THẢO LUẬN LUẬT HÌNH SỰ - PHẦN CÁC TỘI PHẠM LẦN 1
CỤM 2: CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM CON NGƯỜI
________________
I. TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN:
1. Hành vi cố ý trực tiếp tước bỏ tính mạng người khác trái pháp luật không gây ra hậu quả chết
người thì không cấu thành Tội giết người (Điều 123, BLHS).
Nhận định này là sai.
Vì hành vi cố ý trực tiếp tước bỏ tính mạng người khác trái pháp luật không gây ra hậu quả chết người
thì vẫn cấu thành Tội giết người. Tội giết người được quy định tại Điều 123 BLHS 2015 là tội phạm có
cấu thành vật chất. Căn cứ vào Điều 123 BLHS thì hành vi cố ý trực tiếp tước bỏ tính mạng của người
khác sẽ cấu thành Tôi giết người cho dù hậu quả không xảy ra. Một người có hành vi cố ý trực tiếp tước
bỏ tính mạng của người khác trái pháp luật thì trong cấu thành tội phạm này dấu hiệu hậu quả không
phải là dấu hiệu mang ý nghĩa định tội. Hậu quả có chết người hay không trong trường hợp này có ý
nghĩa giúp cho việc xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa hoàn thành. Vì vậy, khi người phạm tội có
hành vi cố ý trực tiếp tước bỏ tính mạng của người khác trái pháp luật mà không gây ra hậu quả thì vẫn
cấu thành Tội giết người.
2. Động cơ đê hèn là dấu hiệu định tội của Tội giết người (Điều 123 BLHS).
Nhận định này là sai.
Động cơ đê hèn không là dấu hiệu định tội của Tội giết người (Điều 123 BLHS). Tội giết người có dấu
hiệu định tội là hành vi tước đoạt trái phép tính mạng của người khác. Theo quy định tại Điểm q, Khoản
1, Điều 123, BLHS thì động cơ đê hèn là dấu hiệu định khung tăng nặng của loại tội phạm này nó phản
ánh anh mức độ nguy hiểm hơn cho xã hội của tội phạm tăng lên đáng kể.
3. Mọi hành vi cố ý tước bỏ tính mạng của người khác đều cấu thành Tội giết người theo Điều 123
BLHS.
Nhận định này là sai.
Không phải mọi hành vi cố ý tước bỏ tính mạng của người khác đều cấu thành Tội giết người theo
Điều 123 BLHS. Vì trong một số ít trường hợp như làm chết người trong giới hạn phòng vệ chính đáng,
trong phạm vi yêu cầu của tình thế cấp thiết, thi hành án tử hình thì không xem là hành vi tước đoạt tính
mạng của người khác trái pháp luật. Cho nên những trường này sẽ không cấu thành Tội giết người.
4. “Giết phụ nữ mà biết là có thai” là trường hợp giết 02 người trở lên.
1
2
7. Hành vi giết trẻ em sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi thì chỉ cấu thành Tội giết con mới đẻ (Điều
124, BLHS).
Nhận định này là sai.
Theo Khoản 1, Điều 124, BLHS 2015 về Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ:
“1. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc
biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Theo quy định trên ta thấy, không phải hành vi giết trẻ sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi thì cũng cấu
thành Tội giết con mới đẻ (Điều 124, BLHS). Chủ thể của loại tội phạm này là chủ thể đặc biệt - người
mẹ do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khác quan đặc biệt mà có hành vi
giết con do mình đẻ ra trong vòng 7 ngày tuổi thì mới là chủ thể của tội giết con mới đẻ quy định tại
Điều 124, BLHS. Do vậy, nếu là chủ thể thường mà thực hiện hành vi giết trẻ sinh ra trong vòng 7 ngày
tuổi thì không cấu thành Tội giết con mới đẻ mà cấu thành Tội giết người (Điều 123, BLHS).
8. Mọi trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đều cấu thành Tội giết
người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125, BLHS).
Nhận định này là sai.
Theo quy định của Điều 125, BLHS về Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh:
“1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật
nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù
từ 06 tháng đến 03 năm”.
Theo quy định trên, không phải mọi trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
đều cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125, BLHS). Giết người
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cấu thành Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh khi có các dấu hiệu sau:
- Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái người phạm tội không hoàn toàn tự
chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình, không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi của mình. Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh thường phát sinh tức thì ngay
Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp (Điều 129 BLHS).
Nhận định này là đúng.
Vì trong một số lĩnh vực nghề nghiệp, hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp làm chết người là hành vi
khách quan của một số tội phạm khác như các Tội xâm phạm an toàn công cộng trong lao động sản xuất
(Điều 295); Trong lĩnh vực Y tế (Điều 315),… mà không phải chỉ là Tội vô ý làm chết người do vi phạm
quy tắc nghề nghiệp (Điều 129 BLHS).
11. Nạn nhân tử vong là dấu hiệu định tội của Tội bức tử (Điều 130, BLHS).
4
Nhận định này là sai.
Theo Khoản 1, Điều 130 BLHS về Tội bức tử có quy định:
“1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm
người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Nạn nhân tử vong không phải là dấu hiệu định tội của Tội bức tử mà chỉ quy định là hậu quả từ những
hành vi của người phạm tội là việc khiến nạn nhân tiến hành hành vi tự tử, hậu quả sau đó tức là việc nạn
nhân tử vong hay không thì không có dấu hiệu trong việc định tội.
Vì vậy, việc nạn nhân tử vong hay không thì không là dấu hiệu định tội của tội bức tử.
12. Hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của chính họ thì cấu
thành Tội bức tử (Điều 130 BLHS).
Nhận định này là sai.
Hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của chính họ không là hành vi
khách quan của Tội bức tử (Điều 130 BLHS). Theo quy định tại Điều 130, BLHS thì hành vi khách quan
cấu thành Tội này là hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ
thuộc mình làm người đó tự sát. Còn trong đối với hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước
đoạt tính mạng của chính họ thì là hành vi khách quan cấu thành Tội xúi giục người khác tự sát (Điều
131).
13. Cố ý tước đoạt tính mạng của người khác theo yêu cầu của người bị hại là hành vi cấu thành
Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS).
Câu nhận định này là sai.
17. Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác không chỉ cấu thành Tội cố ý gây thương
tích (Điều 134 BLHS).
Nhận định này là đúng.
Trong trường hợp hành vi cố ý gây thương tích còn là hành vi khách quan của các Tội khác như: Tội cố
ý gây thương tích cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135); Tội cố ý gây
thương tích cho người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết
khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136).
18. Gây cố tật nhẹ được hiểu chỉ là trường hợp gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới
11% nhưng đã làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân.
Nhận định này là sai.
6
Gây cố tật nhẹ được hiểu không chỉ là trường hợp gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%
nhưng đã làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân. Theo quy định Khoản 1, Phần I, Nghị quyết
02/2003/NQ-HĐTP thì ngoài trường hợp làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân thì còn có các
trường hợp khác như: làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt
động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân.
19. Hành vi vô ý gây thương tích cho người khác không chỉ cấu thành Tội vô ý gây thương tích
được quy định tại Điều 138 BLHS.
Tương tự câu 17.
II. BÀI TẬP:
Bài tập 1: Khoảng 19 giờ, T ra sân kho HTX xem biểu diễn ca nhạc. Khi đi, T dắt một lưỡi lê tự tạo
(lưỡi lê dài 15 cm rộng 2 cm). Chưa tới giờ biểu diễn nên một số thanh niên túm lại với nhau nói chuyện
ở phía cổng vào khu vực biểu diễn, khiến một số cháu nhỏ không thể đi qua được. Thấy vậy, T liền nói:
“Sao các anh đứng ngang thế?”. Hai bên va chạm, chửi nhau. A và B trong tốp thanh niên đó đã chạy
gọi thêm bạn bè để gây sự. Cả bọn quay trở lại gặp T thì ngay lập tức C túm áo T và thúc gối vào bụng
của T, còn A và B đấm vào mặt T làm môi T bị sưng. Các trật tự viên đã kịp thời ngăn cản và chấm dứt
sự va chạm. Một lát sau, T lại đến gần chỗ đứng của A, B và C để đôi co dẫn đến tiếp tục xô xát. Trong
lúc xô xát, T rút lưỡi lê ở thắt lưng đâm một nhát vào ngực C rồi bỏ chạy. Kết luận giám định pháp y xác
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi quy định).
T thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, việc này thể hiện qua việc T biết
hành vi đâm vào ngực trái nạn nhân là nguy hiểm, có thể khiến nạn nhân tử vong
nhưng vẫn thực hiện đâm nạn nhân.
Bài tập 2: Chị N sinh con nhưng đứa bé sinh ra bị dị tật bẩm sinh, không có chân tay. Lần đầu nhìn thấy
con, chị N đã bị sốc và ngất xỉu. 10 ngày sau khi sinh, do không làm chủ được mình, chị N lấy tay chùm
chăn, bịt mặt đứa bé cho đến khi không còn thấy nhịp tim đập nữa mới bỏ ra. Hậu quả đứa bé chết.
Anh (chị) hãy xác định hành vi của N có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?
Tội danh đối với hành vi của N là Tội giết người quy định tại Điều 123, BLHS.
Hành vi của N đã thoả mãn các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của tội danh này:
Khách thể
Dấu hiệu
- Khách thể: Tính mạng, quyền được sống của đứa bé.
- Đối tượng tác động: đứa bé – con người đang sống.
- Hành vi: Chị N lấy tay chùm chăn, bịt mặt đứa bé cho đến khi không còn thấy
nhịp tim đập nữa mới bỏ ra. Đứa bé lúc này đã được 10 ngày tuổi do vậy, không đủ
Mặt khách
quan
cấu thành Tội giết con mới đẻ (Điều 124) (đứa bé phải trong vòng 07 ngày tuổi).
- Hậu quả: đứa bé tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc chị N lấy tay chùm chăn, bịt
Chủ thể
Mặt chủ
quan
Dấu hiệu
- Khách thể: Tính mạng, quyền được sống của anh thanh niên.
- Đối tượng tác động: anh thanh niên bạn của C – con người đang sống.
- Hành vi: A đã nhặt một khúc gỗ bên lề đường to bằng cổ tay, dài 60cm, phang thẳng
vào đầu anh thanh niên đang ngồi trên xe gắn máy nhiều nhát cực mạnh.
Mặt khách
quan
- Hậu quả: anh thanh niên nọ bị chấn thương sọ não, chết trên đường cấp cứu tới bệnh
viện.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc A nhặt một khúc gỗ bên lề
đường phang thẳng vào đầu anh thanh niên nhiều nhát cực mạnh khiến anh thanh niên
Chủ thể
Mặt chủ
quan
bị chấn thương sọ não là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc anh thanh niên tử vong.
A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi quy định).
A thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, việc này thể hiện qua việc A
biết hành vi cầm khúc gỗ phang vào đầu nạn nhân là nguy hiểm, có thể khiến nạn
nhân tử vong nhưng vẫn thực hiện và phang nhiều lần vào đầu nạn nhân.
Bài tập 4: Hai gia đình là hàng xóm của nhau. Trong một gia đình có bà mẹ là K và cậu con trai tên là
H. Gia đình bên kia có ông cụ là A cùng hai con trai tên là B và C. Ban ngày các con đều đi làm nên ông
A thường hay qua nhà bà K chơi. Sau một thời gian, ông A mang gạo góp với bà K nấu cơm chung. B và
C không đồng ý vì cho là cha mình bị bà K dụ dỗ, đem tài sản cho bà K nên yêu cầu cha mình chấm dứt
quan hệ với bà K nhưng ông A không nghe và vẫn tiếp tục làm theo ý mình. B và C cho là sự bất đồng
sau, B dùng đuốc xông tới gần H và H nhanh chóng chém tiếp vào đầu C khiến C
chết tại chỗ. Ngay lúc này, quyền phòng vệ của H đã không phát sinh. Bởi trong lúc
này, nguồn nguy hiểm đã không còn đến từ C mà đến từ B nhưng H lại chém chết
C, do vậy không phát sinh quyền phòng vệ của H đối với C.
- Hậu quả: C chết tại chỗ.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc H chém vào đầu của C là
Chủ thể
Mặt chủ
quan
nguyên nhân trực tiếp khiến cho C chết tại chỗ.
H thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi quy định).
H thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, việc này thể hiện qua H biết
hành vi cầm dao chém đầu nạn nhân là nguy hiểm, có thể khiến nạn nhân tử vong
nhưng vẫn thực hiện.
10