Thảo luận hình sự lần 5 CỤM 3: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ - Pdf 47

THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN 5
CỤM 3: CÁC TỘI PHẠM VỀ KINH TẾ
_________________
I. TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN:
1. Hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là
hành vi chiếm đoạt tài sản.
Câu nhận định này là sai.
Vì hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu không chỉ
là hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn là hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của con người.
2. Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Câu nhận định này là sai.
Rừng không chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Rừng có thể là
đối tượng tác động của các tội phạm khác nhau:
- Nếu rừng là rừng phòng hộ, rừng sản xuất, rừng tự nhiên hoặc rừng trồng mà có vốn từ nhà nước thì
là đối tượng của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo
vệ rừng và lâm sản – Điều 232, BLHS).
- Nếu có hành vi huỷ hoại rừng thì có thể là đối tượng tác động của các tội phạm về môi trường (Tội
huỷ hoại rừng – Điều 243, BLHS).
- Nếu là rừng trồng của hộ cá nhân, gia đình tổ chức thì là đối tượng tác động của tội phạm sở hữu.
3. Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở
hữu.
Nhận định này là đúng.
Đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu là tài sản. Tuy nhiên, tài sản đó phải là một trong các
loại tài sản như sau:
+ Tài sản đó phải là vật có thực (là sản phẩm lao động của con người, không có tính năng đặc biệt, có
giá trị và có chủ sở hữu).
+ Tiền.
+ Giấy tờ trị giá được bằng tiền và phải là giấy tờ có giá vô danh.

1


2


6. Hành vi giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội cướp tài sản với tình tiết định
khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS).
Nhận định này là sai.
Hành vi giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ không cấu thành Tội cướp tài sản với tình tiết định
khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS).
Tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS) được
áp dụng khi một người có mục đích cướp tài sản còn tình tiết làm chết người chỉ là do vô ý – Đây là
trường hợp hỗn hợp lỗi. Còn trong trường hợp giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội
đã cố ý xâm phạm đến 2 đối tượng là tính mạng và tài sản, do vậy sẽ cấu thành 2 tội riêng biệt: Tội giết
người (Điều 123) và Tội cướp tài sản (Điều 168).
7. Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) chỉ tác động đến người đang
quản lý tài sản.
Nhận định này là sai.
Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) không chỉ tác động đến người đang
quản lý tài sản. Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản phải nhằm vào con người: có thể là chủ tài
sản, người đang quản lý tài sản, người bảo vệ tài sản, hoặc bất kỳ ai mà người phạm tội cho rằng họ
đang hoặc sẽ cản trở việc chiếm đoạt của mình.
8. Đối tượng tác động của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) chỉ là tài sản.
Nhận định này là sai.
Đối tượng tác động của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) không chỉ là tài sản. Ngoài đối tượng tác
động là tài sản thì đối tượng tác động của Tội cướp tài sản còn là con người.
9. Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành vi cấu thành cả
hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS).
Nhận định này là sai.
Xét trong 2 trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Nếu người phạm tội cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của nạn nhân nhưng vô ý
với hậu quả chết người thì trong trường hợp này hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn

13. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người
phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.
Nhận định này là sai.
4


Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác. Do đó,
hành vi khách quan của Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS thì chỉ cần lén lút đối với người đang
quản lý tài sản chứ không cần phải thực hiện lén lút đối với tất cả mọi người.
14. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ
cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).
Câu nhận định này là sai.
Vì chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi không phải
chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà còn có thể cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm nhằm
chiếm đoạt tài sản (Điều 175, BLHS). Trong Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hành vi khách quan để
cấu thành tội phạm là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối như đưa ra những thông tin
không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói, xuất trình giấy tờ giả
mạo,… khiến cho nạn nhân tin tưởng và tự nguyện giao tài sản, thủ đoạn gian dối của người phạm tội
bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại. Còn nếu trong trường hợp, người
phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng (vay, mượn, thuê) nhưng sau đó có
các biểu hiện gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ cấu thành tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đọat tài
sản (Điều 175). Như vậy, gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải
mọi hành vi gian dối đều cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
15. Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc
nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu
đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).
Câu nhận định này là sai.
Vì không phải mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác
hoặc được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở
lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS 2015). Hành vi không

18. Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS) được coi là hoàn thành vào thời điểm chủ
thể ngẫu nhiên chiếm hữu được tài sản.
Nhận định này là sai.
Giải thích như câu 17.
19. Mọi hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên đều
cấu thành Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS).
Nhận định này là sai.
6


Không phải mọi hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên
đều cấu thành Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS). Vì dấu hiệu cấu thành của Tội sử dụng
trái phép tài sản (Điều 177 BLHS) thì yêu cầu người phạm tội phải có mục đích cụ thể đó là “vì vụ lợi”
mà thực hiện hành vi đó. Do vậy, nếu có hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ
100 triệu đồng trở lên nhưng không vì mục đích vụ lợi thì sẽ không cấu thành Tội sử dụng trái phép tài
sản.
20. Các trường hợp hủy hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội hủy hoại
tài sản (Điều 178 BLHS).
Nhận định này là sai.
Các trường hợp hủy hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên không chỉ cấu thành Tội hủy hoại tài
sản (Điều 178 BLHS). Hành vi huỷ hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành
Tội hủy hoại tài sản khi tài sản này là tài sản thông thường. Còn trong trường hợp tài sản là công trình,
cơ sở hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin - liên lạc, công trình điện lực, dẫn chất đốt, công
trình thủy lợi hoặc công trình quan trọng khác về quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn
hóa và xã hội thì sẽ cấu thành Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc
gia (Điều 303, BLHS) hoặc nếu phá hoại các tài sản trên mà có mục đích chống chính quyền nhân dân
sẽ cấu thành Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(Điều 114, BLHS).
21. Mọi trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội
cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS).

Chủ thể phạm Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp (Điều 179 BLHS) không chỉ là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của
Nhà nước. Vì ngoài hành vi gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước thì Tội này còn gây thiệt hại đến tài
sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Do vậy, lúc này chủ thể không còn là người có
nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước mà có thể là người có chức vụ quyền
hạn trong quản lý tài sản, hoặc người có nhiệm vụ bảo quản bảo vệ, người có nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn
tài sản đã được giao để sử dụng trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
24. Dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hóa là hành vi cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
(Điều 174 BLHS).
Nhận định này là sai.
Dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hóa không là hành vi cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
(Điều 174 BLHS). Hành vi mua đi bán lại các đối tượng đó dưới bất kì hình thức nào như mua bán theo
8


nghĩa thông thường, trao đổi, thanh toán bằng tiền giả là hành vi lưu hành tiền giả. Như vậy, hành vi
dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hoá sẽ cấu thành Tội lưu hành tiền giả (Điều 207, BLHS).
25. Mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới chỉ là hành vi cấu thành Tội vận
chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS).
Nhận định này là sai.
Mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới không chỉ là hành vi cấu thành Tội vận
chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS). Tuỳ từng trường hợp mà hành vi mang trái
phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới cấu thành các tội khác nhau:
- Trong trường hợp mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới nhưng không có mục
đích buôn bán thì cấu thành thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS).
- Trong trường hợp mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới nhưng có mục đích
buôn bán thì cấu thành thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS).
26. Mọi hành vi buôn bán trái phép hàng hóa có trị giá từ 100 triệu đồng trở lên qua biên giới
đều cấu thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS).
Nhận định này là sai.

tài sản cho cháu N.
T thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội này - chủ thể thường (nếu có đủ độ tuổi luật
định).
- Lỗi: T thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
- Mục đích: chiếm đoạt tài sản thể hiện qua việc T dùng vũ lực tấn công và đã lấy
sợi dây chuyền trên cổ cháu N).

Hành vi của T đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người:

Khách thể

Mặt khách
quan

Chủ thể
Mặt chủ
quan

Dấu hiệu
- Khách thể: quyền được sống của cháu N.
- Đối tượng tác động: cháu N – con người đang sống.
- Hành vi: T đánh cháu N bất tỉnh T và sau đó ôm cháu N dìm xuống mương, nhấn
xác cháu N xuống bùn.
- Hậu quả: cháu N tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành vi dùng vũ lực của T là
nguyên nhân trực tiếp khiến cho cháu N tử vong.
T thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội này - chủ thể thường (nếu có đủ độ tuổi luật
định).
Lỗi: T thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. T biết hành vi của mình là nguy hiểm và thấy
được hậu quả tất yếu xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện.

Chủ thể

Mặt chủ quan

- Mục đích: thỏa dấu hiệu bắt buộc của tội này là A và B thực hiện hành vi nhằm
chiếm đoạt tài sản của ông X, thể hiện qua việc lên kế hoạch và thực hiện hành
vi chiếm đoạt trên thực tế của B.

Riêng B còn phạm thêm Tội cướp tài sản (Điều 168, BLHS).
Hành vi của B đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cướp tài sản:
Dấu hiệu
- Khách thể: quyền sở hữu tài sản và quyền nhân thân của ông X.
Khách thể

- Đối tượng tác động: ông X và tài sản có thực (tiền, điện thoại, đồng hồ) của ông
X.
- Hành vi: B dùng vũ lực để bắt ông X đưa tiền và lấy được bao gồm cả điện thoại,

Mặt khách
quan

Chủ thể
Mặt chủ
quan

đồng hồ trị giá 30 triệu đồng.
- Hậu quả: gây thiệt hại vật chất và thể chất cho ông X.
- Mối quan hệ nhân quả: hành vi của B là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại
cho ông X.
B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội này - chủ thể thường.

Chủ thể
Mặt chủ
quan

trực tiếp gây thiệt hại cho công ty X.
A và B thỏa mãn điều kiện chủ thể của tội phạm này - chủ thể thường.
Lỗi cố ý trực tiếp.

Bài tập 7:
Tội danh mà A đã phạm là Tội cướp tài sản (Điều 168).
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cướp tài sản:
Dấu hiệu
- Khách thể: quan hệ sở hữu (quan hệ tài sản) của người phụ nữ, quyền được bảo vệ
Khách thể

về sức khoẻ của anh B.
- Đối tượng tác động: Sợi dây chuyền của người phụ nữ, anh B.
- Hành vi: A đã nhanh chóng giật chiếc dây chuyền trên cổ của người phụ nữ và A
rút dao đâm vào bụng của anh B nhằm mục đích giữ lại sợi dây chuyền.

Mặt khách
quan

- Hậu quả: gây thiệt hại vật chất (thiệt hại về tài sản); B bị thương với tỷ lệ thương
tật qua giám định là 27%.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành vi giật dây chuyền của A là
nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại về tài sản cho người phụ nữ và hành vi rút dao

Chủ thể



quan

thể cấu thành Tội trộm cắp tài sản (Điều 173).
Bên cạnh đó, A đã dùng tay đánh mạnh bà C và đã vứt lại sợi dây chuyền nên đây
được coi là tình tiết định khung tăng nặng.
A thỏa mãn điều kiện chủ thể của tội phạm này - chủ thể thường (nếu đủ độ tuổi luật

Chủ thể
Mặt chủ quan

định).
- Lỗi: cố ý trực tiếp.
- Mục đích: A thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản của bà C.

2. Tội danh mà A đã phạm là Tội giết người (Điều 123) và Tội cướp giật tài sản (Điều 171, BLHS).
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cướp giật tài sản:

Khách thể

Dấu hiệu
- Khách thể: Quan hệ sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân của bà C.
- Đối tượng tác động: sợi dây chuyền 3 chỉ vàng của bà C.
- Hành vi: A đã đến cạnh giường của bà C và đưa tay kéo đứt sợi dây chuyền của bà
C rồi bỏ chạy và lấy tài sản.

Mặt khách
quan

Trong tình huống này, vì bà C còn thức và biết A lấy tài sản của mình nên không

Mặt chủ
quan

- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành vi của A là nguyên nhân trực
tiếp khiến bà C tử vong.
A thỏa mãn điều kiện chủ thể của tội phạm này - chủ thể thường (nếu đủ độ tuổi luật
định).
Lỗi: cố ý trực tiếp. A biết hành vi của mình là nguy hiểm và thấy trước hậu quả tất
yếu xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện thông qua việc A đã giấu sẵn con dao
trong người và đâm vào ngực bà C.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status