BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KIỀU QUANG BÌNH
QUẢN LÝ SINH HOẠT CHUYÊN MÔN
THEO HƢỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC
Ở CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN YÊN PHONG,
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KIỀU QUANG BÌNH
QUẢN LÝ SINH HOẠT CHUYÊN MÔN
THEO HƢỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC
Ở CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN YÊN PHONG,
TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS Bùi Văn Quân
này đã đƣợc tôi cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc ghi
rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan những điều trên đây là đúng sự thật.
Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2016
Học viên
Kiều Quang Bình
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU..............................................................................
1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................
1
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................
2
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu.........................................
3
4. Giả thiết khoa học....................................................................
3
16
1.4 Những ND cơ bản của QL SHCM theo hƣớng NCBH ở trƣờng THPT
24
1.5 Các yếu tố ảnh hƣởng QL SHCM theo hƣớng NCBH ở trƣờng THPT
35
Kết luận chƣơng 1
37
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SHCM THEO HƢƠNG NCBH
38
Ở CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN YÊN PHONG
2.1 Vài nét về tình hình KT-XH của huyện Yên Phong tính Bắc Ninh
38
2.2 Khái quát về các trƣờng THPT huyện Yên Phong TỈNH Bác Ninh
39
2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên của các trƣờng THPT huyện Yên Phong
92
Kết luận chƣơng 3
95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
100
PHỤ LỤC
103
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Stt
Nghĩa đầy đủ
Chữ viết tắt
1
ANCT
Giáo dục quốc phòng
7
GDTrH
Giáo dục trung học
8
HĐND
Hội đồng nhân dân
9
KHKT
Khoa học kỹ thuật
10
NCBH
Nghiên cứu bài học
11
NQ
Sinh hoạt chuyên môn
17
TCM
Tổ chuyên môn
18
TDTT
Thể dục thể thao
19
THPT
Trung học phổ thông
20
TS
Tổng số
21
TTCM
của toàn bộ hệ thống đào tạo, đào tạo lại, bồi dƣỡng và tự bồi dƣỡng giáo
viên. Trong các nội dung đó, việc tự bồi dƣỡng chuyên môn của giáo viên tại
trƣờng là việc làm hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho giáo viên hoàn thành
nhiệm vụ tại trƣờng, nâng cao chuyên môn cho giáo viên và giảm thiểu tối đa
chi phí.
Dạy học là một hoạt động đặc thù trong nhà trƣờng, giữ vị trí trung tâm
trong các hoạt động của nhà trƣờng. Chất lƣợng dạy và học quyết định uy tín
của nhà trƣờng. Dạy học đƣợc thực hiện ở cấp độ hoạt động thông qua hoạt
động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh. Các hoạt
động này là những hoạt động nền tảng của hoạt động chuyên môn ở trƣờng
học. Hoạt động chuyên môn lại đƣợc triển khai thực tiễn tại các tổ chuyên
môn. Do đó, hoạt động của tổ chuyên môn, trong đó có hoạt động sinh hoạt
chuyên môn của các tổ chuyên môn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng
cao chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng. Vì vậy, quản lý hoạt động của tổ
2
chuyên môn, quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn (sau đây gọi là sinh
hoạt chuyên môn) là yêu cầu tất yếu và là một trong những nội dung quản lý
quan trọng trong quản lý trƣờng học.
Hoạt động chuyên môn ở trƣờng THPT đƣợc triển khai thông qua các
tổ chuyên môn trong nhà trƣờng. Vì thế, chất lƣợng, hiệu quả của hoạt động
chuyên môn của trƣờng THPT phụ thuộc vào chất lƣợng, hiệu quả hoạt động
của các tổ chuyên môn. Diễn đạt một cách hình ảnh, tổ chuyên môn trong nhà
trƣờng THPT là cánh tay nối dài của Hiệu trƣởng trƣờng THPT. Điều đáng
chú ý là, ở trƣờng THPT, tổ chuyên môn và hoạt động tổ chuyên môn có tính
đặc thù riêng do yêu cầu thực hiện phân hóa chƣơng trình giáo dục của bậc
học này. Vì thế quản lý hoạt động tổ chuyên môn và quản lý sinh hoạt chuyên
môn ở trƣờng THPT cũng có những khác biệt cần đƣợc quan tâm.
Đổi mới hoạt động tổ chuyên môn trong trƣờng THPT theo hƣớng
hƣớng: nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về SHCM theo NCBH; Xây
dựng kế hoạch SHCM theo NCBH phù hợp với tiến trình dạy học môn học;
Nâng cao chất lƣợng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên; đảm bảo các điều
kiện cho SHCM theo NCBH; tăng cƣờng công tác kiểm tra, đánh giá và tạo
động lực cho giáo viên thực hiện SHCM theo NCBH thì hoạt động sinh hoạt
chuyên môn theo hƣớng nghiên cứu bài học ở các Trƣờng THPT huyện Yên
Phong tỉnh Bắc Ninh sẽ đƣợc thực hiện tốt.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống, khái quát hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động
tổ chuyên môn, về nghiên cứu bài học để xây dựng khung lý thuyết nghiên
cứu quản lý sinh hoạt chuyên môn của các tổ chuyên môn ở trƣờng THPT.
4
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng sinh hoạt chuyên môn theo hƣớng
phân tích bài học và quản lý sinh hoạt chuyên môn theo hƣớng nghiên cứu bài
học ở các Trƣờng THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý sinh hoạt chuyên môn theo
hƣớng phân tích bài học ở các Trƣờng THPT huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
trong những năm tiếp theo.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Biện pháp quản lý đƣợc nghiên cứu đề xuất là các biện pháp quản lý
của Ban Giám hiệu và Tổ trƣởng tổ chuyên môn.
Các số liệu nghiên cứu đƣợc giới hạn từ năm học 2013-2014 đến nay.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Các phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc và phân tích các tài liệu, các văn bản pháp quy, chủ trƣơng, chính
sách của Đảng, Nhà nƣớc, của ngành giáo dục và đào tạo có liên quan đến đề
tài nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu, các tài liệu khoa học...
7.2. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi: Dùng phiếu hỏi để trƣng cầu
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học có nguồn gốc từ những
nghiên cứu tìm kiếm các mô hình phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo
viên. Kết quả của các nghiên cứu về vấn đề này xác định sinh hoạt chuyên
môn theo nghiên cứu bài học là một mô hình bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo
viên thông qua nghiên cứu thực tiễn quá trình dạy học của chính họ ở nhà
trƣờng; trong đó tập trung vào quan sát, phân tích việc họ của học sinh trong
mỗi bài học, từ đó giúp giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, nhận ra các vấn đề khó
khăn, hiểu rõ các nguyên nhân, học hỏi, tích lũy và hình thành những năng
lực, phẩm chất chuyên môn nhằm đảm bảo cơ hội học tập thực sự có ý nghĩa
cho từng học sinh ở từng bài học.
Về phƣơng diện thuật ngữ, thuật ngữ nghiên cứu bài học có nguồn gốc
trong lịch sử phát triển giáo dục Nhật Bản, với ý nghĩa nhƣ một biện pháp để
nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu, cải tiến
từng bài học cụ thể (Meiji, 1868 – 1992). Giai đoạn tiếp theo, nghiên cứu bài
học đƣợc xác định là một mô hình phát triển nghề nghiệp của giáo viên đƣợc
sử dụng rộng rãi trong các trƣờng học ở Nhật Bản. Mô hình này đã đƣợc giới
thiệu ở nhiều quốc gia khác nhau và nhận dƣợc sự ủng hộ nhiệt tình, Hiện
nay, nhiều nƣớc trên thế giới cũng áp dụng mô hình này nhƣ Mỹ, Đức, Úc,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan...
Khi đề cập đến sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, tác giả
Darling – Hammond (1998) nêu “sự phát triển chuyên môn kết nối với việc
học của HS và đổi mới chương trình phải được lồng sâu vào trong đời sống
hằng ngày của trường học”. Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa các tổ
7
chuyên môn trong trƣờng học, Ainscow (1998) đã nói“giáo viên thường có xu
hướng thảo luận vấn đề trong biên giới tổ chuyên môn dẫn đến không trao
đổi tự nhiên với đồng nghiệp ngoài tổ chuyên môn. Bởi vậy họ bị cô lập và dễ
dẫn đến nhà trường bị chia rẽ”. Nói về học tập của giáo viên trong tổ chuyên
Bên cạnh các tài liệu nghiên cứu về mặt lý luận, chúng ta còn gặp các
công trình biên soạn tài liệu tập huấn công tác TTCM các trƣờng trung học cơ
sở, trung học phổ thông của nhóm các tác giả Hoàng Đức Minh, Trần Thị
Minh Hằng, Nguyễn Thị Minh Phƣơng, Nguyễn Thị Tuyết Hạnh…Trong các
tài liệu này, tác giả đã đƣa ra khá đầy đủ, rõ ràng nội dung, biện pháp mang
tính thực tiễn giúp ích rất nhiều cho công tác quản lý các TTCM của ngƣời
CBQL.
Trong khuôn khổ Dự án Tăng cƣờng bồi dƣỡng giáo viên theo cụm và
quản lý nhà trƣờng tại Việt Nam của Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản
(JICA), Bộ Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Ninh
cũng đã đề cập rất sâu đến việc quản lý của Hiệu trƣởng đối với các hoạt động
của tổ chuyên môn trong nhà trƣờng, trong đó có trƣờng THPT. Năm 2014
Bộ GD&ĐT đã phát hành bộ tài liệu Hƣớng dẫn sinh hoạt tổ chuyên môn theo
định hƣớng nghiên cứu bài học trang bị cho CBQL và giáo viên các kỹ năng
cơ bản, cần thiết trong sinh hoạt chuyên môn để đảm bảo cho hoạt động sinh
hoạt chuyên môn trong trƣờng phổ thông mang lại hiệu quả thiết thực. Bộ tài
liệu này đã đƣợc triển khai đến tất cả các trƣờng phổ thông trên toàn quốc.
Nhìn chung, các tác giả khi nghiên cứu về quản lý hoạt động tổ chuyên
môn đã nêu rõ các vấn đề về nội dung, biện pháp, cách thức thực hiện công
việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn. Song các nghiên cứu chỉ đề cập các
vấn đề chung cho các trƣờng phổ thông, chƣa đề cập đến nội dung, biện pháp,
cách thức thực hiện quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trƣờng THPT. Do đó
9
luận văn này hƣớng đến nghiên cứu cụ thể thực trạng, nội dung, biện pháp
thực hiện quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở trƣờng THPT.
1.2. Các khái niệm chính đƣợc sử dụng trong nghiên cứu đề tài
1.2.1. Sinh hoạt chuyên môn ở trƣờng THPT
Sinh hoạt chuyên môn ở trƣờng THPT là hoạt động đƣợc thực hiện
- Về đặc điểm: sinh hoạt chuyên môn là hoạt động thƣờng xuyên ở
trƣờng học và là một trong những hình thức bồi dƣỡng chuyên môn, nghiệp
vụ và năng lực sƣ phạm cho giáo viên, giúp giáo viên chủ động lựa chọn nội
dung, hình thức và phƣơng pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tƣợng học
sinh của lớp/trƣờng.
- Về vai trò: sinh hoạt chuyên môn là hoạt động không thể thiếu đƣợc
trong hoạt động của nhà trƣờng. Thông qua hoạt động chuyên môn, giáo viên
đƣợc trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp và khơi gợi các ý tƣởng cho thiết
kế, thi công bài dạy góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học trong nhà trƣờng.
Hiện nay, sinh hoạt chuyên môn ở trƣờng THPT đƣợc thực hiện theo
nhiều hình thức khác nhau. Có thể kể đến một số hình thức nhƣ:
+ Sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề của tổ/nhóm chuyên môn:
Với hình thức này, sinh hoạt chuyên môn bao gồm việc triển khai học
tập các văn bản chỉ đạo về chuyên môn của cấp trên, tập huấn phƣơng pháp
dạy học và thƣờng do Ban giám hiệu triển khai. Ngoài ra, hình thức này còn
bao gồm cả việc tổ chức trao đổi, thảo luận, học tập các nội dung cụ thể gắn
với nhiệm vụ năm học và đặc điểm tình hình cũng nhƣ điều kiện thực tế của
mỗi nhà trƣờng nhƣ: nâng cao chất lƣợng hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp,
kinh nghiệm dạy một dạng bài, kiểu bài nào đó, kinh nghiệm bồi dƣỡng học
sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém... Những nội dung này thƣờng đƣợc giao
cho các giáo viên có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn tốt xây dựng thành
các báo cáo chuyên đề hay sáng kiến kinh nghiệm.
11
+ Sinh hoạt chuyên môn theo dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học:
Ở hình thức sinh hoạt chuyên môn này, các trƣờng THPT tổ chức
thƣờng xuyên hơn. Trong mỗi buổi dự giờ có sự tham gia của ban giám hiệu,
tổ trƣởng và hầu hết giáo viên trong tổ. Kết thúc buổi dự giờ, tổ chuyên môn
tiến hành thảo luận, rút kinh nghiệm về bài dạy và đánh giá xếp loại tay nghề
NCBH kéo giáo viên- những ngƣời đang làm việc đơn lẻ- trở lại làm việc
cùng nhau; (ii) NCBH là viên gạch đầu tiên cho xây dựng tình đồng nghiệp,
phát triển trƣờng học nhƣ một “cộng đồng học tập”; (iii) NCBH chuyển giáo
viên thƣờng làm những việc đã quen và cho rằng nó đang tốt sang xem xét lại
thực tế và điều chỉnh, thay đổi; (iv) giáo viên không thể thay đổi ngƣời khác
hoặc quá khứ nhƣng có thể thay đổi đƣợc bản thân và tầm nhìn ở hiện tại,
tƣơng lai nhờ NCBH.
Từ quan niệm về nghiên cứu bài học nêu trên, khái niệm sinh hoạt
chuyên môn theo nghiên cứu bài học đƣợc biểu đạt khá đa dạng. Trong khuôn
khổ nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả lựa chọn khái niệm sinh hoạt chuyên
môn theo nghiên cứu bài học của tác giả Vũ Thị Sơn.
Theo tác giả Vũ Thị Sơn, sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
nhƣ một hình thức linh hoạt chuyên môn lấy nghiên cứu, cải tiến thực tiễn
làm phƣơng tiện để tạo ra môi trƣờng cho các giáo viên học tập từ chính quá
trình cùng quan sát, phân tích và suy ngẫm về những cái diễn ra trong những
giờ học thực.
Nhƣ vậy, sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động
giáo viên cùng nhau học tập từ thực tế việc học của học sinh. Ở đó, giáo viên
cùng nhau thiết kế kế hoạch dạy học, cùng nhau dự giờ, quan sát, suy ngẫm
và chia sẻ (tập trung chủ yếu vào việc học của học sinh) bài học, đồng thời
đƣa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, câu hỏi, các nhiệm vụ
học tập mà giáo viên đƣa ra có ảnh hƣởng đến việc học của học sinh. Trên cơ
13
sở đó, giáo viên đƣợc chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh
nội dung, phƣơng pháp dạy học vào bài học hàng ngày một cách hiểu quả.
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động sinh hoạt chuyên
môn mà ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến ngƣời
học trong một bài học nhƣ: học sinh học bài học này nhƣ thế nào, học sinh
nghiên cứu chúng tôi thấy khái niệm quản lý bao hàm ý nghĩa chung đó là:
- Quản lý là các hoạt động tác động để đảm bảo mục đích chung là
hoàn thành công việc qua sự nỗ lực của các cá thể trong tổ chức. Đối tƣợng
tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh nhƣ một cơ thể sống
gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định tồn tại trong
thời gian, không gian cụ thể. Ví dụ: Một doanh nghiệp, một trƣờng THPT,
một thành phố, một tỉnh, một quốc gia…
- Quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết
định đúng quy luật, hợp thời điểm và có hiệu quả của quản lý nhƣng cũng
phải tuân theo những nguyên tắc nhất định hƣớng đến mục tiêu đó là đảm bảo
sự phối hợp chặt chẽ và ăn ý những nỗ lực của các cá thể nhằm đạt đƣợc mục
đích chung của tổ chức hay nói cách khác là nguyên tắc đảm bảo phát huy cao
độ năng lực của các cá nhân trong tổ chức để đạt đƣợc mục đích chung.
- Hệ thống quản lý bao giờ cũng gồm 2 phân hệ là: Chủ thế quản lý và
khách thể quản lý (ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý). Tác động quản lý là
tác động có định hƣớng, có tổ chức mang tính tổng hợp bao gồm nhiều giải
pháp khác nhau thông qua cơ chế quản lý để sử dụng có hiệu qủa cao nhất
nguồn lực sẵn có của tổ chức trong điều kiện nhất định nhằm đảm bảo cho hệ
thống ổn định phát triển và đạt đƣợc mục tiêu đã định.
- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lƣợng sản phẩm vì lợi ích phục
vụ con ngƣời. Ngƣời quản lý tựu trung lại là nghiên cứu khoa học nghệ thuật
giải quyết các mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau vô cùng phức tạp không
15
chỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn trong mối quan hệ tƣơng
tác với các hệ thống khác nhằm hƣớng đến mục tiêu chung của tổ chức mình.
- Quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn đƣợc thực hiện liên tiếp, đan
xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý.
1.3.1. Sự hình thành và phát triển mô hình sinh hoạt chuyên môn theo
hướng nghiên cứu bài học
Các chƣơng trình phát triển chuyên môn cho giáo viên đã đƣợc tiến
hành trên khắp thế giới. Thông thƣờng đó là các khóa tập huấn ngắn hạn
hƣớng tới việc giải quyết các nhu cầu tức thì của lớp học (Day, 2002). Tuy
nhiên, mặc dù đã có những nỗ lực cho các hoạt động phát triển chuyên môn,
những gì mà các giáo viên trong các khóa học này học đƣợc có lẽ không biến
thành những thay đổi trong công việc hàng ngày của họ (Webster-Wright,
2009). Việc học tập chuyên môn hiệu quả tiếp tục trong một thời gian dài và
lý tƣởng nhất là đƣợc đặt trong một cộng đồng ủng hộ việc học tập (WebsterWright, 2009). Darling-Hammond (1998) cũng chỉ ra rằng để phát triển
chuyên môn gắn với việc học tập của học sinh và đổi mới chƣơng trình, nó
phải đƣợc gắn chặt vào cuộc sống hàng ngày của trƣờng học. Điều này đòi
hỏi giáo viên phải nghiên cứu, tìm hiểu hàng ngày bằng cách chia sẻ các đối
thoại, kinh nghiệm và một loạt các bƣớc để tìm ra cấu trúc trong các bài dạy
mà họ chia sẻ, trong khi vẫn coi trọng lịch sử và văn hóa của chính họ
(Cochran-Smith and Lytle, 2001).
Để có thể xây dựng một cộng đồng hay văn hóa nhƣ vậy, việc giáo viên
cùng nhau dự giờ và cùng nhau suy ngẫm về bài dạy của họ ở cấp độ lớp học
ngày càng trở nên quan trọng đối. Sở dĩ nhƣ vậy vì giáo viên thƣờng có đƣợc
phần lớn các ý tƣởng của họ thông qua thực tiễn dạy học của bản thân họ và
của cả đồng nghiệp (Barth, 1990; Joyce and Showers, 2002). Vì vậy, việc thu
17
hút toàn trƣờng vào các chƣơng trình phát triển chuyên môn là điều quan
trọng. Little (2001) chỉ ra rằng các nhà trƣờng có những môi trƣờng học tập
mang tính hỗ trợ nhất cho học sinh có xu hƣớng coi trọng việc phát triển
chuyên môn cho giáo viên. Hawley and Valli (1999) nói rằng những trƣờng
học nhƣ vậy thƣờng có các mục tiêu chung, cảm giác hiệu quả và cam kết
giữa các giáo viên, và có văn hóa hợp tác.
trợ phát triển bởi Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA). JICA ban hành
các tài liệu hƣớng dẫn nhấn mạnh rằng việc dạy toán và khoa học có thể tạo ra
các lợi thế so sánh cho các giáo viên trong quá trình nâng cao chất lƣợng giáo
dục (JICA, 2005) và rằng nghiên cứu bài học thƣờng xuyên đƣợc sử dụng
(JICA, 2007).
1.3.2. Quá trình triển khai mô hình sinh hoạt chuyên môn theo nghiên
cứu bài học ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong một thời gian dài, việc sinh hoạt chuyên môn
(SHCM) trong nhà trƣờng đƣợc tổ chức dƣới nhiều hình thức khác nhau,
trong đó hình thức SHCM theo kiểu dự giờ và rút kinh nghiệm tiết dạy đƣợc
thực hiện thƣờng xuyên nhằm phát triển năng lực chuyên môn và nghiệp vụ
cho đội ngũ giáo viên (GV). Trong SHCM truyền thống, hình thức này đƣợc
tổ chức theo một quy trình tƣơng đối thống nhất. Trƣớc tiên nhà trƣờng phân
công giáo viên chuẩn bị bài, sau đó lên lớp dạy minh họa, rồi tổ chức rút kinh
nghiệm tìm ra những ƣu điểm, hạn chế và sau cùng xếp loại giờ dạy. Với cách
tổ chức nhƣ vậy chƣa thu hút sự tham gia tích cực của đội ngũ giáo viên trong
nhà trƣờng. Chính vì vậy mà năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ
giáo viên phát triển rất hạn chế. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên
nhân cơ bản là cán bộ quản lý, giáo viên chƣa xác định đúng mục đích, ý
nghĩa của SHCM. Họ cho rằng việc tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm sau đó để