Thảo luận hình sự lần 3 CỤM 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM CON NGƯỜI - Pdf 47

THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN 3
CỤM 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM CON NGƯỜI
__________________
Bài tập 18: A và B là vợ chồng có một đứa con chung là C (8 tháng tuổi). Cuộc sống gia đình khó khăn,
vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập mẹ con chị B. Đêm 29/7,
sau khi đi nhậu về, A tiếp tục đánh đập, chửi bới chị B rồi vứt quần áo đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà mặc
dù ngoài trời đang mưa bão. Chị B khóc van xin A mở cửa nhưng A kiên quyết không chịu. Quá tuyệt
vọng, chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát. Lúc này, ông X đi ngang qua thấy vậy
nhảy xuống sông cứu hai mẹ con nhưng chỉ cứu được chị B, cháu C chết do ngạt nước. Trong tình huống
trên, ai phạm tội? Nếu có phạm tội gì? Tại sao?
Trong tình huống trên, A và B là người phạm tội.
- Tội danh mà A đã phạm là Tội bức tử (Điều 130, BLHS).
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội bức tử:

Khách thể

Dấu hiệu
- Khách thể: tính mạng, quyền được sống của mẹ con chị B.
- Đối tượng tác động: Chị B và C (8 tháng tuổi).
- Hành vi: A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập mẹ con chị B. Đêm 29/7, sau khi
đi nhậu về, A tiếp tục đánh đập, chửi bới chị B rồi vứt quần áo đuổi hai mẹ con ra
khỏi nhà mặc dù ngoài trời đang mưa bão. Như vậy, A đã có hành vi đối xử tàn ác,

Mặt khách
quan

thường xuyên ức hiếp, ngược đãi người lệ thuộc mình là mẹ con chị B.
- Hậu quả: chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát và khiến cháu C
tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi đánh đập, đuổi mẹ con chị
B ra khỏi nhà của A là nguyên nhân trực tiếp khiến chị B bế con ra sông tự sát và

quan

- Hậu quả: cháu C tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của chị B bế con ra bờ
sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát là nguyên nhân trực tiếp khiến cháu C tử vong.
B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
B thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. B nhận thức được hành vi của mình là
nguy hiểm cho cháu C và thấy được hậu quả là cháu C sẽ chết nhưng vẫn mong
muốn thực hiện.

Bài tập 19: A và B yêu nhau nhưng bị cha mẹ B phản đối vì cho rằng không môn đăng hộ đối. Sau nhiều
lần thuyết phục nhưng cha mẹ vẫn không thay đổi ý kiến, thất vọng, A và B bàn nhau cùng tự sát. Họ
chuẩn bị sẵn hai sợi dây thừng rồi cùng nhau đến khúc sông vắng người. A giúp B trói người lại, sau đó
tự trói mình để cùng nhau nhảy xuống sông. Hãy xác định A có phải chịu TNHS hay không trong các
tình huống sau và nếu có thì phạm tội gì?
1. A và B cùng nhảy xuống sông sau khi đã bị trói. Do A tự trói nên dây thừng trói A lỏng ra nên A
không chết.
Tội danh mà A đã phạm là Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS).
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS):

Khách thể

Mặt khách
quan

Chủ thể
Mặt chủ quan

Dấu hiệu

Dấu hiệu
- Khách thể: tính mạng, quyền được sống của B.
- Đối tượng tác động: B – con người đang sống.
- Hành vi: A đã có hành vi trói tay B và đẩy B xuống sông.
- Hậu quả: B có hành động tự sát và vì tự sát nên B tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi trói tay và đẩy B xuống
sông của A là việc tạo điều kiện cho B tự sát, và việc B tự sát là nguyên nhân trực
tiếp khiến B tử vong.
A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
Hành vi trói tay B của A là hành vi cố ý, A biết rõ hành vi của mình là ngụy hiểm
đến tính mạng của B, thấy trước được hành vi của mình sẽ dẫn đến hậu quả là B tự
sát những A mong muốn việc tự sát đó diễn ra. Ở đây hành vi của A không phải là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của B, nên ta không nên xét lỗi của A đối
với cái chết của B.

Bài tập 20: Ông K mắc bệnh hiểm nghèo nằm liệt giường gần 1 năm. Ông mong cho cái chết sớm đến
nhưng không biết làm cách nào. Ông đem tâm sự của mình than thở với B là một y tá thường chăm sóc
sức khỏe cho ông. Sau đó ông đề nghị B giúp ông sớm kết thúc sự sống của mình. B đồng ý và thống
nhất cùng với ông K về việc chích cho ông một liều thuốc độc. Sau khi nhất trí, B mang xi-lanh và hai
ống thuốc đến tiêm cho ông K. Sáng hôm sau, ông K chết do bị chích thuốc độc. Hãy xác định hành vi
của B có phải là tội phạm không? Nếu có là tội gì?
Tội danh mà B đã phạm là Tội giết người (Điều 123, BLHS).
Hành vi của B đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người:

Khách thể

Dấu hiệu
- Khách thể: tính mạng, quyền được sống của K.


Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội này:
Dấu hiệu
- Khách thể: xâm phạm đến nghĩa vụ bảo vệ tính mạng của B mà quy tắc đạo đức
Khách thể

trong cuộc sống và pháp luật đòi hỏi mọi người phải tuân theo.

Mặt khách

- Đối tượng tác động: B – con người đang sống.
- Hành vi: A phát hiện B là người hàng xóm đang sắp chết đuối dưới ao. Tuy A

quan

biết rõ B là người không biết bơi (lội) nhưng vì trong cuộc sống B thường xuyên
mâu thuẫn, cãi nhau với gia đình A nên khi thấy B sắp chết đuối A không thò gậy
xuống cứu B. Như vậy, A đã có hành vi (không hành động) không cứu giúp người
bị nạn trong trường họp nhìn thấy người đó đang ở trong tình trạng nguy hiếm
đến tính mạng. Nghĩa là mặc dù người phạm tội đã nhìn thấy có người bị tai nạn
hoặc trong trường hợp khác đang bị nguy hiểm có thể dẫn đến bị chết nhưng đã
không thực hiện (không có hành động gì) việc cứu giúp nạn nhân.
- Hậu quả: B tử vong.
4


- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của A là nguyên nhân
trực tiếp khiến B tử vong.
A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực

Chủ thể

đạo đức trong cuộc sống và pháp luật đòi hỏi mọi người phải tuân theo.

Mặt khách

- Đối tượng tác động: đứa trẻ – con người đang sống.
- Hành vi: khi N đi làm về qua chiếc cầu thì cũng có mấy đứa trẻ kêu có người chết

quan

đuối dưới kênh và nhìn xuống thì N cũng thấy có người đang ngụp lặn như sắp chết
đuối giống lúc sáng. Vì cho rằng lũ trẻ lại lừa mình nên N bỏ về. Hôm sau, đám trẻ
chăn trâu khai với công an là đã nhờ ông N cứu nhưng ông N không cứu. Như vậy,
N đã có hành vi (không hành động) không cứu giúp người bị nạn trong trường họp
5


nhìn thấy người đó đang ở trong tình trạng nguy hiếm đến tính mạng. Nghĩa là mặc
dù người phạm tội đã nhìn thấy có người bị tai nạn hoặc trong trường hợp khác
đang bị nguy hiểm có thể dẫn đến bị chết nhưng đã không thực hiện (không có
hành động gì) việc cứu giúp nạn nhân.
- Hậu quả: B tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của N là nguyên nhân

Chủ thể
Mặt chủ
quan

trực tiếp khiến đứa trẻ tử vong.
N thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).


trực tiếp gây ra thiệt hại thể chất cho C.
M thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự).
6


Mặt chủ quan

M thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

2. Thương tích gây ra cho M có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8%, thương tích gây ra cho C có tỷ lệ tổn
thương cơ thể là 51%.
- Đối với thương tích gây ra cho M có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8% và cũng không thuộc một trong các
trường hợp gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% tại các điểm từ a đến k, Khoản 1, Điều
134, BLHS nên không đủ điều kiện để cấu thành Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS) là từ 11%
trở lên.
- Tội danh mà M đã phạm là Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS).
Hành vi của M đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cố ý gây thương tích:

Khách thể

Dấu hiệu
- Khách thể: quyền được bảo vệ sức khoẻ của C.
- Đối tượng tác động: C.
- Hành vi: Khi bị C và Đ tấn công thì lúc đó, M sẵn có trong tay một cây kiếm (M
mang theo người dùng để phát cành cây bảo vệ đường dây điện) chống cự lại. C

Mặt khách
quan

Hành vi của T đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153,
BLHS):
Dấu hiệu
- Khách thể: quyền được sống chung với cha mẹ, được hưởng sự trông nom, chăm sóc
Khách thể

của cha mẹ.

Mặt khách

- Đối tượng tác động: cháu bé 3 tuổi (người dưới 16 tuổi).
- Hành vi: T cho kẹo để rủ một cháu bé 3 tuổi đi theo và đưa cháu vào TP.HCM nhằm

quan
Chủ thể

Mặt chủ
quan

chiếm đoạt bé, buộc bé phải đi ăn xin.
T thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
- Lỗi: T thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. T nhận thức được hành vi của mình là
xâm phạm đến quyền lợi chính đáng và gây nguy hiểm cho cháu bé đồng thời T thấy
được hậu quả sẽ xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện.
- Mục đích: T chiếm đoạt cháu bé 3 tuổi với mục đích kiếm tiền.

- Tội danh mà T đã phạm là Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS).
Hành vi của T đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS):


nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
Lỗi: T thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. T nhận thức được hành vi của mình là
xâm phạm đến quyền lợi chính đáng và gây nguy hiểm cho cháu bé đồng thời T thấy
được hậu quả sẽ xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện.

Bài tập 25: Do bị ông X - Phó công an xã lập biên bản về các hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công
cộng nên A nuôi lòng thù hận, đến nhà ông X để hành hung. Khi đến nơi, A xông vào đánh và đạp làm
ông X bật ngửa xuống nền nhà và chết do chấn thương sọ não. Hãy xác định hành vi của A có phạm tội
hay không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?
Tội cố ý gây thương tích tình tiết tăng nặng dẫn đến chết người (hỗn hợp lỗi)
Tội danh mà A đã phạm là Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS).
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS):

Khách thể

Mặt khách
quan

Chủ thể
Mặt chủ
quan

Dấu hiệu
- Khách thể: tính mang, quyền được sống của B.
- Đối tượng tác động: B – con người đang sống.
- Hành vi: A đã trói tay của B lại để giúp B tự sát. A đã có hành vi tạo điều kiện về
vật chất cho B tự tước đoạt tính mạng của mình.
- Hậu quả: B tử vong.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc A trói tay B và cả hai cùng
nhảy xuống sông là nguyên nhân trực tiếp khiến B tử vong.

viên gạch (loại gạch xây 4 lỗ), khi xe của X chạy đến thì B dùng viên gạch ném
trúng vào ngực X làm X loạng choạng gục xuống. Sau đó, X được mọi người đưa

Mặt khách
quan

đi cấp cứu tại bệnh viện nhưng do vết thương nặng nên X đã chết.
- Hậu quả: X tử vong vì trụy tim mạch cấp do vỡ tim và ra còn có vết thương
đỉnh trán phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của A và B là nguyên
nhân trực tiếp khiến B bị tổn hại sức khoẻ. Tuy nhiên, đối với hậu quả chết người

Chủ thể
Mặt chủ quan

thì hành vi của A và B chỉ là nguyên nhân gián tiếp.
A và B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng
lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
A và B thuộc trường hợp hỗn hợp lỗi. A và B chỉ cố ý làm X bị thương chứ không
cố ý giết X mà chỉ vô ý với hậu quả chết người.

Bài tập 27: A chở vợ là B (đang mang thai 2 tháng) đi công việc về. Đến một hẻm nhỏ thì A bị T và
H chặn lại gây sự do hai bên có mâu thuẫn trước đó. T và H cầm nón bảo hiểm đập vào đầu A làm A ngã
gục ngay bờ tường cạnh lối vào của một dãy nhà trọ. Thấy chồng bị đánh nhiều, B lao đến đỡ đòn
cho chồng. T và H dùng nón bảo hiểm đánh luôn B. Thấy vậy, A hét lên: “Chạy!” và chạy vào trong một
phòng trọ. A nhìn lại thấy vợ mình không chạy kịp mà đang bị T và H đấm đá. Xót vợ, A lấy con dao lao
10


từ phòng trọ ra đâm vào lưng H. Kết quả, H chết trên đường đi cấp cứu do vết dao đâm trúng phổi

A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

- Tội danh mà T và H đã phạm là Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS).
Hành vi của T và H đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cố ý gây thương tích:

Khách thể
Mặt khách
quan

Dấu hiệu
- Khách thể: tính mang, quyền được sống của B.
- Đối tượng tác động: B – con người đang sống.
- Hành vi: T và H đã có hành vi lao vào đấm đá chị B .Như vậy, T và H đã có
hành vi cố ý gây thương tích cho chị B.
- Hậu quả: chị B bị tổn thương cơ thể 27%, đủ yếu tố cấu thành Tội cố ý gây
thương tích (trên 11%).
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của T và H là nguyên
11


Chủ thể
Mặt chủ quan

nhân trực tiếp khiến B bị tổn thương cơ thể.
T và H thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng
lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
T và H thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.


a. B 12 tuổi;
Tội danh mà A đã phạm là Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142, BLHS) và có tình tiết định
khung tăng nặng là làm nạn nhân có thai tại Điểm b, Khoản 2, Điều 142.
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của tội phạm này:

Khách thể

Dấu hiệu
- Khách thể: quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của trẻ em, xâm phạm
đến sức khoẻ và sự phát triển bình thường của B.
- Đối tượng tác động: B (13 tuổi, đáp ứng được điều kiện về đối tượng tác động
12


Mặt khách
quan
Chủ thể
Mặt chủ
quan

của tội này là người13 tuổi).
- Hành vi: A đã quan hệ tình dục với B và làm cho B có thai. Như vậy, A đã có
hành vi giao cấu với người 13 tuổi theo Điểm b, Khoản 1, Điều 142, BLHS.
A (17 tuổi) thoả mãn được điều kiện về chủ thể của tội này – chủ thể thường.
A thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

b. B 15 tuổi;
Không phạm tội. Do chủ thể tội giao cấu với người từ 13 đến 16 phải từ 18 tuổi trở lên nhưng A chỉ
mới 16 tuổi. Vì vậy, không đáp ứng đủ điều kiện cấu thành Tội phạm tại Điều 145, BLHS.
c. 17 tuổi.

13


vậy, A đã có hành vi chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận lại tiền (10 triệu
đồng/người) (điểm a, Khoản 1, Điều 151, BLHS)và B đã có hành vi tiếp nhận

Chủ thể
Mặt chủ quan

người dưới 16 tuổi để cưỡng bức lao động (điểm b, Khoản 1, Điều 151, BLHS).
A và B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng
lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
A và B thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

- Đối với cháu Y (16 tuổi 3 tháng):
Tội danh mà A và B đã phạm là Tội mua bán người (Điều 150, BLHS).
Hành vi của A và B đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội mua bán người:

Dấu hiệu
- Khách thể: xâm phạm đến quan hệ về quyền được bảo vệ thân thể, nhân phẩm
Khách thể

của Y.
- Đối tượng tác động: Y
- Hành vi: A đã rủ cháu Y (16 tuổi 3 tháng) nói là đi làm thuê ở thị xã, tiền công
mỗi ngày được 150.000 đồng nên cả hai đều đồng ý. Sáng hôm sau, A cho xe ôm

Mặt khách
quan


- Đối tượng tác động: đứa bé con chị C (3 tháng tuổi – dưới 16 tuổi).
- Hành vi: A quay lại nhà chị C nhằm thỏa thuận nhận cháu bé làm con nuôi với

Mặt khách
quan

Chủ thể
Mặt chủ quan

chi phí bồi dưỡng là 10 triệu đồng nhưng chị C không có nhà mà chỉ có con gái
lớn của chị C – cháu X (10 tuổi) đang ở nhà trông em. A đã cho X tiền đi mua
kẹo. Khi X ra khỏi nhà, A đã bế cháu bé đi. Như vậy A đã có hành vi chiếm giữ
người dưới 16 tuổi.
A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

Bài tập 32: Ngày 03/7, Công an TP Hồ Chí Minh nhận được tin trình báo về việc một nhóm người đã
bắt giữ anh X (làm nghề lái xe taxi) để siết nợ. Tại cơ quan công an, A và B khai nhận, sau khi tìm thấy
anh X tại đường, các đối tượng đã ép anh X lên xe, đưa về nhà A. Sau đó, A gọi điện cho gia đình anh X
đe dọa, yêu cầu giao nộp 20 triệu đồng. Nguyên nhân sự việc xuất phát từ việc anh X vay của A 20 triệu
đồng đã đến hạn mà không chịu thanh toán còn có hành vi trốn tránh chủ nợ. A và B bắt anh X là để ép
anh X phải trả nợ. Hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại
sao?
Tội danh mà A và B đã phạm là Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169, BLHS).
Hành vi của A và Bđã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản:
Dấu hiệu
- Khách thể: xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Ngoài ra còn
Khách thể


sao?
Tội danh mà A đã phạm là Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145, BLHS).
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của tội phạm này:

Dấu hiệu
- Khách thể: quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của trẻ em, xâm phạm
Khách thể

Mặt khách
quan
Chủ thể
Mặt chủ
quan

đến sức khoẻ và sự phát triển bình thường của M.
- Đối tượng tác động: M (14 tuổi, đáp ứng được điều kiện về đối tượng tác động
của tội này là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi).
- Hành vi: Tại đây H đã dụ dỗ M cho quan hệ tình dục và được M đồng ý. Như
vậy, H đã có hành vi giao cấy với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.
H (25 tuổi) thoả mãn được điều kiện về chủ thể của tội này – chủ thể thường.
H thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

Bài tập 34: X thực hiện vụ gây rối và hủy hoại tài sản tại khu phố K. Sau đó, A và B là tổ viên bảo vệ
dân phố được cử đến để giải quyết trật tự. Thay vì xử lý vụ việc đúng quyền hạn, thì A và B đã đưa X về
Văn phòng khu phố K mà không báo cơ quan có thẩm quyền biết. Tiếp đó, A và B đã đánh X chấn
thương, 1 tiếng đồng hồ sau thấy X bất tỉnh, A gọi người nhà của X lên đưa đi bệnh viện. Gia đình X làm
đơn tố cáo và hành vi của A và B. Hãy xác định tội danh của A và B nếu:
1. X bị thương tật với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.
A và B phạm vào Tội bắt, giữ người trái pháp luật (Điều 157, BLHS) và Tội cố ý gây tổn hại sức khoẻ
của người khác (Điều 134, BLHS)

Dấu hiệu
- Khách thể: quyền được bảo vệ sức khoẻ của X.
- Đối tượng tác động: X.
- Hành vi: A và B đã đánh X chấn thương, 1 tiếng đồng hồ sau thấy X bất tỉnh, A
gọi người nhà của X lên đưa đi bệnh viện. Như vậy, A và B đã có hành vi cố ý

Mặt khách
quan

gây tổn hại sức khoẻ của X.
- Hậu quả: X bị thương tích với tỷ lệ tổn thương là 15% (trên 11%).
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của A và B là nguyên

Chủ thể
Mặt chủ quan

nhân trực tiếp khiến X bị thương.
A và B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng
lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định).
A và B thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

2. X bị thương tật với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 35%.
Như câu 1.
Bài tập 35: A kết hôn với X, có hai con chung. Một thời gian sau, X bỏ đi mà không làm thủ tục ly hôn
với A. X đến địa phương khác mua nhà, sống như vợ chồng với Y.2 năm sau khi X mất, A cùng hai con
đến nhà nơi X và Y sinh sống về bắt Y phải giao nhà. Y xin được chia một phần nhưng mẹ con A không
đồng ý. Y gửi đơn ra tòa, trong thời gian chờ tòa xét xử thì Avà hai con là B và C huy động hàng chục
người kéo tới và đuổi Y ra đường. Anh (chị) hãy xác định tội danh trong vụ án trên.
Tội danh mà A và hai con là B và C cùng với hàng chục người khác đã phạm là Tội xâm phạm chỗ ở
của người khác (cụ thể là Điểm b, Khoản 1, Điều 158, BLHS).


quan

hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra, thể hiện ở chỗ A và hai
con đã huy động hàng chục người kéo tới và đuổi Y ra đường.

Bài tập 36: B bị bố mẹ ép lên xe để anh A chở đến UBND phường X đăng ký kết hôn. Sau khi A và B đã
đăng ký kết hôn, bố mẹ B đồng ý cho A về ở luôn trong nhà mình cho tiện sinh hoạt. Vì không đồng ý với
cuộc hôn nhân nên A và B thường xuyên mâu thuẫn, A đã nhiều lần đánh đập B. Trong một lần cãi vã, A
dùng dao lam rạch lên người B rồi đổ cồn lên đốt làm cho B bị nhiều vết bỏng ở vùng lưng và vùng hông
đã nhiễm trùng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Anh (chị) hãy xác định hành vi của A có phạm tội
không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?
Tội danh mà A đã phạm là Tội hành hạ vợ (Điều 185, BLHS).
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của tội phạm này:

Khách thể
Mặt khách
quan

Dấu hiệu
- Khách thể: quyền được bảo vệ về sức khoẻ của B.
- Đối tượng tác động: B.
- Hành vi: Vì không đồng ý với cuộc hôn nhân nên A và B thường xuyên mâu
thuẫn, A đã nhiều lần đánh đập B. Trong một lần cãi vã, A dùng dao lam rạch lên
người B rồi đổ cồn lên đốt. Do vậy, A đã có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể
của vợ mình là chị B.
- Hậu quả: B bị nhiều vết bỏng ở vùng lưng và vùng hông đã nhiễm trùng với tỷ lệ
tổn thương cơ thể là 20%.
18


tác động của tội này là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi).
- Hành vi: A có hành vi giao cấu với B (lần đầu tiên quan hệ là lúc 15 tuổi), hành

quan
Chủ thể

vi này có sự tự nguyện, không ép buộc từ phía B.
A (21 tuổi) thoả mãn được điều kiện về chủ thể của tội này – chủ thể thường.
Thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp vì A nhận thức rõ hành vi của mình là xâm hại đế

Mặt chủ quan

danh dự, nhân phẩm và sẽ phát triển bình thường của B, nhưng vẫn mong muốn
thực hiện.

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status