Một số vấn đề vể con người trong triết học phật giáo - Pdf 40

“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

A.PHẦN MỞ ĐẦU .
I.TÍNH CẤP THIẾT CỦA CỦA ĐỀ TÀI
Con người từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành là cả một quá trình
tưởng như là tự nhiên: ăn, nghỉ, buồn, vui, khôn, lớn... thế rồi đến một lúc nào
đó con người thấy thắc mắc và tự nhủ rằng: Mỗi người đều có một cuộc đời,
nhưng trên thực tế dường như chẳng thấy mấy ai được vui vẻ, ung dung mà
hầu như ai cũng có những ưu phiền không thoả mãn. Những ưu phiền ấy không
là lúc này thì lúc khác, không vì cái này thì cái khác, có những điều không
muốn thấy, có những điều không thấy được... Tại sao lại như thế? Con người
có thể làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình hay không? Con người phải
làm gì để có cuộc sống xứng đáng với con người?
Để giải thích những thắc mắc đó, con người được nghiên cứu bởi nhiều
nhà khoa học khác nhau, với đối tượng khác nhau như sinh học, tâm lý học, sử
học, xã hội học, văn hoá học... tất cả đều nhằm khám phá những bí mật của các
hiện tượng tự nhiên và xã hội đang vây bọc con người. Song đối với khoa học
triết học chỉ những vấn đề chung nhất về con người như bản chất con ngưòi, tư
duy, đạo đức, tín ngưỡng, thẩm mỹ của con người... mới thuộc lĩnh vực nghiên
cứu của nó.
Trong quá trình phát triển của mình, Phật Giáo - một trong những trường
phái triết học - tôn giáo của Ấn Độ - đã từng bước cũng cố và hoàn thiện hệ
thống lí luận của nó với nhiều nội dung phong phú. Vấn đề con người trong
triết học Phật Giáo là một nội dung hàm chứa tính triết lý và tinh thần nhân văn
cao cả. Triết học Phật Giáo đã đi sâu tìm hiểu, giải thích nhiều khía cạnh về
chính con người, về đời sống của con người. Tuy nhiên, thế giới quan Phật
giáo là duy tâm, trong sự vận động và phát triển của mình, Phật giáo đã du
1


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”


Với một đề tài đã được nhiều người nghiên cứu như vậy, tác giả cũng rất
ái ngại. Nhưng được sự động viên, giúp đỡ của thầy hướng dẫn, gia đình và
bạn bè, tác giả đã tự tin hơn để thực hiện đề tài này với mong muốn được hiểu
biết hơn về Phật giáo nói chung, triết học Phật giáo nói riêng, góp tiếng nói
chung cho những ai quan tâm đến Phật Giáo.
III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI :
Xuất phát từ tính cấp thiết và tình hình nghiên cứu của đề tài như đã nêu
trên, đề tài ‘’Một số vấn đề về con người trong triết học Phật giáo‘’ có mục
đích và nhiệm vụ sau:
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ quan niệm về con người, về đời sống
con người trong triết học Phật giáo. Trên cơ sở đó đề xuất một số phương
hướng khắc phục và hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy những điểm tích cực
trong triết học Phật giáo để định hướng cho những tín đồ Phật giáo cùng tích
cực tham gia xây dựng con người mới ở Việt Nam .
Nhiệm vụ của đề tài là: khái quát về triết học Phật giáo. Rút ra những giá
trị của triết học Phật giáo. Chỉ ra những vấn đề lý luận về con người trong triết
học Phật giáo . Đưa ra được những phương hướng đúng đắn góp phần xây
dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay trong đó có ảnh hưởng của Phật
giáo .
IV. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Cơ sở lý luận, phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Đồng thời luận văn có sự kế thừa một cách chọn lọc những công trình
nghiên cứu của nhiều tác giả có nội dung liên quan đến vấn đề con người trong
triết học Phật giáo .
3


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”


1. 1 Khái lược việc ra đời và phát triển của Phật giáo .
1.1.1 Khái lược về sự ra đời của Phật giáo :
Thế kỷ thứ VII và thế kỷ thứ VI trước công nguyên, là thời kỳ mà chế độ
nô lệ mang tính chất gia trưởng và chế độ công xã nông thôn đã khá phát triển.
Các quốc gia chiếm hữu nô lệ nhỏ, phân tán nay có xu hướng thống nhất lại.
Trong xu hướng chung này, tại miền Bắc Ấn Độ, nhất là lưu vực sông Ấn
(Indus) và sông Hằng (Gange), loạn lạc xảy ra liên miên và tình hình đời sống
chính trị luôn luôn bị xáo trộn. Các bộ lạc và các nước nhỏ xâu xé lẫn nhau và
đều bị các nước lớn đe doạ và thôn tính. Ngay khi đó chính các nước lớn cũng
không ngừng biến động, hoặc tách ra hoặc sát nhập để hình thành những quốc
gia mới, rộng lớn hơn. Đất nước Catylave (Kapilavaxtu) nhỏ bé của dòng họ
Thích Ca (Shakyas), bao gồm một phần phía Nam Nê-pan và một phần các
bang Ut-to-rơ, Pra-đe-zơ, Bi-he của Ấn Độ ngày nay, cũng bị cuốn vào cơn lốc
chiến tranh và cuối cùng mất hẳn ngay trong thời kỳ Phật giáo ra đời .
Chiến tranh tàn khốc liên miên chẳng những gây nên sự tàn phá, chết
chóc, mà còn có tra tấn, tù đày, bắt bớ, chiếm hữu nô lệ và tước đoạt tài sản,
bên cạnh còn có dịch bệnh và tệ nạn xã hội đã gây ra bao nỗi đau thương cùng
cực cả về thể xác lẫn tinh thần cho con người. Tất cả những tai hoạ đó đã đẩy
con người vào tình cảnh tuyệt vọng, chán chường, mất hết niềm tin vào cuộc
sống, vốn tồn tại một cách tự nhiên và tất yếu. Chiến tranh, đã làm cho đạo đức
và tính người bị xói mòn, xuống cấp và thậm chí đổ vỡ một cách nặng nề.
Khắp nơi không thiếu cảnh con giết cha, anh em, bè bạn, vợ chồng lừa gạt
nhau, huỷ diệt sinh mệnh lẫn nhau, chiếm đoạt tài sản của nhau.
Tuy vậy, mọi khổ đau gây ra do chiến tranh cũng chưa nghiêm trọng
bằng chính những ung nhọt tiềm ẩn ngay trong lòng xã hội từ cả hàng ngàn
năm trước trên mảnh đất đó. Một trong những ung nhọt thối rữa nặng nề nhất
5




Sát-đế-lị (Ksastryas) gồm vua quan cai trị thế quyền và tầng lớp võ sĩ.
Họ có khí giới của cải đại diện cho thế quyền nhằm đàn áp những người không
theo họ.
Đẳng cấp Vệ -Xá (Vaisyas) gồm dân tự do, làm nông nghiệp, buôn bán,
thợ thủ công.
Còn đẳng cấp Thủ - đà - la (Soudras) chiếm đa số gồm tiện dân và nô lệ,
là con cháu của những bộ lạc bại trận, những người bị phá sản, không có tư liệu
sản xuất, đứng ngoài công xã.
Đạo Bàlamôn cho rằng sự phân chia đẳng cấp trong xã hội là trật tự an
bài có tính tiền định, theo ý chí của Thượng đế. Theo kinh Vệ đà của đạo
Bàlamôn, các đẳng cấp được sinh ra từ những bộ phận khác nhau của Thượng
đế nên có số phận khác nhau. Hai giới Bàlamôn và Sátđếlị được sinh ra từ
miệng và hai vai, do vậy cha truyền con nối được hưởng mọi quyền hành ưu
đãi để thống trị các giới còn lại, sống một cuộc đời hưởng lạc, xa xỉ. Trong khi
các giới còn lại sinh ra từ những nơi thấp kém hơn bắp đùi và hai bàn chân, bị
bắt buộc làm việc từ ngày này qua ngày khác nhằm cung phụng kẻ trên, không
một lời kêu ca oán thán dù rằng bị đánh đập hành hạ cả về thể xác lẫn tinh
thần.
Tình trạng xã hội nói trên là sản phẩm của tư tưởng chính trị Ấn Độ thời
cổ. Những lý luận và chư thuyết ghi trong kinh Vệ Đà và các sách thánh khác
thuộc thời Vệ Đà đã dẫn dắt luồng tư tưởng chính trị chủ đạo đó của Ấn Độ.
Xuất hiện sự cấu kết giữa thần quyền và thế quyền, chế độ phân biệt đẳng cấp
ở Ấn Độ cổ hết sức khắt khe nhưng cũng hết sức đặc biệt - không chỉ được
giáo lý Bàlamôn biện hộ mà còn được pháp luật nhà nước bảo vệ. Bộ luật
Manu viết: ‘’ Sự trừng trị là phương pháp duy nhất để cai trị dân chúng ‘’.
Chính tư tưởng chính trị này, đã làm cho cuộc sống của người dân Ấn Độ cổ bị
7




“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

hết thảy mọi lẽ của tạo hoá và có thể chỉ bảo cho ta giải thoát khỏi luật luân hồi
sinh tử.
Sau khi đắc đạo (528 TCN) Phật quyết định đi truyền đạo của mình,
thuyết pháp, giác ngộ cho chúng sinh cho đến khi nhập Niết Bàn (483 TCN).
Trong 45 năm Phật đã đi khắp nơi truyền bá tư tưởng của mình.Chủ trương
bình đẳng của Phật giáo thể hiện ngay từ quá trình truyền bá tư tưởng của
mình. Trong kinh chuyển Pháp Luân (Dhammacak - Kappavata - Nasutta) Đức
Phật nói : “Hởi các Tỳ Khưu! Các ngươi hãy đi khắp nơi mà truyền đạo, ở mọi
chốn đó hãy nói lên rằng những kẻ giàu và những người nghèo cũng chẳng
khác nhau. Tất cả các đẳng cấp trên xứ sở này cũng đều tan đi trong đạo của ta
như những dòng sông tan trong biển cả”. Với tư tưởng này Đạo Phật đã được
truyền bá cho đủ loại người không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, chủng tộc,..
và trong “Đạo Phật Việt Nam”, tác giả Thích Đức Nghiệp cũng nêu lên được
một trong những nguyên nhân để Phật giáo có mặt khắp mọi nơi trên thế giới,
đó là: “Không một giọt máu nào đã chảy, cũng như không một giọt lệ nào đã
rơi vì sự truyền bá của Đạo Phật, bởi lẽ Đạo Phật là con đường Trung Đạo hài
hoà, không giáo điều không cực đoan không bạo lực không bạo động trong
việc hội nhập và thích nghi với các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Bên cạnh
đó, Đạo Phật còn vượt ra ngoài mọi ý thức hệ chính trị, mọi phân biệt màu da,
chủng tộc và giai cấp. Đó là điểm soi sáng ngời, bất diệt trong lịch sử tôn giáo
thế giới” (trang 6). Từ khi hình thành đến khi xác lập được vị trí của mình,
Phật giáo phải trải qua bốn lần kết tập để hoàn chỉnh dần lý luận của mình.
Căn cứ theo kinh điển Phật giáo, sau khi Phật tịch khoảng 100 ngày
(khoảng thế kỷ V TCN), trong hàng đệ tử sinh ra những kiến giải bất đồng về
giáo pháp và giới luật của Phật. Kết tập lần một được tổ chức do Đại Ca Diếp
triệu tập và làm chủ tọa. Lần này Ananda (Ananda) kể lại những lời Phật nói về
9

10


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

kỷ VIII trở đi khi Hồi Giáo xâm nhập Ấn Độ, Phật giáo ở Ấn Độ càng suy tàn.
Hồi Giáo đi đến đâu triệt để phá Phật giáo đến đó.Hồi Giáo phá huỷ tất cả các
chùa, tàn sát tất cả các tín đồ Phật giáo,.. làm cho Phật giáo suy tàn hẳn ở Ấn
Độ vào năm 1193.
Phật giáo tuy suy tàn dần ở Ấn Độ, nhưng lại phát triển ra bên ngoài một
cách nhanh chóng. Nó luôn có quan hệ gắn bó máu thịt với những bước trưởng
thành của một bộ phận không nhỏ nền tảng văn minh nhân loại. Riêng đối với
các dân tộc phương Đông chúng ta thì mối quan hệ này càng tỏ ra mật thiết
hơn.
Con đường truyền giáo của đạo Phật bắt đầu từ Ấn Độ đi theo hai
hướng. Một hướng truyền đến phía Nam đến Srilanca, một hướng truyền lên
phía Bắc đến Ca - dắc - xtan ngày nay. Phật giáo truyền xuống các nước phía
Nam như Srilanca, vốn không có nền văn hoá của riêng mình, ngoài vùng tiếp
xúc với Ấn Độ ra cũng không có các nền văn hoá khác tiếp thu, do vậy từ sau
khi Phật giáo truyền đến chưa có thể mở ra cục diện mới, thậm chí cho đến tận
bây giờ vẫn cứ bảo lưu được diện mạo gần như nguyên vẹn so với thời Đức
Phật. Hướng Nam truyền lại từ Srilanca truyền sang Myanma rồi lại tiếp tục
bành trướng sang các nước Châu Á khác như Malaysia, Lào, Campuchia, Thái
Lan. Ở các nước này đến nay Phật giáo vẫn giữ vị trí quốc giáo, truyền thống
văn hoá ở đây thực sự là truyền thống văn hoá Phật giáo... Giáo đoàn Phật giáo
bao quát hết các sinh hoạt tâm linh của cộng đồng.
Còn hướng truyền lên phía Bắc thì chịu sự tác động mạnh mẽ của tôn
giáo truyền thống Ấn Độ, thêm vào đó được tiếp xúc với những giá trị văn hoá
truyền thống của riêng từng quốc gia làm cho Phật giáo dần dần bước vào con
đường phát triển tự do. Kết quả là chúng ta coi dòng nam truyền là Phật giáo

Phật giáo. Ở Đức người mở đầu nghiên cứu Phật giáo là MaxMuller. Từ năm
1913 đến 1921 các hội Phật giáo được thành lập và xuất bản tạp chí, năm 1932
12


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

tịnh xá Phật giáo được xây dựng tại Béclin, từ năm 1951 về sau các hội Phật
giáo dần dần hình thành ở các địa phương. Ở Pháp nghiên cứu Phật giáo đã lâu
đời trên 100 năm. Năm 1852 E.Burnouf đã dịch ra chữ Pháp kinh Diệu Pháp
liên hoa, nhưng đến năm 1929 mới xuất hiện giáo hội Phật giáo ở Paris, sau đó
tổ chức các cuộc triển lãm, xuất bản tạp chí.
Ở Mỹ việc nghiên cứu Phật giáo bắt đầu từ sau hội nghị tôn giáo thế giới
tổ chức năm 1893 ở Chicagô. Nhiều học giả nghiên cứu các kinh, chú thích
kinh Pháp Cú. Thiền Tông được nghiên cứu nhiều nhất. Năm 1899, Hội Phật
Giáo Mỹ ra đời. Từ Mỹ truyền sang Canada, Braxin, Achentina. Đại Thừa và
Nhật liên tông chiếm chủ đạo. Tín đồ Phật giáo ở các nước trên chiếm số lượng
khá đông . Những năm gần đây, Phật giáo cũng phát triển ở Italia, Thuỵ Sĩ,
Thuỵ Điển, Hungari,.. nhưng số tín đồ còn ít.
Phương Tây ào ạt tiến Phương Đông. Trước đợt sóng văn minh, hiện đại
hoá của Phương Tây để giữ được vai trò trí tuệ, tâm linh, văn hoá, giáo dục
cộng đồng. Phật giáo tại các nước Phương Đông buộc phải cách tân để tồn tại,
Phật giáo Srilanka, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản đã bắt đầu cách tân từ cuối
thế kỷ XIX. Tuy nhiên cách tân chỉ trở thành phong trào quốc tế với hội nghị
Côlômbô (Srilanca) tiến hành tháng 5 năm 1950 với 29 nước thành viên, thành
lập hội Phật giáo thế giới.
Từ những vấn đề nêu trên cũng đã cho ta những ý niệm về mức độ phát
triển Phật giáo trên thế giới. Phật giáo là một tôn giáo cực kỳ phức tạp, đa dạng
ngay từ Ấn Độ. Phát triển từ lưu vực sông Hằng miền Trung Ấn Độ, cái nôi
của người Dravida (Dravidian) đầy sức sống và huyền thoại. Phát triển lên phía

Diệu Đế” và “Thập Nhị Nhân Duyên”, Phật giáo đã đưa ra một thế giới quan,
một nhân sinh quan, một cái nhìn đời sống hoàn hảo. Với mục đích tìm một
cuộc sống giải thoát khổ đau sinh tử cho con người, nên đã chủ trương hướng
con người thăng hoa tri thức và đạo đức...
14


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

Triết học Phật giáo là một bộ phận quan trọng góp phần tạo nên sự
phong phú cho hệ thống triết học nhân loại. Anh hưởng của triết học Phật giáo
từ lâu đã vượt xa giới hạn tín ngưỡng tôn giáo của nó.
Phật giáo chứa đựng một hệ thống quan điểm khá hoàn chỉnh và nhất
quán. Quan điểm triết học ấy được thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất
lớn. Hai thứ văn tự căn bản ghi các kinh sách Phật giáo là sắc Phạn (Sanscrit)
và Nam Phạn (Pali) được tổ chức thành Tam Tạng: tạng kinh, luật, luận.
Lý luận của Phật giáo bao gồm hệ thống về thế giới quan, nhân sinh
quan có kết cấu chặt chẽ, mỗi bộ phận đều có chức năng riêng nhưng chúng lại
là tiền đề hệ quả của nhau. Vì vậy chỉ được xem là đầy đủ nếu xét cả thế giới
quan và nhân sinh quan của nó. Ở đây, do yêu cầu của bài viết vậy nên vấn đề
này chỉ được trình bày một cách sơ lược.
1.2 .1 Thế giới quan:
Thế giới quan Phật giáo là một hệ thống gồm các lý thuyết về nhân
duyên, nhân quả, về vô thường, vô ngã,.. Mỗi thuyết đó đều chứa đựng nội
dung biện chứng về thế giới, tuy vậy các lý thuyết đó ít nhiều mang tính chất
duy tâm tiền định. Thậm chí trong sự phát triển về sau này nó còn chứa đựng
nhiều yếu tố thần bí.
Với triết lý nhân duyên khởi: Tư tưởng Phật giáo cho rằng mọi sự biến
hoá sinh thành đều bị chi phối bới luật nhân quả, biến hoá vô thường không có
bản ngã, không có thực thể, không có hình thức nào tồn tại thường định, vĩnh

giờ nghĩ của vạn vật tạo hoá. Tất cả những biểu hiện hữu hình của sự tồn tại
chỉ là những giây phút thoáng quacủa vô thường. Nói về tính chất ‘’vô ngã vô
thường của vạn pháp’’ trong Tăng Nhất A Hàm viết: “Các pháp tự sinh, các
pháp tự diệt, các pháp tự động lẫn nhau, các pháp tự nghĩ ... Các pháp tự loạn
lẫn nhau, các pháp tự nghĩ , pháp có thể sinh ra pháp ... Như thế hết thảy cái có
đều quy về cái không, không ta, không người, không mệnh, không sĩ, không
16


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

phu, không hình, không tượng, không nam, không nữ “...[3;248].Nếu trong
kinh Veda và kinh Upanisad cũng như trong giáo lý của đạo Bàlamôn, thừa
nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên sáng tạo và chi phối vũ trụ vạn vật
đó là Brahman, đấng sáng tạo.Trái lại Phật giáo cho rằng thế giới về bản chất
chỉ là một dòng biến ảo vô thường, không do một vị thần linh nào sáng tạo ra
cả. Mà thế giới được tạo nên bởi ngũ uẩn, đó là nhóm họp của các yếu tố
‘’sắc’’ (vật chất) và ‘’danh’’: thụ, tưởng, hành, thức (tinh thần). ‘’Duyên danh sắc chỉ hội tụ nhau trong một khoảng khắc rồi chuyển sang trạng thái khác. Bản
thân thế giới là một dòng chuyển biến liên tục (vô thường) không thể tìm ra
nguyên nhân đầu tiên, không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên,không ai sáng tạo
ra thế giới cả, không một thực thể nào tồn tại thường định và vĩnh viễn ... Cứ
như vậy, thế giới sự vật hiện tượng cứ sinh hoạt, biến hiện không ngừng theo
quá trình sinh, trụ, dị, diệt (hoặc thành trụ, hoại, không) theo luật ‘’nhân quả’’
và lý ‘’nhân duyên khởi’’.
Như vậy, thế giới quan Phật giáo có tư tưởng vô thần luận khi phủ nhận
đấng sáng tạo và quan niệm biện chứng chất phác thể hiện trong triết lý nhân
duyên khởi và thuyết vô thường. Nhưng đồng thời thế giới quan Phật giáo thể
hiện tính chất nhị nguyên không triệt để: Vừa mang yếu tố duy vật qua quan
điểm về tính tự thân, sinh thành biến đổi của vạn vật tuân theo tính tất định,
phổ biến của luật nhân quả hay thế giới được tạo nên bởi quan hệ vật chất. Lại

cuộc đời là sự tổng hợp kết quả của các nghiệp gây ra trong hiện tại cùng với
các nghiệp gây ra trong quá khứ, và nó quyết định đời sau tốt hay xấu. Trong
kinh Trung A Hàm, Đức Phật nói: “ các loại hữu hình vừa là chủ của nghiệp,
vừa thừa tự của nghiệp,nghiệp là thai tạng,là quyến thuộc là nơi nương
tựa".Bởi vậy con người có thể làm chủ nghiệp của mình, được biểu hiện trong
18


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

sức mạnh tự thân thúc đẩy từ bên trong, là tiềm thức của họ muốn nhìn thấy nó
phải qui tâm về một mối ‘’ nhất tâm thiền định ‘’.
Do nghiệp chi phối theo luật nhân quả nên vạn vật, chúng sinh mất đi ở
chỗ này,thời gian nay để sinh ra chỗ khác,thời gian khác. Đó chính là quá trình
tái sinh luân hồi. Luân hồi có nghĩa là bánh xe quay tròn là sự trở về, luân hồi
là nói đến vạn pháp trong tam giới (tam giới: được hiểu theo 3 cách là vật lý,
sinh lý, tâm lý; dục giới, vô sắc giới, thảo mộc, động vật và qủy thần) luôn luôn
luân chuyển không ngừng theo chu trình vô thường như: sinh - trụ - dị - diệt
(sinh - lão - bệnh - tử hoặc thành - trụ - hoại - không). Nó là sự biểu hiện của
sự luân chuyển các trạng thái khác nhau của sự biến hoá vô thuờng.Mỗi sự vật,
hiện tượng như vậy không phải mất đi là mất hẳn mà mất đi nơi này thì nó lại
tồn tại nơi khác, mất đi trong trạng thái này thì chuyển hoá sang trạng thái
khác...
Nhân sinh quan Phật giáo nói nhiều về vấn đề nhưng tập trung chủ yếu
trong “Tứ Diệu Đế” bốn chân lý thiêng liêng mà Đức Phật đã giác ngộ. Mục
đích cuối cùng của Phật giáo là tìm con đường giải thoát khỏi bể khổ luân hồi
bất tận. Nhưng để giải thoát được mọi người phải nhận thức được “Tứ Diệu
Đế” mà nội dung nó bao gồm khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
Khổ đế: khẳng định khổ đau là tất yếu, là điều không tránh khỏi. Khổ
đau được xem là vô tận, tuyệt đối; nó được tổng kết thành 8 nỗi khổ (bát khổ).

thuyết tôn giáo mà ở góc độ triết học, tôn giáo có nghĩa phải nhận thức nó xung
quanh vấn đề của triết học. Đã là một hệ thống triết học tôn giáo, theo tiêu chí
phân loại của triết học đều thuộc dòng “phi lý”, nó hướng vào cái “tôi” chủ thể,
tuyệt đối hoá vai trò tư tưởng, phủ nhận vai trò các qui luật khách quan. Do vậy
nó sẽ được xếp vào thế giới quan duy tâm tôn giáo dù rằng trong quá trình phát
triển của nó vẫn chứa đựng các yếu tố duy vật. Nhân sinh quan Phật giáo chủ
20


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

đề trọng tâm là giải thoát. Xét về hình thức thì triết lý nhân sinh có vẻ là sự
yếm thế xa lánh và thoát ly khỏi đời sống trần tục. Nhưng trong thực chất đó là
triết lý gần với đời sống hiện thực của con người,gắn với các cung bậc biểu
hiện khác nhau trong đời sống con người để hình thành tư tưởng giải thoát đó.
Cho nên việc xa lánh đời sống hiện thực chỉ được xét ở gó độ mục đích còn
trong toàn bộ quá trình để hướng đến mục đích đó, nó lại gắn bó một cách mật
thiết với đời sống trần gian. Bởi vậy bản chất của triết học nhân sinh Phật giáo
kông phải xuất thế mà nhập thế, nhập vào từng ngõ ngách, thẩm thấu xuyên
suốt trong đời sống con người.
Trong triết học Phật giáo ít nhiều cũng chứa đựng tư duy biện chứng
nhưng chỉ là biện chứng tự phát. Vì tư tưởng Phật giáo không bàn đến lĩnh vực
riêng biệt về phép biện chứng trong lý luận nhận thức mà ẩn đằng sau những
vấn đề vô ngã, vô thường . . . Tư tưởng triết học biện chứng của Phật giáo cũng
thể hiện tính không triệt để trong quá trìng nhận thức: chỉ thấy một mặt mà
không thấy mặt đối lập, chỉ thấy cái “ảo, giả” mà không thấy cái thật, chỉ thấy
hiện tượng mà không thấy bản chất. Nhưng “Trong giai đoạn phát triển đầu
tiên, với thế giới quan nhân duyên sinh, triết lý Phật giáo đã bao gồm những
yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát và tư tưởng biện
chứng tự phát. Đó là ưu điểm nổi bật của Phật giáo mà chính Anghen đã nhận

đâu ? Bản chất, ý nghĩa tối cao của đời sống con người là gì ? Làm thế nào để
con người đạt tới cõi hạnh phúc lý tưởng, vĩnh hằng ? Từ đây, có thể nói
những vấn đề về bản chất, giá trị đạo đức nhân sinh là những vấn đề cốt lõi của
triết học - tôn giáo Ấn độ cổ.
Thâu tóm lại, có thể khẳng định: vấn đề con người là một trong những
vấn đề truyền thống của tư tưởng triết học - tôn giáo Ấn độ cổ đại dù trên
22


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

phương diện tâm lý,đạo đức, tâm linh mà triết học Phật giáo là một những
dòng tư tưỡng điển hình.
2.1 Quan niệm về nguồn gốc và bản chất con người trong triết học
Phật Giáo.
Quá trình truyền bá và phát triển của mình, những luận thuyết cơ bản của
phật giáo ít biến đổi, nó luôn khẳng định: Triết học Phật giáo là triết học về con
người.
Là một sản phẩm đặc thù của lịch sử triết học Ấn độ, Phật giáo ra
đời(vào thế kỷ VI TCN) khi Ấn Độ đã có một nền tảng Triết học và tôn giáo bề
thế với lịch sử hơn 1500 năm... và đã trãi qua các giai đoạn lớn: Veda,
Upanishad. Nó đại diện cho giai đoạn: chuyển từ tư duy thần quyền sang tư
duy nhân bản, lấy con người làm trung tâm. Phật giáo đã làm cuộc cách mạng
vĩ đại trong tư duy, đảo hướng tư duy sang tìm kiếm niềm tin chính ở con
người. Đóng góp này của Phật giáo đã đưa tư duy Ấn độ và tư duy loài người
nói chung lên một tầm mới, góp phần giải quyết vấn đề nhân bản, một vấn đề
luôn có tính bức xúc của nhân loại và đã mở ra một cách tiếp cận độc đáo trong
việc đề cao con người.
Con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai luôn là trung tâm, là đối
tượng nghiên cứu, nhận thức của khoa học. Đặc biệt đối với triết học việc giải

nhau mà nảy sinh. Cho nên cái này có thì cái kia sinh, cái này không có thì cái
kia không có; cái này diệt thì cái kia diệt “ các yếu tố tạo thành chúng sanh
gắn liền nhau trong một tràng nối tiếp, yếu tố này diệt, yếu tố kia sinh kế thừa
nhau dường như chớp nhoáng” [22;446]. Trong tiến trình như vậy làm cho thế
giới trở thành vô thuỷ,vô chung, không đầu không cuối vì “ tất cả các sự vật
đều do nhân duyên và không có sự tồn tại riêng biệt (cái này với cái khác); Cho
nên không thể tìm thấy cái bắt đầu của tiến trình “ [22;446]
24


“Một số vấn đề về con người trong triết học Phật Giáo”

Đồng thời với việc chỉ ra nguồn gốc hình thành của thế giới, thì quan
niệm về con người theo Phật giáo cũng được chỉ ra con người là nguyên nhân
của chính mình, được tạo nên bởi lục đại nhờ duyên danh, sắc hội tụ mà thành.
Nói cách khác con người do nhân duyên kết hợp được tạo nên bởi hai phần:
Phần sinh lý và phần tâm lý, phần hình chất và phần tinh thần. Phần sinh lý
gồm “sắc là hình sắc tương ứng do “tứ đại“ mà có : địa(đất) , thuỷ (nước),
hoả(lửa),phong(gió) .Trong con người những chất cứng dẻo như thịt, gân,
xương thuộc về đất; những chất đượm ướt như máu mỡ, mồ hôi, nước mắt là
thuộc về nước; hơi thở ra vào, trái tim đập, phổi hô hấp hay chân cử động là
thuộc về gió; hơi nóng trong người là thuộc về lửa. Bên cạnh “tứ đại” phần tâm
lý hay tinh thần tức là tâm, chỉ có tên gọi mà không có hình chất gọi là danh
được thể hiện với bảy trạng thái cung bậc tình cảm khác nhau của con người
(thất tình) : ái, ố, nô, hỷ, lạc, ái, dục, (yêu, ghét, giân, vui, sướng, buồn, khoái
lạc). Và “Danh ” do nhân duyên kết hợp tạo nên từ bốn yếu tố sau: thụ là
những cảm giác, cảm thụ về sự khổ hay sướng đưa đến sự xúc cảm lãnh hội
với thân và tâm. Tưởng là suy nghĩ, suy tưởng. Hành do ý muốn thúc đẩy hành
động tạo tác, thức là nhận thức ý thức về ta. Trong mối quan hệ danh, sắc thì
danh bao giờ cũng nhờ, dựa vào phần sinh lý không thể có tinh thần ý thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status