Thảo luận hình sự lần 6 CỤM 3: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ - Pdf 47

THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN 6
CỤM 3: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ
________________
I. TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN:
27. Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng đã
đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa là hàng giả.
Nhận định này là sai.
Không phải hàng hoá nào có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng
đã đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa thì đều là hàng giả.
Căn cứ vào Điểm b, Khoản 1, Điều 4, NĐ 08/2013/NĐ-CP:
“b) Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính, tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật
cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng
ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;”
Theo quy định trên, chỉ có hàng hoá có hàm lượng, định lượng chất chính chỉ đạt mức từ 70% trở
xuống so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa thì
mới là hàng giả.
28. Không phải mọi loại hàng cấm đều là đối tượng tác động của các Tội sản xuất, buôn bán hàng
cấm (Điều 190 BLHS).
Nhận định này là đúng.
Không phải mọi loại hàng cấm đều là đối tượng tác động của Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm theo
Điều 190 của BLHS 2015.
Đối tượng tác động của tội này là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử
dụng, chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam thuộc một trong các trường hợp quy định tại các
điểm a, b, c, d, đ Khoản 1 Điều 190 BLHS 2015. Như vậy, hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh có
nhiều loại, nhưng một số loại đã là đối tượng tác động của các tội phạm quy định tại Điều 248, 251,
253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311của Bộ luật này thì không còn là đối tượng của Tội sản xuất, buôn
bán hàng cấm.
29. Hàng giả chỉ là đối tượng tác động của các tội phạm được quy định tại điều 192, 193, 194, 195
BLHS.
Nhận định này là sai.
1

phải thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành
chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới cấu
2


thành Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201 BLHS). Do vậy, nếu cho vay với lãi suất
gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất nhưng phải thu lợi bất chính không từ 30.000.000 đồng đến dưới
100.000.000 đồng hoặc chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này thì không cấu thành Tội
cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201 BLHS).

33. Không phải mọi hành vi in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước đều cấu
thành Tội in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 203 BLHS).
Nhận định này là đúng.
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 203, BLHS thì không phải mọi hành vi in trái phép hóa đơn, chứng từ thu
nộp ngân sách nhà nước đều cấu thành Tội in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
Theo đó, chỉ có hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà
nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới
30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng thì mới cấu thành tội này.
34. Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước qui định tại Điều 203
BLHS chỉ là hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ,
không chính xác theo qui định.
Nhận định này là sai.
Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước qui định tại Điều 203 BLHS không
chỉ là hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác
theo qui định. Ngoài hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ,
không chính xác thì còn có các hành vi khác như:
- Mua, bán hóa đơn đã ghi nội dung nhưng không có hàng hoá dịch vụ đi kèm.
- Mua, bán hóa đơn giả, hoá đơn chưa có giá trị sử dụng, hết hạn sử dụng, hoá đơn của cơ sơ kinh
doanh, dịch vụ khác để hợp thức hoá HH DV mua vào hoặc cấp cho khác hàng khi bán hàng hoá dịch
vụ.

Nhận định này là sai.
Vì không phải mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại Việt Nam đều
cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, mà chỉ các hành vi chiếm đoạt, sử dụng bất hợp
pháp các nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam thì mới cấu thành Tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp được qui định tại Điều 226 BLHS năm 2015.
Như vậy, theo quy định tại Khoản 1, Điều 226, hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo
nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến
dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000

4


đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới
500.000.000 đồng.
38. Mọi hành vi cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng
khoán đều cấu thành Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động
chứng khoán (Điều 209 BLHS).
Nhận định này là sai.
Không phải mọi hành vi cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động
chứng khoán đều cấu thành Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động
chứng khoán (Điều 209 BLHS). Theo quy định tại Khoản 1, Điều 209, hành vi cố ý công bố thông tin
sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán cấu thành Tội cố ý công bố thông tin sai
lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;
- Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin
trong hoạt động chứng khoán hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Do vậy, nếu có hành vi cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng
khoán nhưng không thuộc một trong các trường hợp trên thì không cấu thành Tội cố ý công bố thông

chứng khoán (Điều 211 BLHS).
41. Mọi hành vi sử dụng thông tin nội bộ để bán chứng khoán cho người khác đều cấu thành Tội
sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210 BLHS).
Nhận định này là sai.
Không phải mọi hành vi sử dụng thông tin nội bộ để bán chứng khoán cho người khác đều cấu thành
Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210 BLHS). Theo quy định tại Khoản 1,
Điều 210, BLHS, người nào biết được thông tin liên quan đến công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng
chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của công ty đại
chúng hoặc quỹ đại chúng đó mà sử dụng thông tin này để mua bán chứng khoán hoặc tiết lộ, cung cấp
thông tin này hoặc tư vấn cho người khác mua bán chứng khoán trên cơ sở thông tin này, thu lợi bất
chính hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư thì mới cấu thành Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán
chứng khoán. Do vậy, nếu hành vi sử dụng thông tin nội bộ để bán chứng khoán nhưng chưa được công
bố hoặc thu lợi bất chính chưa đủ số tiền quy định hoặc không gây thiệt hại cho chủ sơr hữu thì chưa
cấu thành tội này.

42. Hành vi cố ý khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để trốn thuế với số tiền
từ 100 triệu đồng trở lên thì cấu thành tội buôn lậu (Điều 188 BLHS).
Nhận định này là sai.
6


Hành vi cố ý khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để trốn thuế với số tiền từ 100
triệu đồng trở lên thì không cấu thành tội buôn lậu (Điều 188 BLHS). Hành vi cố ý khai sai về thuế đối
với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để trốn thuế với số tiền từ 100 triệu đồng trở lên sẽ thì cấu thành tội
buôn lậu (Điều 200 BLHS).
Ví dụ: Hành vi nhập khẩu xuất khẩu 100 xe ô tô đua mà khai sai thuế để áp thuế cho 100 xe ô tô chở
hàng. Lúc này Nhà nước vẫn quản lý được sô lượng hàng hoá nhập khẩu, nhưng do áp sai thuế nên làm
thất thoát ngân sách nhà nước hành vi này phạm Tội trốn thuế.
II. BÀI TẬP:
Bài tập 12:


Dấu hiệu
- Khách thể: quyền sở hữu tài sản của B.

- Đối tượng tác động: tài sản của B (có giá trị 2 triệu đồng trở lên).
Mặt khách - Hành vi: A dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của B, giả làm công an bắt
quan

quả tang việc B buôn hàng cấm đe dọa B, B tin tưởng rằng A là công an thật nên lo sợ
bị xử lí và đã giao tiền cho A.
- Hậu quả: gây thiệt hại cho B (làm B mất tài sản).
7


- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành vi của A là nguyên nhân trực
Chủ thể
Mặt chủ
quan

tiếp gây ra thiệt hại cho B.
A thoả mãn điều kiện về chủ thể - chủ thể thường (nếu đủ độ tuổi luật định).
A thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức rõ hành vi của mình ảnh hưởng quyền sở
hữu tài sản của B nhưng vẫn muốn thực hiện.

Bài tập 13:
Tội danh mà A đã phạm là Tội trộm cắp tài sản (Điều 173, BLHS).
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 , BLHS):
Khách

Dấu hiệu

Khách thể

Dấu hiệu
- Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của M.
- Đối tượng tác động: Xe máy của M - tài sản của M.
- Hành vi: B vờ đánh rớt cặp để M xuống xe nhặt giúp sau đó lợi dụng lúc M đang nhặt
cặp xách - M trong tình trạng không thể ngăn cản được hành vi của B, thì B phóng xe của

Mặt khách
quan

M đi mất
- Hậu quả: Gây nên thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu chiếc xe - M
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành vi của B là nguyên nhân dẫn đến
việc M không thể thức hiện các quyền của mình đối với chính tài sản của mình - chiếc xe

Chủ thể
Mặt chủ

của M.
B thỏa mãn điều kiện chủ thể của tội phạm này - chủ thể thường (nếu B dủ độ tuổi luật
định).
Lỗi: B thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp.
8


quan

B biết hành vi của mình là xâm phạm quyền sở hữu của M, nhưng B vẫn thực hiện.


định, mặt hàng trái cây được nhập khẩu không cần quota, chỉ cần doanh nghiệp nhập khẩu kê
khai đúng số lượng để là cơ sở xác định thuế nhập khẩu. Trong thời gian dài, H đã nhập khẩu nhiều
lần trái cây từ Campuchia về Việt Nam. H khai vào Tờ khai nhập khẩu số hàng trái cây nhập ít hơn so
với lượng trái cây thực nhập. Do quen biết nên A, B là nhân viên kiểm hóa hải quan không kiểm tra
hàng nhập khẩu như quy định mà cho thông quan các chuyến hàng do H nhập khẩu. T – chi cục trưởng
Chi cục hải quan cửa khẩu MB đã ký thông quan cho các chuyến hàng nhập khẩu của H sau khi cán
bộ kiểm hóa ký xác nhận đã kiểm tra hàng nhập khẩu. Kết quả điều tra xác định: trong thời gian nêu
trên, H đã thực nhập 876.938 kg trái cây và số tiền thuế nhập khẩu cần phải đóng là 6.621.873.923
đồng; trong khi đó H chỉ kê khai trên các Tờ khai nhập khẩu số lượng trái cây nhập khẩu là 78.050 kg
và số tiền thuế nhập khẩu hàng hóa mà H thực đóng là 473.006.528 đồng. Vì thế H đã hưởng lợi bất
chính được 6.148.867.395 đồng. Hãy xác định H có phạm tội hay không? Nếu có phạm tội gì? Tại
sao?
Tội danh mà công ty H đã phạm là Tội buôn lâu (Điều 188, BLHS).
Hành vi của công ty H đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội buôn lậu:
9


Khách thể

Dấu hiệu
Khách thể: xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế nhà nước về xuất khẩu, nhập
khẩu.
- Hành vi: Trong thời gian dài, H đã nhập khẩu nhiều lần trái cây từ Campuchia về
Việt Nam. H khai vào Tờ khai nhập khẩu số hàng trái cây nhập ít hơn so với lượng
trái cây thực nhập. Do quen biết nên A, B là nhân viên kiểm hóa hải quan không
kiểm tra hàng nhập khẩu như quy định mà cho thông quan các chuyến hàng do H

Mặt khách

nhập khẩu. T – chi cục trưởng Chi cục hải quan cửa khẩu MB đã ký thông quan

hàm lượng chỉ có 94,6% - hành vi này thuộc điểm e, khoản 1 Điều 200, BLHS.

quan

- Hậu quả: Công ty đã làm thất thu ngân sách nhà nước là 1 tỷ 450 triệu đồng.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành vi kê khai sai hàm lượng

của công ty A là nguyên nhân trực tiếp làm thất thu ngân sách nhà nước.
Chủ thể
Công ty A thoả mãn điều kiện về chủ thể của tội phạm này.
Mặt chủ quan Lỗi cố ý trực tiếp.

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status