng bút chiến chống lại phái Cantơ mới, G.Máctin
đã luận giải "thể nền" bản thể luận trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý
của Cantơ. Máctin chỉ ra rằng, cả hai khả năng chú giải (nhận thức luận và

luận Cantơ không tự giới hạn mình vào vũ trụ có tính chất cơ giới, máy móc
mà còn có hiệu lực cả đối với con người với tư cách là chủ thể tự do trong
hành động.
Elêna Phicara phân tích tỉ mỉ mối quan hệ giữa bản thể luận, lôgíc học
và triết học siêu nghiệm trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý của Cantơ
để lý giải cơ sở bản thể luận triết học Cantơ và đi đến kết luận rằng, cách trình
bày vấn đề bản thể luận của Cantơ vẫn có tác động sâu sắc tới khoa học, triết
học và văn hoá ngày nay. Theo tác giả, luận điểm nổi tiếng của Cantơ về việc
"môn học với tên gọi rất tự hào là bản thể luận cần phải nhường chỗ lại cho
môn học với tên gọi khiêm tốn hơn là Phép phân tích về giác tính thuần tuý",
không có nghĩa là loại trừ bản thể luận mà cần phải hiểu nó như là điều kiện
tiên quyết cho một sự trình bày mới về vấn đề tồn tại.
Cuộc "bút chiến" quyết liệt nhằm chiếm giữ "ngôi vương triết học" hậu
Cantơ diễn ra giữa Phíchtơ và Sêlinh đã được Raihát Lauthơ tái hiện rất chi
tiết trong công trình: Sự hình thành triết học đồng nhất Sêlinh trong tranh
luận với Khoa học luận của Phíchtơ. Điều này được thể hiện đặc biệt rõ ràng
qua thư từ trao đổi qua lại trực tiếp giữa Phíchtơ với Sêlinh, cũng như giữa hai
ông với các nhà triết học tên tuổi đương thời. Chính thông qua sự phê phán
lẫn nhau này mà cả hai ông đã phải suy ngẫm và thường xuyên chỉnh sửa, bổ
sung, phát triển bản thể luận của mình, cái đóng vai trò "hạt nhân", "nền
móng" của hệ thống triết học của hai ông: Triết học đồng nhất Sêlinh và Khoa
học luận Phíchtơ.
Với công trình Bản thể luận Hêghen và học thuyết về lịch sử tính, Hebéc
Mắcquydơ cố gắng chú giải bản thể luận Hêghen trong định hướng khởi thuỷ của 16
nó tới "sự sống" (Leben) với tư cách là khái niệm về tồn tại và lịch sử tính
(Geschichtlichkeit) của nó. Ông hiểu "bản thể luận Hêghen" là quan niệm của
Hêghen về nghĩa của tồn tại nói chung và là sự phát triển có hệ thống cái nghĩa

duy tâm cổ điển Đức qua các đại biểu: Cantơ, Phíchtơ, Sêlinh và Hêghen .
- Phân tích ảnh hưởng của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển
Đức tới một số trào lưu triết học Đức hiện đại, qua đó luận án khái quát các
đặc điểm cơ bản của nó, đánh giá ý nghĩa và chỉ ra những đóng góp và hạn
chế của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là nội dung cơ bản của bản thể luận trong triết
học duy tâm cổ điển Đức.
- Phạm vi nghiên cứu là vấn đề bản thể luận được thể hiện qua những
tác phẩm chính của Cantơ, Phíchtơ, Sêlinh và Hêghen và, do khuôn khổ luận
án, tác động của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức tới triết học
Đức hiện đại sẽ chỉ được khảo cứu thông qua hai đại biểu của triết học hiện
tượng học - hiện sinh Đức là Huxéc và Haiđơgơ, vì triết học của hai triết gia
này cho thấy rõ nhất ảnh hưởng của bản thể luận duy tâm cổ điển Đức đến
triết học Đức hiện đại.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là
quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng: tự nhiên - xã
hội - con người, về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Đồng
thời, luận án cũng kế thừa những thành quả của các công trình nghiên cứu
có liên quan đến đề tài luận án trong thời gian gần đây. 18
- Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng
duy vật, sử dụng chủ yếu các phương pháp kết hợp giữa phân tích và tổng
hợp, lịch sử và lôgíc, đối chiếu, so sánh, khái quát hoá, v.v
6. Đóng góp mới của luận án
- Có thể nói, đây là luận án đầu tiên ở nước ta tập trung vào phân
tích, luận giải nội dung cơ bản của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ

nó"; là một bộ phận của triết học nghiên cứu những nguyên tắc cơ bản của
tồn tại, những bản chất chung nhất và những phạm trù chung nhất về cái
thực tồn. Bản thể luận đôi khi được đồng nhất với siêu hình học, nhưng
thường được xem là bộ phận trung tâm của siêu hình học. Thuật ngữ "bản
thể luận" xuất hiện lần đầu tiên năm 1613 trong "Từ điển thuật ngữ triết
học" của R.Cốclêniút (Goclenius) và được kiện toàn trong hệ thống triết
học của C.Vônphơ.
Khái niệm "bản thể" có nguồn gốc từ chữ "ousia" của Hy Lạp và nó
là khái niệm đa nghĩa: vừa có nghĩa là bản thể, tồn tại, lại vừa có nghĩa là
bản chất. Kể từ Arixtốt trở đi, khái niệm bản thể gắn liền với vấn đề siêu
hình học, về "cái thực tồn như là cái thực tồn", tức là gắn liền với khái niệm
tồn tại.
Như vậy, thuật ngữ "bản thể luận" chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVII,
nhưng tư tưởng bản thể luận đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học,
ngay từ thời cổ đại. Và với tư cách là bộ phận căn bản nhất của siêu hình
học, bản thể luận ra đời cùng với siêu hình học và trải qua quá trình phát
triển liên tục, gắn bó hữu cơ với tiến trình lịch sử triết học. Do vậy, việc
nghiên cứu lịch sử của bản thể luận, lịch sử của các quan niệm, của các 20
học thuyết triết học về tồn tại, là con đường khả dĩ nhất để làm sáng tỏ nội
dung của khái niệm này.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học đã có những suy tư nhằm phân
biệt giữa bản thể và hiện tượng (tiếng Hy Lạp là phainomenon) trước kinh
nghiệm về một thế giới đầy những mặt đối lập và mâu thuẫn. Trong khi bản
thể thường được quan niệm là bản chất nội tại của sự vật, không nhận thức
được một cách trực tiếp bằng các giác quan, thì hiện tượng được coi là sự phát
triển (đầy mâu thuẫn và có thể tri giác được bằng kinh nghiệm) của bản thể.
Hơn nữa, các nhà triết học cổ đại còn phân biệt cả "vẻ bề ngoài" hay "ánh

Tính đa dạng thường biến của thế giới được trường phái Elê xem là một
hiện tượng hư ảo. Sự khu biệt nghiêm ngặt này sau đó đã được các lý thuyết
bản thể luận của những nhà triết học tiền Xôcrát làm dịu bớt, đối tượng của họ
đã không còn là tồn tại "thuần tuý", mà là các bản nguyên có chất lượng xác
định của tồn tại ("cội nguồn" ở Empêđốc, "sinh khí" ở Anaxago, "nguyên tử"
ở Đêmôcrít). Quan niệm như vậy cho phép giải thích mối quan hệ của tồn tại
với những đối tượng cụ thể, cái siêu cảm tính với trực giác cảm tính. Đồng
thời cũng xuất hiện lập trường đối lập mang tính chất phê phán của phái nguỵ
biện: họ bác bỏ tính tư duy được của tồn tại và gián tiếp bác bỏ bản thân tính
có thể của khái niệm "tồn tại". Nổi bật lên ở đây là luận chứng của Giócgiát
(Gorgias) thể hiện qua ba luận điểm: 1) không có cái gì; 2) nếu thậm chí có
một cái gì đó, thì nó cũng bất khả tri và 3) nếu nó khả tri, thì cũng không thể
diễn đạt bằng lời và lý giải cho người khác biết. Đây là sự nhạo báng mang
tính chất luận chiến chống lại siêu hình học của phái Elê.
Để hiểu được cuộc "cách mạng bản thể luận triết học" của Xôcrát,
trước hết cần lưu ý rằng, Xôcrát đã kế tục tư tưởng triết học Hy Lạp tiền nguỵ
biện. Tư tưởng này thể hiện ở quan niệm về mối liên hệ của vũ trụ với con
người, theo đó thì vũ trụ không tách biệt với con người. Đặc điểm cơ bản của
trực giác về vũ trụ chính là mối liên hệ mật thiết của nó với tồn tại người và
số phận của con người. Chính mối liên hệ qua lại giữa tồn tại vũ trụ và tồn tại
người cấu thành thực chất của vũ trụ cổ đại. Trật tự vũ trụ toàn vẹn thống nhất
hình thành viễn cảnh của số phận con người, số phận này luôn là số phận
trong vũ trụ. Vì vậy, với một nghĩa nào đó, số phận con người được đồng nhất
với số phận vũ trụ nói chung. Nhưng, Xôcrát cũng nhận thấy rõ hạn chế của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status