THẢO LUẬN LUẬT HÌNH SỰ - PHẦN CÁC TỘI PHẠM LẦN 2
CỤM 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM CON NGƯỜI
__________________
I. TRẮC NGHIỆM TỰ LUẬN:
20. Mọi trường hợp đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình đều cấu thành Tội hành hạ người khác
được quy định tại Điều 140 BLHS.
Nhận định sai.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 140 BLHS về Tội hành hạ người khác
“1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy
định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 02 năm”.
Theo quy định trên cho thấy, không phải mọi trường hợp đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình đều
cấu thành Tội hành hạ người khác được quy định tại Điều 140 BLHS. Trường hợp đối xử tàn ác với
người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 BLHS thì sẽ cấu thành Tội
hành hạ người khác theo Điều 140 BLHS. Do đó để xét cấu thành tội phạm này phải là các trường hợp
không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 BLHS.
21. Mọi hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được
của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ đều cấu thành
Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS).
Nhận định sai.
Không phải mọi hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ
được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ đều cấu thành Tội
hiếp dâm (Điều 141 BLHS). Trong trường hợp, dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình
trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của
họ mà chủ thể từ đủ 16 tuổi trở lên thì mới cấu thành Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS). Còn trong
trường hợp tội phạm thực hiện hành vi trên với nạn nhân là người dưới 16 tuổi họ sẽ phạm Tội hiếp
dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142, BLHS).
22. Mọi hành vi dùng thủ đoạn khiến người dưới 16 tuổi lệ thuộc mình phải miễn cưỡng giao
cấu đều cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều
144 BLHS.
1
25. Mọi trường hợp biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác đều cấu
thành Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 148 BLHS).
2
Nhận định này là sai.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 quy định về Tội lây truyền HIV cho người khác:
“1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người khác, trừ trường hợp nạn
nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục, thì bị phạt tù từ
01 năm đến 03 năm”.
Theo đó, không phải mọi trường hợp biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người
khác đều cấu thành Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 148 BLHS). Trong trường hợp nạn nhân
đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục thì hành vi cố ý lây
truyền bệnh cho người khác của người nhiễm HIV không bị cấu thành tội lây truyền HIV cho người
khác.
26. Mọi hành vi mua bán người đều cấu thành Tội mua bán người (Điều 150 BLHS).
Nhận định này là sai.
Không phải mọi hành vi mua bán người đều cấu thành Tội mua bán người (Điều 150 BLHS). Theo
quy định tại Khoản 3, Chương 4, NQ 04/NQ-HĐTP ngày 29/11/1986, Pháp luật hình sự đã loại trừ đi
một số trường hợp mà cha mẹ vì đông con hoặc vì khó khăn đặc biệt mà phải bán con mình (dưới hình
thức cho làm con nuôi và nhận một số tiền giúp đỡ) cũng như trường hợp vì hiếm muộn mà mua chính
người có con đem bán để về làm con nuôi thì không phạm tội.
27. Hành vi bắt cóc người dưới 16 tuổi làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội
chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS.
Nhận định này là sai.
Hành vi bắt cóc người dưới 16 tuổi làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản không cấu thành Tội chiếm
đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 BLHS. Theo quy định tại Điều 153 BLHS, Tội chiếm
đoạt người dưới 16 tuổi cấu thành khi có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác
chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi mà trong hành vi khách quan không
có mục đích nhằm chiếm đọat tài sản. Còn hành vi bắt cóc người dưới 16 tuổi làm con tin nhằm chiếm
Nhận định này là đúng.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 124, BLHS, người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc
hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đến
hậu quả đứa trẻ chết thì cấu thành Tội vứt bỏ con mới đẻ. Do vậy, hậu quả nạn nhân bị tử vong đây là
dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm, nếu hậu quả chết người này chưa xảy ra thì chưa cấu thành tội
phạm này.
4
32. Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là tình tiết định khung
của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS.
Nhận định này là sai.
Căn cứ vào quy định tại Điều 154, BLHS về Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người
“1. Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến
07 năm”.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể người khác không chỉ được quy định là tình tiết định
khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123,BLHS. Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể
người khác còn cấu thành một tội phạm riêng biệt đó là Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ
thể người (Điều 154, BLHS).
33. Hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật mà làm nạn nhân chết thì không cấu thành Tội
bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS).
Nhận định này là sai.
Không phải mọi hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật mà làm nạn nhân chết thì không cấu thành
Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS). Xét trong 2 trường hợp:
- Nếu chủ thể thực hiện hành vi cố ý tước đoạt trái phép tính mạng của nạn nhân thì không cấu thành
Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) mà có thể là chuyển hoá qua các Tội phạm
tương ứng: Tội giết người (Điều 123, BLHS),…
- Nếu chủ thể thực hiện hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật nhưng vô ý với làm nạn nhân chết
thì vẫn cấu thành Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) với tình tiết định khung tăng
buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS). Theo
quy định tại Khoản 1, Điều 162, BLHS hành vi cưỡng bức, buộc người lao động đang làm việc ở các
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp phải thôi việc trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm
trọng nhưng phải vì vụ lợi hoặc mục đích cá nhân khác thì mới cấu thành tội này. Do vậy, trong trường
hợp có hành vi nêu trên nhưng không vì vụ lợi hoặc mục đích cá nhân khác thì không cấu thành tội này.
37. Đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động
trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan
Nhà nước.
Nhận định này là sai.
Căn cứ vào quy định của Khoản 1, Điều 162, BLHS về Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc
sa thải người lao động trái pháp luật:
“1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gây
hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không
giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
6
a) Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức;
b) Sa thải trái pháp luật đối với người lao động;
c) Cưỡng ép, đe dọa buộc công chức, viên chức, người lao động phải thôi việc”.
Theo quy định của Điều 162, đối tượng của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải
người lao động trái pháp luật không chỉ là công chức, viên chức hoặc người lao động của các cơ quan
Nhà nước. Theo quy định trên, đối tượng của tội phạm này còn là người lao động, tức người lao động
làm việc hay không làm việc trong cơ quan nhà nước đều là đối tượng tác động của tội phạm này.
38. Chủ thể của Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 BLHS) phải là người có thẩm
quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Nhận định này là sai.
Chủ thể của Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 BLHS) không chỉ là người có thẩm
quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 166, BLHS, có 2 loại
chủ thể có thể là chủ thể của tội phạm này:
tự nguyện của họ nhưng phải đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới
cấu thành Tội này.
41. Mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu thành Tội vi phạm
chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS).
Nhận định này là sai.
Không phải mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu thành Tội vi
phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS). Theo quy định tại Điều 182, BLHS, trường hợp
đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác cấu thành tội này khi thuộc một trong các trường hợp:
- Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;
- Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
- Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ
chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
42. Chỉ giao cấu với người có cùng dòng máu về trực hệ mới cấu thành Tội loạn luân được quy
định tại Điều 184 BLHS.
Nhận định này là sai.
Không phải chỉ hành vi giao cấu với người có cùng dòng máu về trực hệ mới cấu thành Tội loạn luân
được quy định tại Điều 184 BLHS. Theo quy định tại Điều 184, BLHS ngoài hành vi giao cấu với
người có cùng dòng máu về trực hệ thì còn cấu thành tội này khi giao cấu với người là anh chị em cùng
cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Bên cạnh đó, hành vi giao cấu trên chỉ
cấu thành tội này khi người thực hiện hành vi giao cấu biết rõ người đó là người có cùng dòng máu về
8
trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Do vậy,
trường hợp giao cấu nhưng không biết rõ người đó cùng dòng máu trực hệ thì không cấu thành Tội này.
43. Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ là hành vi chỉ quy định trong cấu
thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.
Nhận định này là sai.
Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ không chỉ là hành vi quy định trong cấu
Khi định tội cho vụ án có 2 quan điểm:
a. B phạm tội “giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” (Điều 125 BLHS);
b. B phạm tội “giết người” (Điều 123 BLHS).
Theo anh (chị), B đã phạm tội gì? Tại sao?
B đã phạm tội Giết người theo Điều 123 BLHS chứ không phải tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh theo Điều 125 vì ở đây không tồn tại hành vi trái pháp luật nghiệm trọng của A
(nạn nhân) ở đây việc A chửi cha mẹ là hành vi vì phạm đạo đức chứ không vi phạm pháp luật nên dù
B có bị lâm vào trang thái tinh thần bị kích động mạnh thì hành vi của B cũng không thể cấu thành tội
ở Điều 125.
Thêm vào đó Hành vi của B có đầy đủ các dấu hiệu Pháp lý đặc trưng của Tội giết người theo Điều 123,
BLHS:
Khách thể
Dấu hiệu
- Khách thể: Tính mạng, quyền được sống của A.
- Đối tượng tác động: A – con người đang sống.
- Hành vi: đã có hành vi tước đoạt tính mạng của người khác, hành vi đó là hành
động B cầm dao đâm liên tiếp 4 nhát vào bụng A. Thêm vào đó công cụ mà A sử
dụng để thực hiện hành vi đâm B là một con dao lưỡi bầu mũi nhọn (25cm x 7cm) -
Mặt khách
quan
một công cụ có tính sát thương cao. Hành động đâm liên tiếp 4 nhát của B cho thấy
độ quyết liệt của mình trong hành động, từ đó ta có thể nhận thấy ý chí của B lúc này
là muốn đâm chết B.
- Hậu quả: A tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: hành động B cầm dao đâm liên tiếp
này.
Trong vụ án này H không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ nhất, đã có hành vi trái pháp luật của S - dùng dao đuổi chém H nên việc H bắn vào chân S khi S
đang vung cả 2 con dao và đứng trước mặt H cách chừng 2 mét, chỉ là hành vi phòng vệ chính đáng của
H nhằm thoát khỏi sự tấn công đến từ phía S.
Thứ hai, H đã cố tình chốc nòng súng xuống để bắn vào chân S chứ không bắn ở những chỗ khác
điều này giúp ta càng thấy rõ là H chỉ muốn ngăn chặn sự tấn công từ S chứ không có ý muốn giết
người. Ngoài ra, H cũng là người đang thi hành công vụ và đã được cho phép sử dụng súng, nên hành
vi dùng súng của H không phải là hành vi trái pháp luật nên H cũng không thể bị kết vào tội làm chết
người trong khi thi hành công vụ ở Điều 127 BLHS.
Bài tập 7: Bà X cho các con cất nhà ở riêng trên phần đất của nhà bà, cụ thể là: A (con ruột) ở cuối
hẻm, B (con rể) cất nhà ở phía trước nhà A. Tất cả sử dụng con hẻm chung rộng 1,2m để làm lối đi vào
nhà. Do B thường để bếp lò trong đường hẻm nướng đồ nhậu gây vướng đường đi lại, nên bà X nhiều
lần kêu B dọn bếp vào trong nhà. Ngày 14/8, bà X lại nhắc nhở B, B cho rằng A xúi bà X đến nói, B hét
to: “Tao đâm chết mẹ mày rồi về ngoài quê ở, xem ai làm gì tao”. Lúc này, A ở trong nhà đang cầm
con dao Thái Lan gọt cắt trái xoài ăn. B cầm khúc cây tầm vông (dài 1m, đường kính 3,5cm, một đầu
vót nhọn) xông vào nhà đập A một cái từ trên xuống nhưng A đưa tay trái lên đỡ nên trúng cổ tay bị
thương nhẹ phần mềm. Ngay sau đó, B cầm chiếc ấm nhôm ném trúng vào vai A rồi lao vào dùng tay
11
chân đấm đá vào người A. A chụp được con dao trên bàn, đâm một nhát trúng vào ngực của B, rồi vứt
con dao bỏ chạy. B chết trên đường đi cấp cứu. Anh (chị) hãy xác định hành vi của A có phạm tội hay
không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?
Tội danh mà A đã phạm là Tội giết người theo Điều 123 BLHS 2015.
Hành vi của A đã thoả mãn các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người:
Khách thể
Mặt khách
quan điểm về tội danh trong vụ án này.
Tội danh mà P đã phạm là Tội giết người theo Điều 123 BLHS 2015.
Hành vi của P đã thoả mãn các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người:
Khách thể
Dấu hiệu
- Khách thể: Tính mạng, quyền được sống của C.
12
- Đối tượng tác động: C – con người đang sống.
- Hành vi: Khi C chạy được chừng 30m thì P kê súng lên bờ mương, nhắm về phía C
lên đạn và bóp cò.
Mặt khách
quan
- Hậu quả: Súng nổ và viên đạn xuyên qua cuống tim làm cho C chết ngay tại chỗ. P
liền đến công an tự thú.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của P là nguyên nhân trực
Chủ thể
Mặt chủ
quan
tiếp dẫn đến hậu quả C tử vong.
P thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định).
P thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp, việc này thể hiện qua P biết hành
vi của mình là nguy hiểm cho tính mạng của C nhưng vẫn mong muốn thực hiện.
ai phải chịu TNHS?
Không có tội phạm trong vụ việc này.
Trong cuộc sống thường ngày, bà Y thường có hành vi ngược đãi, ức hiếp đối với chị H nhưng hành vi
của bà Y không là nguyên nhân dẫn đến việc chị H tự sát. Do vậy, bà Y không phạm tội này.
Nguyên nhân chị H tự sát là do bị bội tình, khi người yêu của H lánh mặt không gặp H nữa và tìm
cách chối bỏ trách nhiệm làm cha. Tuy nhiên đây không là hành vi khách quan của Tội phạm tại Điều
130 hoặc Điều 131, nên anh thanh niên này không phạm tội.
Bài tập 11: A dùng dây điện trần giăng xung quanh luống mía ở trong vườn mía trước nhà mình để
diệt chuột vì mía đã lên cao khoảng 0,80m–1m, nhưng bị chuột cắn phá rất nhiều ở phần ngọn. Xung
quanh ruộng mía có tường bao quanh cao 1m40 đến 1m50 và không có lối đi tắt, đi qua cho hàng xóm.
Thường thường, A cắm điện vào lúc 22giờ đêm và ngắt điện vào 5giờ sáng. Việc cắm điện đã được A
thông báo cho bà con trong xóm biết. Những con chuột bị chết do điện giật, A thường đem cho những
người trong xóm nấu cho heo ăn. Khoảng 24giờ, có một thanh niên khác xã trèo qua tường để vào
vườn mía và bị điện giật chết. Hãy xác định tội danh đối với hành vi gây chết người của A.
Tội danh mà A đã phạm là Tội vô ý làm chết người theo Điều 128 BLHS 2015.
14
Hành vi của A đã thoả mãn các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội vô ý làm chết người theo Điều 128
BLHS 2015:
Khách thể
Dấu hiệu
- Khách thể: tính mạng, quyền được sống của thanh niên khác xã bị chết.
- Đối tượng tác động: thanh niên khác xã (con người đang sống).
- Hành vi: A dùng dây điện trần giăng xung quanh luống mía ở trong vườn mía
trước nhà mình. Hành vi giăng dây điện bản chất là nguy hiểm và có khả năng
làm chết người. Tuy nhiên, xung quanh ruộng mía có tường bao quanh cao 1m40
Bài tập 12: A, B và H là ba người bạn kết thân từ thời còn học ở Đại học Cảnh sát nhân dân. Khoảng
13giờ 30 phút ngày 25/8, A, B, C và D (đã uống rượu) rủ nhau ra Nhà Bè nhậu tiếp. Trên đường đi, A
và B ghé vào cơ quan để rủ H cùng đi. D và C đứng ngoài cổng trông xe, còn A và B lên phòng để tìm
H. Gặp H ở hành lang, A liền đùa, rút súng K54 mang theo và cười lớn. H cũng đùa lại, vờ nấp vào
cánh cửa. Anh T ở cùng phòng thấy vậy bảo: “Không được đùa với súng”. A tháo băng đạn, kéo quy
lát, lấy nốt viên đạn trong nòng súng ra. B đi vào phòng H. A lắp lại băng đạn vào nòng súng rồi cũng
đi vào phòng theo. A và B rủ H đi chơi nhưng H từ chối vì đã có hẹn. Nghe vậy, B bảo A: “Đưa súng
đây để tao ép nó đi”.
15
A lấy súng đưa cho B. Vì nghĩ rằng súng không có đạn (B đã thấy A lấy viên đạn ra ở hành lang) nên
B cầm súng bằng tay trái, kéo quy lát rồi rê nòng súng về phía H, ngón tay vẫn còn đặt trong vòng cò
thì bất ngờ súng nổ. Viên đạn bắn trúng vào trán H làm H chết ngay tại chỗ. Hãy xác định tội danh đối
với hành vi của B trong vụ án.
Tội danh mà B đã phạm là Tội vô ý làm chết người do vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp theo Điều
129 BLHS 2015.
Hành vi của B đã thoả mãn các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội vô ý làm chết người do vi phạm
nguyên tắc nghề nghiệp:
Khách thể
Dấu hiệu
- Khách thể: Tính mạng, quyền được sống của H.
- Đối tượng tác động: H – con người đang sống.
- Hành vi: nên B cầm súng bằng tay trái, kéo quy lát rồi rê nòng súng về phía H,
ngón tay vẫn còn đặt trong vòng cò thì bất ngờ súng nổ vì nghĩ rằng súng không có
đạn (B đã thấy A lấy viên đạn ra ở hành lang). Quy tắc nghề nghiệp là súng không sử
- Đối tượng tác động: A – con người đang sống.
- Hành vi: Thấy B đánh vợ, chị A vội vào can ngăn thì bị B đá 1 cái. Chị A té ngửa
xuống sân nhà và ngất xỉu. Mọi người đưa chị A đi cấp cứu nhưng chị A đã chết sau
Mặt khách
quan
đó.
- Hậu quả: A chết là do chấn thương sọ não.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của B là nguyên nhân trực
Chủ thể
Mặt chủ
quan
tiếp dẫn đến hậu quả A tử vong.
B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định).
B thực hiện hành vi của mình với lỗi vô ý việc này thể hiện qua B có hành vi đá chị
A nhưng không ý thức được hành vi của mình nguy hiểm cho chị A và hậu quả xảy
ra.
Bài tập 14: A và B cùng đi săn. A nhìn thấy một con gà rừng liền giơ súng lên ngắm bắn. B thấy gần
đó có một người đang bẻ măng nên ngăn đừng bắn và nói rằng: “Thôi đừng bắn nữa, nhỡ trúng người
ta thì chết”. A tiếp tục rê súng theo con gà rừng và đáp lại: “Mày chưa biết tài bắn của tao à! Chưa
bao giờ tao bắn trượt cả”. Nói xong, A bóp cò, không ngờ đạn trúng vào người bẻ măng.
Hãy xác định A phạm tội gì nếu:
a. Nếu nạn nhân chết:
Tội danh mà A đã phạm là Tội vô ý làm chết người theo quy định tại Điều 128 BLHS.
b. Nếu nạn nhân bị thương nặng:
Giả sử lúc này tỉ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân từ 31% trở lên.
Lúc này A phạm vào Tội vô ý gây thương tích cho người khác theo quy định tại Điều 138 BLHS
2015.
Hành vi của A đã có đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội vô ý gây thương tích cho người khác theo quy
định tại Điều 138 BLHS 2015:
Khách thể
Mặt khách
quan
Chủ thể
Mặt chủ quan
Dấu hiệu
- Khách thể: sức khoẻ của người hái măng.
- Đối tượng tác động: Người hái măng – con người đang sống.
- Hành vi: A bóp cò súng và đạn đã trúng vào người hái măng.
- Hậu quả: Người hái măng bị thương nặng (tỉ lệ tổn thương trên 31%).
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc A bóp cò súng và đã bắn trúng
vào người hái măng làm cho nạn nhân bị thương nặng (tỉ lệ tổn thương trên 31%).
A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định).
A có lỗi vô ý (vô ý vì quá tự tin): A ý thức được việc bắn súng gần người hái măng là
hành vi nguy hiểm, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe người đó. A thấy trước hành
vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra
Tội danh mà M đã phạm là Tội bức tử theo Điều 130 BLHS 2015.
Hành vi của M đã thoả mãn các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội bức tử:
Khách thể
Dấu hiệu
- Khách thể: Tính mạng, quyền được sống của bà H.
- Đối tượng tác động: H – con người đang sống.
- Hành vi: ông M lừa dối bà H (ông M đang có vợ bé và đang có một con chung với
người vợ này). Đúng vào ngày sinh nhật thứ 53 của bà H, ông M trở về nhà chìa vào
mặt bà H tờ đơn xin ly hôn. Ông M buông lời lạnh lùng, bỏ mặc bà H. Bà H leo lên
thành cửa sổ (đang mở sẵn), ông M vẫn ngồi yên ở ghế salon mà không nói gì thêm.
Mặt khách
Như vậy, ông M đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng là yêu thương chăm sóc, sống
quan
chung nên ông M có hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp ngược đãi người lệ
thuộc mình.
- Hậu quả: bà H tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của ông M là nguyên nhân
Chủ thể
Mặt chủ
quan
trực tiếp dẫn đến hậu quả H tự sát, dẫn đến tử vong.
M thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực
Dấu hiệu
- Khách thể: Tính mạng, quyền được sống của C.
Mặt khách
- Đối tượng tác động: C – con người đang sống.
- Hành vi: Theo quy định, súng và hộp tiếp đạn được để riêng trong bao da, chung
quan
một dây thắt lưng, khi nhận bàn giao phải kiểm tra súng đạn. Khi nhận súng, H
không kiểm tra theo quy định mà đeo súng vào và ra cổng trực gác. Khi H đánh kẻng
báo thức đơn vị dậy tập thể dục rồi vào gọi C dậy để bàn giao việc trực. Chưa thấy C
ra nên H từ ngoài trở vào thấy C, bèn tiến lại đứng ngay đầu giường C và rút súng
K54 ra cầm trên tay phải, kéo súng lên đạn rồi chĩa nòng súng vào nách trái
của C vừa cười đùa, đồng thời bóp cò làm đạn nổ. Như vậy, H đã vi phạm những quy
tắc nghề nghiệp khi sử dụng súng.
- Hậu quả: C tử vong.
20
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của H là nguyên nhân trực
Chủ thể
Mặt chủ
quan
tiếp dẫn đến hậu quả C tử vong.
H thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực
Mặt chủ
quan
tiếp dẫn đến hậu quả T tử vong.
M thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này - chủ thể thường (nếu đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và độ tuổi luật định).
M thực hiện hành vi của mình với lỗi vô ý trực tiếp.
21