LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thảo
Sinh viên lớp K34 GDTC – GDQP, trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, chưa được bảo vệ trước
Hội đồng khoa học nào. Toàn bộ các vấn đề đưa ra bàn luận, nghiên cứu, đều
mang tính thời sự, cấp thiết đúng với thực tế khách quan ở trường THPT Kim
Anh – Sóc Sơn – Hà Nội.
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Thảo
DANH MỤC VIẾT TẮT
GDTC
: Giáo dục thể chất
TDTT
: Thể dục thể thao
THPT
: Trung học phổ thông
XPC
: Xuất phát cao
XPT
STT
: Số thứ tự.
TN
: Thực nghiệm
ĐC
: Đối chứng
TTN
: Trước thực nghiệm
STN
: Sau thực nghiệm
TĐ
: Thời điểm
(s)
: Giây
THL
Kim Anh
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và
học tập môn GDTC
Bài tập phát triển sức nhanh trong chạy 100m đang
được trường THPT Kim Anh áp dụng
Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nam đội tuyển
điền kinh trường THPT Kim Anh năm học 2008 2009
Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nam đội tuyển
điền kinh trường THPT Kim Anh năm học 2009 2010
Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển phát
triển sức nhanh (n=20)
Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức
nhanh (n=20)
Kết quả các test kiểm tra trước thực nghiệm của 2
nhóm (nA = nB =8)
Tiến trình thực nghiệm
Kết quả các test kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm
(nA = nB = 8)
Biểu diễn kết quả chạy 30m TĐC trước và sau thực
nghiệm của 2 nhóm
Biểu diễn kết quả của chạy 60m XPT trước và sau
thực nghiệm 2 nhóm
Biểu diễn kết quả nâng cao đùi tại chỗ 15 giây trước
và sau thực nghiệm của 2 nhóm
Biểu diễn kết quả chạy 100m trước thực nghiệm và
sau thực nghiệm của 2 nhóm
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xã hội ngày nay, khi chất lượng cuộc sống đã và đang từng bước
được nâng cao, thì nhu cầu về sức khỏe nói chung và tập luyện thể dục thể
thao (TDTT) nói riêng càng được quan tâm nhiều hơn. TDTT là một công cụ
để nâng cao sức khỏe, tạo điều kiện cho người lao động phát triển một cách
toàn diện. Bác Hồ cũng đã nói: “Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể
tráng kiện” [6], muốn phát triển trí óc thì trước hết con người phải khỏe
mạnh. Và cũng vì lí do: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống
mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân
yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt; mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước
mạnh khỏe. Vậy nên tập luyện thể dục, bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của
mỗi người dân yêu nước” [6].
Nghị quyết Trung ương II khóa VIII của Đảng khẳng định mục tiêu của
Giáo dục và Đào tạo là nhằm tạo ra một lớp người: “Phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” [7].
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sức khỏe và thể chất cho những người
lao động mới, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngoài ra, thể thao còn là phương tiện để giao lưu văn hóa, thắt chặt
thêm tình đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới, củng cố và tăng cường sự
hợp tác, giao lưu văn hóa và phát triển của mỗi quốc gia. Trong mỗi thời kì
Đại hội TDTT của khu vực và quốc tế, tinh thần thể thao cũng góp phần đem
lại sự gắn kết giữa các dân tộc và hòa bình cho các quốc gia. Vị trí thứ 3 trong
khu vực với những tấm huy chương vàng của Vũ Thị Hương (100m, 200m tại
Seagame 2007) và gần đây nhất là tấm huy chương bạc của Hoàng Anh Tuấn
(môn cử tạ) tại Olympic Bắc Kinh 2008. Đó là những bằng chứng thuyết phục
cho sự phát triển của thể thao Việt Nam cho dù sự phát triển đó còn gặp nhiều
khó khăn.
1.1. Tác dụng của thể dục thể thao
Tác dụng nổi bật và chuyên biệt của TDTT thể hiện ở sự phát triển các
tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự mềm dẻo khéo léo) và bồi
dưỡng kĩ năng, kĩ xảo khác trong lao động, quân sự và sinh hoạt sau này.
Người tập TDTT thường có thân hình cân đối, nở nang, cơ bắp phát
triển khỏe mạnh. Tập luyện TDTT thường xuyên sẽ tránh được các bệnh về
tim mạch. Người tập thường xuyên thì tim sẽ khỏe hơn và to hơn bình
thường. Theo những tài liệu của tổ chức Y tế thế giới trong 65 năm trở lại đây
số người mắc bệnh tâm thần tăng 24 lần, nhồi máu cơ tim tăng 60 lần ở tuổi
35 - 44. Đó là 2 bệnh có liên quan nhiều với tình trạng thiếu vận động và ảnh
hưởng bởi mặt trái của nền văn minh hiện đại.
Thể chất tốt là một trong những điều kiện để học tập, lao động đạt hiệu
quả cao hơn. Có công trình nghiên cứu đã tính được rằng: Người khỏe thì học
kĩ năng lao động nhanh và dễ hơn người bình thường khoảng 2 - 5%, hồi phục
sau lao động cũng nhanh hơn.
Khoa học kĩ thuật càng hiện đại (cơ giới hóa, tự động hóa sản xuất…)
thì hiện tượng đói vận động ngày càng phát triển, TDTT giúp con người khắc
phục sự mất cân bằng đó làm cho tinh thần thêm tinh nhạy, chính xác trong
suy nghĩ và điều chỉnh máy móc.
Những ngày Hội thể thao hấp dẫn như Olympic được truyền thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng có ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng, tình
cảm của hàng tỷ người trên hành tinh. Qua đó, cũng giáo dục con người biết
thưởng thức cái đẹp của thể thao, không chỉ về hình thể, trang phục, phương
tiện mà còn cả sự hoàn thiện các tố chất thể lực. Những trận thi đấu ở trình độ
cao và sôi nổi càng dễ tạo ra những giá trị chân chính về cái đẹp của thể thao.
TDTT sẽ góp phần xây dựng con người hoàn thiện “Phát triển cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo
đức”[6]. Đó là hoạt động hấp dẫn, phổ biến rộng rãi giúp con người và các
1.3. Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THPT
1.3.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
Ở lứa tuổi này các em tỏ ra mình là người lớn, đòi hỏi sự tôn trọng từ
mọi người xung quanh. Các em có nhu cầu cao về hoạt động ngoại khoá, chủ
động tìm hiểu cuộc sống xung quanh, có nhiều hoài bão, ước mơ.
Ở lứa tuổi này do quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế nên
các em tiếp thu cái mới một cách nhanh chóng nhưng chóng chán, mau quên,
các em dễ bị tác động bởi môi trường xung quanh.
Về hứng thú: các em đã có thái độ tự giác, tích cực trong học tập xuất
phát từ động cơ học tập đúng đắn và thái độ lựa chọn nghề nghiệp sau này.
Song hứng thú học tập do nhiều động cơ khác nhau, đua với bạn bè, tự ái,
hiếu danh… cho nên khi giảng dạy giáo viên cần giúp cho các em xây dựng
động cơ đúng đắn để các em có hứng thú học tập các môn học nói chung và
môn GDTC nói riêng.
Về tình cảm: các em đã bộc lộ rõ về tình cảm của bản thân với mái
trường mình gắn bó, với thầy cô giáo đã dạy các em. Vì vậy, việc giáo viên
gây được thiện cảm và sự tôn trọng của các em là một trong những thành
công giúp giáo viên có nhiều thuận lợi trong giảng dạy, thúc đẩy các em tự
giác, tích cực trong học tập.
Về trí nhớ: các em ở lứa tuổi này hầu như khômg tồn tại việc ghi nhớ
máy móc, do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic chặt
chẽ và lĩnh hội được bản chất vấn đề cần học tập.
Do đó, cần có định hướng, nhắc nhở và chỉ bảo các em hoàn thành tốt
nhiệm vụ, kèm theo khen thưởng động viên đúng mức đối với các em.
1.3.2. Đặc điểm sinh lý của học sinh THPT
Ở lứa tuổi này các em có sự phát triển mạnh mẽ về cấu trúc và chức
năng của cơ thể.
Hệ xương: thời kì này xương các em phát triển mạnh cả về chiều dài
Nội dung huấn luyện thể thao nói chung hay Điền kinh nói riêng là quá
trình huấn luyện về các mặt: Thể lực, kĩ - chiến thuật, đạo đức, ý chí, tâm lí và
lí luận. Tất cả các mặt này đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau và tạo
thành một quá trình thống nhất của việc hoàn thiện thể thao cho VĐV điền
kinh. Qua trình này được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương tiện,
phương pháp huấn luyện chung, huấn luyện chuyên môn và các hình thức
khác nhau của LVĐ trong tập luyện và thi đấu.
1.4.2. Các giai đoạn huấn luyện điền kinh
Trong quá trình huấn luyện điền kinh nói chung và huấn luyện chạy cự
ly ngắn nói riêng đều có 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn huấn luyện ban đầu.
+ Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu.
+ Giai đoạn chuyên môn hóa sâu.
+ Giai đoạn hoàn thiện thể thao.
Mỗi giai đoạn đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ riêng đáp ứng với
nhu cầu và mục đích huấn luyện VĐV.
* Giai đoạn huấn luyện ban đầu
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là phát triển thể lực toàn diện của
các em, dạy cho các em những bài tập khác nhau, gây cho chúng sự ham thích
thể thao đặc biệt là Điền kinh.
Trong giai đoạn huấn luyện này phương pháp trò chơi chiếm ưu thế vì
nó không chỉ dùng để phát triển tốc độ mà còn để tăng cường sức mạnh, khả
năng phối hợp vận động và sức bền. Trong giai đoạn huấn luyện ban đầu còn
có các bài tập nhằm phát triển tổng hợp các tố chất thể lực của VĐV. Kết thúc
giai đoạn huấn luyện ban đầu, những em có chỉ số kiểm tra tốt sẽ được
chuyển tiếp vào giai đoạn huấn luyện tiếp theo.
* Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là: huấn luyện thể lực toàn diện,
tạo chuyên môn cũng như các bài tập thi đấu. Tổng khối lượng và cường độ
tăng nhiều hơn so với giai đoạn trước, khối lượng các cuộc kiểm tra thi đấu
cũng tăng lên rõ rệt và trở thành nội dung không thể thiếu được trong kế
hoạch huấn luyện. Hệ thống tập luyện và thi đấu ngày càng trở nên cá biệt
hóa, đào tạo thể thao phần lớn gắn liền với thành tích thể thao. Do đó, đòi hỏi
VĐV phải dành nhiều thời gian và công sức, dồn nhiều tâm trí để tập luyện và
thực hiện chế độ sinh họat phù hợp, có kế hoạch để đạt được thành tích cao
nhất.
* Giai đoạn hoàn thiện thể thao
Ở giai đoạn này LVĐ trong huấn luyện tương ứng với thi đấu càng lớn
và việc tuân thủ theo nguyên tắc thích hợp càng nghiêm ngặt thì thành tích
càng cao. Vì vậy, cần đặc biệt thận trọng đến mối quan hệ giữa khối lượng và
cường độ của LVĐ trong huấn luyện.
Việc huấn luyện chạy ngắn đẳng cấp cao khác với huấn luyện cấp thấp
hơn cả về nhiệm vụ, nội dung và sự phân chia LVĐ. Khi bắt đầu lập kế hoạch
huấn luyện cần phân tích và làm rõ những mặt mạnh, mặt yếu trong thi đấu
của VĐV, những khâu còn yếu trong huấn luyện thể lực và kĩ thuật, LVĐ
khác nhau của chu kì năm.
Tất cả những tài liệu này cho phép HLV lựa chọn thận trọng hơn các
phương tiện huấn luyện (để sửa chữa những khuyết điểm) khối lượng và
cường độ trong chu kì huấn luyện nhiều năm. Qua nghiên cứu các nhà lí luận
chuyên ngành điền kinh khẳng định rằng: Giai đoạn huấn luyện ban đầu là
giai đoạn làm cơ sở nền tảng và giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là giai
đoạn huấn luyện cơ bản trong quá trình huấn luyện. Bởi vì giai đoạn huấn
luyện ban đầu là huấn luyện kĩ năng khéo léo phối hợp động tác phát triển sức
nhanh, nắm được kĩ thuật sơ bộ, còn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là
giảng dạy kĩ thuật phát triển sức mạnh của động tác và tốc độ chạy, tăng sức
mạnh tốc độ. Củng cố sức khỏe và rèn luyện sự bền bỉ dẻo dai của cơ thể.
trong thời gian ngắn nhất trong các điều kiện quy định.
Sức nhanh động tác là một trong những cơ sở quyết định thành tích
trong nhiều môn thể thao có chu kì.
Trong các môn thể thao có chu kì, sức nhanh động tác cũng đặc biệt
quan trọng đối với toàn bộ hoặc đối với các tình huống từng phần trong các
môn chạy cư ly ngắn, cũng như trong giai đoạn tăng tốc và xuất phát trong
đua thuyền, đua ca nô và bơi.
Các tiền đề quan trọng cho sức nhanh là tính linh hoạt của các quá trình
thần kinh, sức nhanh - nhanh, khả năng kéo căng kéo giãn, tính đàn hồi và
khả năng thả lỏng của các cơ, ý chí tinh thần và các cơ chế sinh hóa.
* Tính linh hoạt của các quá trình thần kinh
Chỉ khi nào thay đổi một cách nhanh nhất giữa hưng phấn và ức chế
trong những sự điều hòa tương ứng của hệ thần kinh cơ, kết hợp dùng lực tốt
nhất thì mới có thể đạt được một tốc độ động tác cao và tần số động tác tối đa.
* Năng lực sức mạnh nhanh
Là tỉ lệ sức mạnh - nhanh, trong sức nhanh phản ứng đặc biệt trong sự
tăng tốc cao, lúc xuất phát và khả năng nhanh chóng đạt tốc độ cao, như trong
chạy cự li ngắn, đua xe đạp cự li ngắn, đua thuyền, đua ca nô và trong phần
lớn các môn bóng. Về phương diện sinh hóa, sức nhanh phụ thuộc một cách
đặc biệt vào các nguồn dự trữ năng lượng trong cơ và mức độ của sự huy
động năng lượng hóa học ở dạng yếm khí.
* Tính đàn hồi của cơ
Khả năng kéo dãn, tính đàn hồi và khả năng thả lỏng của các cơ hoạt
động thay đổi nhau trong các bài tập sức nhanh. Nếu các tính chất này không
được phát triển đầy đủ thì không thể đạt được biên độ động tác cần thiết và
các cơ đồng vận phải khắc phục một lực cản rất lớn trong quá trình thực hiện
động tác đặc biệt ở những điểm tiếp của động tác. Do đó, các bài tập kéo dãn
và thả lỏng phải luôn luôn là thành phần của huấn luyện nhằm phát triển sức
trong chạy cự li ngắn, cơ chỉ hoạt động tích cực ở những điểm cuối cùng của
biên độ động tác. Động năng được truyền cho một bộ phận nào đó của cơ thể,
sau đó bị triệt tiêu khi các cơ đối kháng tham gia hoạt động và truyền cho bộ
phận này một gia tốc theo hướng ngược lại. Trong động tác tốc độ lớn, hoạt
tính của cơ diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và
thực tế cơ hoạt động theo chế độ đẳng trường.
Tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của 2 quá trình thần kinh
hưng phấn và ức chế được chi phối bởi 3 yếu tố: cường độ, độ cân bằng và độ
linh hoạt. Những ai trong thành phần cơ có nhiều sợi cơ trắng thì phát triển
sức nhanh. Những ai trong thành phần cơ có nhiều sợi cơ đỏ thì phát triển sức
mạnh.
Do đó, cơ sở sinh lý phát triển sức nhanh là tăng cường độ linh hoạt và
tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh và bộ máy vận động tăng
cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao khả năng thả lỏng.
Theo quan điểm sinh hóa, sức nhanh phụ thuộc vào hàm lượng ATP
trong cơ và tốc độ phân giải ATP dưới ảnh hưởng của xung động thần kinh
cũng như vào tốc độ tái tổng hợp nó. Vì các bài tập tốc độ diễn ra trong
khoảng thời gian rất ngắn, nên quá trình tổng hợp ATP hầu như được thực
hiện theo cơ chế yếm khí. Trong các bài tập như chạy 100m - 200m, bơi 25m
- 50m thì 90% năng lượng hoạt động của cơ được tạo ra bằng sự cung cấp
năng lượng yếm khí. Do đó, có sự nợ dưỡng rất lớn và thời gian trả nợ dưỡng
có thể kéo dài hàng chục phút.
1.6. Phƣơng pháp rèn luyện sức nhanh
1.6.1. Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản
Phản ứng vận động đơn giản là sự đáp lại tín hiệu biết trước nhưng xuất
hiện đột ngột bằng động tác định trước (ví dụ: phản ứng với tiếng súng lệnh
trong xuất phát). Sức nhanh phản ứng vận động có ý nghĩa thực dụng rất lớn.
Sức nhanh phản ứng vận động có khả năng “chuyển” rất cao: những người có
đơn giản đến phức tạp và tiến hành theo cách tăng dần số lượng biến đổi tình
huống có thể xảy ra.
1.6.3. Phương pháp rèn luyện sức nhanh tần số động tác
Mặc dù phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng tốc độ tối đa phụ thuộc chủ
yếu vào tính linh hoạt của các quá trình thần kinh. Suy rộng ra, thì tốc độ chủ
yếu phụ thuộc vào tần số động tác. Như vậy, bản chất của rèn luyện tốc độ là
tác động nâng cao tần số động tác. Phương tiện rèn luyện sức nhanh tần số là
các bài tập, các bài tập này phải thỏa mãn 3 yêu cầu:
+ Kĩ thuật động tác cho phép thực hiện với tốc độ giới hạn.
+ Kĩ thuật bài tập đã được tiếp thu tới mức kĩ xảo.
+ Thời gian bài tập tương đối ngắn (không quá 20 - 22 giây) để tốc độ
không bị giảm sút ở cuối cự li.
Về nguyên tắc, cần tạo điều kiện phát huy tần số động tác tối đa. Các
thành phần LVĐ và quãng nghỉ trong các phương pháp rèn luyện tốc độ đều
phải hướng tới tần số tối đa.
Như vậy, để giáo dục phát triển sức nhanh một cách hoàn chỉnh thì cần
đưa vào các nội dung bài tập phong phú đa dạng và đảm bảo tính khoa học
toàn diện trên cơ sở lí luận, dựa trên tâm sinh lí lứa tuổi.
1.6.4. Mối quan hệ giữa các tố chất thể lực trong việc nâng cao thành tích
chạy 100m
Giáo dục sức nhanh trong chạy cự li ngắn nói chung và trong chạy
100m nói riêng có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn. Trong quá trình tập luyện
và thi đấu muốn đạt được thành tích cao ở chạy cư ly ngắn thì yếu tố hàng đầu
là họ phải được huấn luyện sức nhanh. Tuy nhiên, trong quá trình huấn luyện
nhằm nâng cao thành tích chạy 100m, chúng ta không chỉ quan tâm đến việc
huấn luyện các tố chất sức nhanh, mà ta còn phải chú ý đến việc huấn luyện
các tố chất thể lực khác. Một trong các tố chất có liên quan đến thành tích
chạy 100m là tố chất sức mạnh.
Cần phải sử dụng kết hợp các bài tập sức mạnh tốc độ với các bài tập
sức mạnh đơn thuần và lấy các bài tập sức mạnh đơn thuần làm cơ sở. Nếu
chỉ sử dụng các bài tập sức mạnh tốc độ thì tốc độ tối đa sẽ không được nâng
lên một cách đáng kể bởi vì trong các động tác nhanh thời gian tác động lên
hệ thần kinh cơ ngắn, xong khi tập sức mạnh đơn thuần để phát triển tốc độ
cần lưu ý rằng trong thời gian tập sức mạnh đơn thuần, tốc độ thường tạm thời
giảm đi. Chỉ qua 2 - 6 tuần, sau khi ngừng hoặc giảm đột ngột LVĐ đó thì tốc
độ mới bắt đầu tăng lên. Trong thời gian dừng bài tập sức mạnh đơn thuần
người ta sử dụng chủ yếu bài tập sức mạnh tốc độ.
Các bài tập sức mạnh chỉ ảnh hưởng tích cực tới sức nhanh khi chúng
tăng cường sức mạnh ở các động tác cần phát huy tốc độ tối đa. Trong rèn
luyện sức mạnh tốc độ cần lựa chọn lượng đối kháng lớn nhất nhưng vẫn
không làm rối loạn cấu trúc bài tập thi đấu. Có như vậy, mới tác động đồng
thời tới kĩ thuật và các tố chất thể lực.
Trong các động tác thực hiện với tốc độ cao, việc điều chỉnh sai sót
trong vận động rất khó. Vì vậy, thực hiện kĩ thuật bài tập với TĐC là nhiệm
vụ rất phức tạp và khó khăn. Mặt khác, giữa kĩ thuật và tốc độ tối đa tương
quan chặt chẽ với nhau. Do đó, huấn luyện kĩ thuật là một thành phần quan
trọng của rèn luyện tốc độ.
Trong thực tế người ta thường tiếp thu kĩ thuật bài tập tốc độ bằng hai
cách:
+ Dạy động tác với tốc độ chậm, sau đó tăng dần tốc độ tới mức cực
đại.
+ Tiếp thu kĩ thuật ngay với tốc độ cực đại.
Mỗi cách đều có lợi thế và nhược điểm riêng của nó. Trong trường hợp
đầu, động tác thực hiện với tốc độ chậm và tốc độ cao tuy giống nhau về đặc
tính không gian, nhưng khác nhau về thông số sức mạnh tốc độ. Trong trường
hợp thứ 2, người tập không thể cùng một lúc thực hiện 2 ý muốn: đúng và
CHƢƠNG 2
NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài, chúng tôi đề ra 2 nhiệm vụ cần giải
quyết:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC và việc sử dụng bài tập
phát triển sức nhanh cho nam đội tuyển điền kinh trường THPT Kim Anh –
Sóc Sơn – Hà Nội.
- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển
sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100m cho nam đội tuyển điền kinh trường
THPT Kim Anh – Sóc Sơn – Hà Nội.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên tôi dự kiến áp dụng các
phương pháp sau đây:
2.2.1. Phương pháp đọc và phân tích tài liệu tham khảo
Phương pháp này được sử dụng nhằm hình thành cơ sở lí luận, xây
dựng giả thuyết khoa học, xác định các mục tiêu, cơ sở để phân tích đánh giá
kết quả trong khi thực hiện đề tài. Tài liệu bao gồm: Sách giáo khoa, các văn
kiện, chính sách của Đảng và Nhà nước, các công trình nghiên cứu có liên
quan…..
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Sử dụng phiếu điều tra nhằm tổng hợp các ý kiến và kinh nghiệm từ
thực tiễn giảng dạy và huấn luyện của giáo viên bằng phiếu hỏi, các câu hỏi ở
mức độ quan trọng của từng bài tập nhằm tìm ra các bài tập hợp lí để nâng
cao hiệu quả huấn luyện.
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận được khách thể, đối tượng