BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VÕ ANH NHUỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2000
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài :
Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á được ví như một dãi núi lửa gồm
nhiều ngọn núi lửa đã âm ỉ hoạt động từ lâu, chứa đựng những mâu thuẫn nội tại
bên trong nó. Vào ngày 02/7/1997, Thái Lan, ngọn núi lửa đầu tiên đã thật sự
phun, và kéo theo cả một hệ thống. Đây là cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ
lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Nó đã và đang gây ra những hậu
quả nghiêm trọng đối với các nền kinh tế trong khu vực và sự tăng trưởng kinh tế
thế giới.
Cho tới nay đã có hàng trăm cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhỏ xảy ra ở hầu
khắp các Châu lục trên thế giới, song phần lớn các cuộc khủng hoảng đó đều xuất
phát từ những chỉ tiêu kinh tế vó mô hết sức tồi tệ. Riêng cuộc khủng hoảng tài
chính – tiền tệ ở Châu Á vừa qua lại có đặc điểm hoàn toàn khác. Nó dường như
được sinh ra từ chính sự thành công của khu vực. Vì quá say sưa với những kết quả
đạt được, các nước trong khu vực đã không chú ý tới những nguy cơ tiềm ẩn đằng
sau để kòp điều chỉnh, và đã phải trả giá rất đắt.
Là một quốc gia nằm trong khu vực khủng hoảng, lại trong bối cảnh quốc tế
hóa cao như hiện nay, Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực của
cuộc khủng hoảng đến tất cả các lónh vực kinh tế – xã hội. Do đó, việc nghiên cứu
cuộc khủng hoảng để rút ra bài học trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
thống kê phân tích, phân tích tổng hợp, quy nạp, diễn dòch. Đồng thời tham khảo
những kinh nghiệm quản lý kinh tế của các quốc gia đã trải qua những giai đoạn
khủng hoảng kinh tế, cũng như những kinh nghiệm quản lý kinh tế của các quốc
gia đã và đang phát triển mà không lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế để đi sâu có
trọng điểm nội dung của luận văn, nhằm nâng cao lý luận từ thực tiễn, phát hiện,
đònh hướng các giải pháp cần thiết và khả thi, qua đó hoàn thiện chính sách quản lý
kinh tế vó mô ở Việt Nam phù hợp với chủ trương, đường lối xây dựng nền kinh tế
-2-
thò trường theo đònh hướng Xã Hội Chủ Nghóa đã được Đảng Cộng Sản Việt Nam
đề ra trong các nghò quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII.
5. Bố cục của luận văn :
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và phụ lục, bố cục của luận văn gồm
có 3 chương :
Chương I
: Diễn biến, nguyên nhân và tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính – tiền tệ Châu Á.
Chương II
: Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á
đến nền kinh tế của Việt Nam.
Chương III : Giải pháp của các Quốc gia trong khu vực khủng hoảng tài
chính - tiền tệ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á là đề tài hết sức phức tạp nên luận
văn sẽ khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất đònh, rất mong nhận được sự góp
ý, phê bình của Quý thầy cô và những người quan tâm.
-4-
mức sinh hoạt chung của người dân bò nghèo đi, dân chúng bắt đầu biểu tình chống
lại chính quyền, thò trường tài chính của Thái Lan vốn đã rối loạn bởi hoạt động
đầu cơ tiền tệ, càng trở nên rối loạn hơn, luồng vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng
chảy ra…
Chính phủ cùng Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã phải tiến hành một loạt
các biện pháp để thoát khỏi cuộc khủng hoảng : Cắt giảm thâm hụt ngân sách, cải
cách nền tài chính, tăng thuế, đóng cửa những công ty làm ăn thua lỗ, nâng lãi suất
đồng nội tệ, duy trì mức lãi suất cao, kiểm soát chặt trạng thái ngoại hối của các
Ngân hàng Thương mại, tăng cường quản lý ngoại hối, rút ngắn thời hạn chuyển
tiền từ xuất khẩu của các nhà xuất khẩu từ 6 tháng xuống còn 3 tháng và vẫn tiếp
tục can thiệp trực tiếp vào thò trường bằng cách bán hàng tỷ USD dự trữ và để làm
giảm bớt tốc độ mất giá của đồng bản tệ, lấy lại lòng tin của dân chúng và giới đầu
tư nước ngoài, đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài.
Khủng hoảng tiền tệ ở Thái Lan không những gây ảnh hưởng trực tiếp đến
bản thân nền kinh tế nước này mà còn lan rộng ra một số nước khác, thò trường tài
chính tiền tệ trong khu vực Đông Nam Á cũng lâm vào cuộc khủng hoảng.
Đầu tiên là đồng Pêsô của Philippine bò áp lực giảm giá. Ngân hàng Trung
ương Philippine lúc đầu mở rộng biên độ và tung dự trữ ngoại tệ ra can thiệp nhằm
giữ giá đồng Pêsô, ngày 11/7 Philippine đã buộc phải tuyên bố thả nổi đồng Pêsô
khiến cho đồng tiền này tụt giá ngay lập tức hơn 10%. Ngày 21/7, IMF đã cho
Philippine vay khẩn cấp 1 tỷ USD để khôi phục giá trò của đồng Pêsô. Tiếp theo
đồng Pêsô Philippine, một loạt các đồng Ringgit Malaysia, Rupiah Indonesia, đôla
Singapore… Đa số các nước này đã hoặc phải nới lỏng biên độ giao dòch cho tỷ giá
đồng bảng tệ so với USD, hoặc bỏ ra một lượng lớn dự trữ ngoại tệ can thiệp hỗ trợ
trực tiếp vào thò trường hối đoái.
Đến tháng 10/1997, khủng hoảng tài chính – tiền tệ bắt đầu xảy ra ở Hàn
Quốc, sau một loạt những biến động trên chính trường và nhiều tập đoàn then chốt
Từ thập niên 90 đến nay, quá trình tự do hóa và toàn cầu hóa của các hoạt
động tài chính diễn ra rất nhanh. Tỷ trọng luồng vốn tư nhân có xu hướng tăng lên
-6-
rất nhanh, trong nội bộ luồng vốn tư nhân thì sự biến đổi cũng rất mạnh, đầu tư trực
tiếp giảm mạnh, thay vào đó là đầu tư gián tiếp, trong đó tăng nhanh nhất là đầu tư
gián tiếp theo danh mục vào trái phiếu và cổ phiếu.
Phân tích thực trạng quản lý các luồng vốn tư nhân khu vực Đông Nam Á thời
gian qua, các nhà kinh tế thế giới cho rằng có quá nhiều điều bất cập, trong đó có 3
vấn đề lớn gắn với nguyên nhân của cuộc khủng hoảng :
• Thứ nhất (và là vấn đề trọng tâm) là nợ của khu vực tư nhân : Các luồng
vốn tư nhân thông qua con đường tín dụng chảy vào khu vực Đông Nam Á thời
kỳ vừa qua được khích lệ bởi cả môi trường quốc tế và khu vực. Đó là quá trình
tự do hóa, toàn cầu hóa và những chính sách mở cửa rộng rãi cộng với những
thành tựu to lớn của các nước trong khu vực. Chính sự khích lệ này đã làm cho
các luồng vốn tín dụng (đặc biệt là tín dụng ngắn hạn) được đưa vào ồ ạt với
các điều kiện kết sức dễ dãi và lãi suất thấp. Song, đây cũng là nguyên nhân
dẫn đến khủng hoảng nợ của khu vực tư nhân, bởi lẽ sự dễ dãi đã làm cho các
nguồn vốn không được phân bổ hợp lý, kém hiệu quả và mang tính chất rủi ro
cao, các dự án đầu tư không thể thu hồi được vốn để trả các khoản nợ đến hạn
và hệ quả tất yếu là khủng hoảng đã xảy ra.
• Thứ hai, là thâm hụt cán cân vốn : Đặc điểm của các luồng vốn tư nhân trong
những năm gần đây ở khu vực Đông Nam Á là tỷ trọng các nguồn vốn đầu tư
vào chứng khoán (đầu tư theo danh mục vào cổ phiếu và trái phiếu) ngày càng
tăng lên. Đây là các khoản đầu tư gián tiếp và mang tính ngắn hạn vì chứng
khoán có tính thanh khoản cao, các nhà đầu tư rất dễ dàng có thể bán đi để lấy
tiền mặt mua ngoại tệ rút về nước. Chính điều này đã được thực hiện ở các
nước bò khủng hoảng trong khu vực Đông Nam Á. Việc các nhà đầu tư nước
ngoài (chủ yếu là các đònh chế đầu tư) bán đồng loạt các loại chứng khoán mà
dùng liên tục tăng. Chi phí tiền lương và các chi phí đầu vào của sản xuất ngày
một tăng. Do giá cả tiêu dùng tăng đòi hỏi Chính phủ phải tăng mức lương tối
thiểu, trong khi đó năng suất lao động chỉ tăng trung bình. Mặt khác, nhằm đẩy
nhanh tốc độ hiện đại hóa phục vụ xuất khẩu, đòi hỏi các nước trong khu vực
-8-
phải tăng nguồn vốn vay từ bên ngoài để bù đắp cho việc thiếu hụt trong nước.
Cùng với nó là sự gia tăng của chi phí lao động. Hạ tầng cơ sở, đặc biệt là các
hệ thống giao thông vận tải và điện lực đã không theo kòp tốc độ phát triển
công nghiệp. Lạm phát và chi phí lao động tăng mạnh đã phản ánh tình trạng
nền kinh tế quá nóng và sự thiếu hụt lao động lành nghề. Các nước trong khu
vực đã tụt hậu về trình độ giáo dục và các kỹ năng cần thiết nhằm vươn tới các
ngành công nghiệp sử dụng kỹ thuật cao.
• Thứ hai, thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức báo động là biểu hiện của sự mất
cân đối bên ngoài. Xét về mặt lý thuyết, đối với một nền kinh tế năng động, có
tốc độ tăng trưởng cao và ổn đònh, thâm hụt tài khoản vãng lai trong chừng mực
có kiểm soát được (dưới 5% GDP theo nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế
IMF) là điều không đáng lo ngại, thậm chí còn có lợi. Bởi vì nó tạo điều kiện
thuận lợi cho đầu tư và thu hút vốn từ bên ngoài, nhất là trong khi đang cố gắng
nâng cấp cơ sở hạ tầng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ các ngành công nghiệp
truyền thống sang các ngành công nghiệp kỹ thuật cao. Thế nhưng, thâm hụt
tài khoản vãng lai ở mức báo động (trên mức 5% so với GDP) đồng nghóa với
việc chi tiêu hàng hóa và dòch vụ của nước ngoài nhiều hơn là họ tự sản xuất,
sẽ đẩy nền kinh tế các nước này vào tình trạng khủng hoảng. Hay nói cách
khác, vay nợ nước ngoài để tự tài trợ cho những chi tiêu quá mức của mình.
Nguy hiểm hơn cả là quá nhiều trong số khoản vay này đã được đầu tư vào lónh
vực kinh doanh bất động sản vốn đã phát triển tràn lan hoặc vào việc mở rộng
các nhà máy không cần thiết làm tăng thêm tình trạng dư thừa công suất.
Tác động dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai nghiêm trọng tập trung ở một
thâm hụt tài khoản vãng lai quá lớn, sự mất cân đối đó được hình thành trên cơ sở
của chế độ tỷ giá hối đoái không phù hợp, một cơ chế quản lý tập trung nhưng lỏng
lẻo trong bối cảnh các thò trường tiền tệ – tài chính thế giới đang được hiện đại
hoá, tự do hoá và quốc tế hoá một cách mạnh mẽ và nhanh chóng.
1.2.3. CHIẾN LƯC ĐẦU TƯ XUẤT KHẨU :
-10
Chiến lược tập trung đầu tư đẩy mạnh xuất khẩu lấy đó làm động lực để tăng
trưởng kinh tế, nhưng do sự cạnh tranh mạnh mẽ của các nước trong khu vực đặc
biệt là Trung Quốc đã khiến cho thò trường xuất khẩu bò thu hẹp. Mặt khác, Mỹ
thực hiện nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn thâm hụt mậu dòch với các nước Đông
Nam Á, khiến sự tăng trưởng xuất khẩu của các nước bò giảm mạnh, đẩy mạnh
thâm hụt cán cân vãng lai, tăng trưởng kinh tế giảm sút, lạm phát tăng.
1.2.4. QUẢN LÝ N :
Nợ nước ngoài và nợ quá hạn ở mức cao cũng là một trong những nguyên
nhân cơ bản dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ. Phát triển kinh tế ở mức
cao trên cơ sở vốn đầu tư nước ngoài không được cân đối, khả năng quản lý các
khoản vay nợ yếu kém đã làm nợ nước ngoài ngày càng lớn. Khi nợ đến hạn sẽ
gây sức ép nặng nề lên hệ thống ngân hàng thương mại và làm tăng cầu ngoại tệ
đột biến đối với nền kinh tế, hàng loạt các ngân hàng và công ty tài chính lâm vào
tình trạng mất khả năng thanh toán.
1.2.5. CƠ CẤU ĐẦU TƯ :
Mất cân đối lớn giữa cơ cấu đầu tư và mối quan hệ giữa đầu tư và tiêu dùng.
Việc mở rộng tín dụng, đầu tư chủ yếu vào bất động sản, khu vực kinh tế Nhà
nước… và tỷ trọng những khoản nợ khó đòi trong nước rất cao, làm mất khả năng
thanh toán của các con nợ nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Khi thò
trường bất động sản có biến động, các công ty kinh doanh bất động sản bò thua lỗ
đã làm suy yếu hệ thống ngân hàng, kéo theo sự biến động trên thò trường chứng
hoảng, đồng bản tệ luôn bò sức ép tăng giá do tác động của các luồng vốn lớn bằng
ngoại tệ từ nước ngoài đổ vào, buộc ngân hàng trung ương các nước này mua vào
để giữ tỷ giá ổn đònh, đến thời điểm khủng hoảng thì lại phải bỏ ngoại tệ từ nguồn
dự trữ có hạn để cố gắng duy trì tỷ giá hối đoái. Mặc dù chế độ tỷ giá hối đoái cố
đònh có một số ý nghóa tích cực trong việc ổn đònh đồng nội tệ và hỗ trợ cho việc
tăng trưởng kinh tế, mở rộng thương mại và đầu tư quốc tế, tăng nhanh tốc độ tăng
trưởng, cũng như để khuyến khích luồng đầu tư và vốn nước ngoài đổ vào nhiều
-12
hơn. Tuy nhiên chế độ tỷ giá hối đoái cố đònh cũng có những điểm yếu cố hữu của
nó :
• Thứ nhất, dưới chế độ tỷ giá hối đoái này chức năng điều tiết kinh tế vó mô
đối với nền kinh tế của chính sách tiền tệ bò tê liệt do phải kiềm giữ tỷ giá.
Do được cố đònh với đồng USD và để ngăn chặn tình trạng lên giá của đồng
nội tệ, khi vốn nước ngoài đổ vào nhiều, Chính phủ đã buộc phải thực hiện
chính sách tiền tệ thả nổi – một nguyên nhân quan trọng làm cho nền kinh tế
phát triển quá nóng và rơi vào trạng thái mất cân đối bên trong và bên ngoài.
Chính sách tiền tệ thả lỏng không những đã thổi phồng một cách giả tạo nhu
cầu trong nước, thúc đẩy tiền lương tăng lên mà còn khuyến khích đầu tư quá
nhiều vào một số khu vực công nghiệp như bán dẫn, điện tử tiêu dùng, hoá
dầu và đặc biệt là trong lónh vực bất động sản.
• Thứ hai, nếu như chế độ tỷ giá hối đoái cố đònh đã góp phần giúp cho sản
xuất do đồng USD giảm giá, thì việc mua đồng USD lên giá so với đồng Yên
Nhật Bản và đồng Mark Đức đã gây tác động ngược lại. Tỷ giá hối đoái cố
đònh cùng với sự gia tăng của lạm phát đồng nghóa với việc đồng tiền lên giá
thực tế kết hợp với việc suy giảm của nhu cầu trên thò trường quốc tế và khu
vực làm cho xuất khẩu bò giảm sút. Hơn thế nữa, sự gia tăng thực tế của đồng
nội tệ cũng đã khuyến khích nhập khẩu và hậu quả là thâm hụt tài khoản
và buột Ngân hàng trung ương phải xuất một lượng ngoại tệ khá lớn nhằm kiềm
giữ giá hối đoái. Chính sách trong khu vực đã làm cho nguồn dự trữ ngoại tệ của
Chính phủ ngày càng thâm hụt lớn. Các nước này đã kìm hãm một cách giả tạo
đồng nội tệ để hút vốn nước ngoài nhằm bù đắp thiếu hụt tài khoản vãng lai và
kiềm chế lạm phát. Tình hình trên trong thời gian dài làm cho sức ép nội tệ phá giá
càng cao, là chỗ hở để bọn đầu cơ tiền tệ có cơ hội kiếm chác, gây lộn xộn trong
nhiều mối quan hệ kinh tế giữa các nước.
1.2.8. “VẤN ĐỀ LÒNG TIN”, ĐẦU CƠ VÀ KHỦNG HOẢNG :
Tình trạng mất cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài của nền kinh tế, tốc độ
tăng trưởng chậm lại, xuất khẩu giảm sút, thò trường bất động sản suy sụp,… đã làm
-14
cho số nợ khó đòi của các ngân hàng và công ty tài chính vượt quá giới hạn cho
phép. Tất cả những điều kể trên đã làm xuất hiện một vấn đề kinh tế học nan giải
mà nền kinh tế học quốc tế gọi là “vấn đề lòng tin” (“Confident problem”). Đó là
niềm tin của thò trường vào đồng tiền sớm hay muộn cũng bò phá giá để phù hợp
với những nền tảng cơ bản của nền kinh tế. Dự tính sự phá giá của đồng tiền trong
tương lai sẽ gây ra cuộc khủng hoảng về cán cân thanh toán, đặc biệt là sự suy
giảm rõ rệt dự trữ ngoại tệ và lãi suất trong nước tăng lên. Đây chính là sự thất
thoát vốn vì các nhà đầu tư sẽ bỏ chạy khỏi đồng nội tệ bằng cách bán chúng cho
ngân hàng trung ương để thu ngoại tệ và chuyển chúng ra nước ngoài. Nghiêm
trọng hơn cả là, các nhà đầu tư tiền tệ xuất hiện và bắt đầu thực hiện chu kỳ kinh
doanh của mình bằng cách vay đồng tiền nội đòa và bán chúng trên thò trường tiền
tệ nhằm kiếm lời ở vòng quay sau. Giới đầu cơ tiền tệ mà đi đầu là các quỹ đầu tư,
các ngân hàng thương mại đã thu gom và tích trữ ngoại tệ. Nhiều khoản tín dụng đã
được cấp cho các nhà đầu cơ để mua và tích trữ ngoại tệ làm cho cầu ngoại tệ trên
thò trường tăng vọt một cách giả tạo. Một hoạt động khác của các nhà đầu cơ tiền
tệ là đánh cược với nhau về khả năng sụt giá của các đồng tiền đòa phương trên thò
trường ngoại hối có kỳ hạn. Thò trường ngoại hối có kỳ hạn cho phép tiến hành các
− Để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nguồn tín dụng phải được mở rộng
nhanh chóng. Tuy nhiên, do không kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng, một
tỷ lệ lớn vốn đầu tư đã đổ vào khu vực bất động sản và chứng khoán, vượt
quá khả năng hấp thụ của thò trường, dẫn đến tình trạng “lạm phát bất động
sản” và bùng nổ thò trường chứng khoán, tạo ra sự phồn vinh giả tạo và dễ
dàng bò sụp đổ.
− Do lãi suất thực tế ở các nền kinh tế nghèo thường cao hơn các nền kinh tế
giàu (do đồng tiền yếu hơn và khối lượng vốn tích tụ thấp hơn) nên các
luồng vốn ngắn hạn chảy mạnh vào nền kinh tế đang phát triển. Ở các nước
Đông Á và Đông Nam Á, tỷ giá được duy trì cố đònh nên đã khuyến khích
các luồng vốn “nóng” đổ mạnh vào các nền kinh tế này để hưởng chênh
lệch lãi suất. Khi lượng vốn vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế thì sẽ
-16
chảy sang các lónh vực bất động sản và chứng khoán, gây nên tình trạng
“kinh tế bong bóng”.
− Do thò trường vốn và cơ cấu kinh tế của các nước này không hoàn thiện, có
nhiều hạn chế đối với FDI nên một bộ phận lớn vốn được đầu tư dưới hình
thức gián tiếp. Các hoạt động đầu cơ chứng khoán đã thắng thế ở hầu hết
các thò trường trong khu vực, do các nền kinh tế này có tốc độ tăng trưởng
cao, làm cho kỳ vọng vào lợi nhuận của các nhà đầu tư cao và lôi kéo nhiều
nguồn vốn đầu tư vào các thò trường chứng khoán. Giá cả chứng khoán phình
to và vượt quá giá trò thực tế của các công ty mà nó đại diện. Tình trạng này
tạo sự phồn vinh giả tạo, kích thích tâm lý đầu cơ, khuyến khích tiêu dùng
của dân chúng, gây thâm hụt cán cân thanh toán và làm tổn hại đến phát
triển kinh tế. Khi nền kinh tế xuất hiện những khó khăn, lập tức các bong
bóng bất động sản và chứng khoán vỡ ra, khiến thò trường bất động sản chao
đảo, nhiều ngân hàng không thu hồi được vốn cho vay và mất khả năng
thanh toán, nhiều công ty phá sản, nhiều nhà đầu tư mất trắng và các luồng
1.2.13. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ :
Sự thiên lệch giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá. Chính phủ áp
dụng chính sách tài khoá chặt chẽ, duy trì mức thuế rất cao nhằm bảo đảm ngân
sách thặng dư. Do chính sách thuế cao làm giảm lợi nhuận kinh doanh, bên cạnh đó
Chính phủ duy trì chính sách lãi suất thấp để bù lại. Hệ quả của chính sách thuế
cao là nhu cầu tiêu dùng nội đòa yếu, nền kinh tế bò lệ thuộc quá nhiều vào thò
trường bên ngoài.
1.2.14. HỆ THỐNG TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG :
Hệ thống tài chính – ngân hàng yếu kém, chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền
kinh tế tăng trưởng nhanh đã làm cho các hoạt động tài chính, tiền tệ và tín dụng
kém hiệu quả, nhất là việc huy động nguồn vốn tiết kiệm của dân để chuyển
chúng sang thành các nguồn vốn đầu tư phát triển. Thò trường tài chính được tự do
hóa mạnh, qui mô mở rộng tín dụng tăng nhanh, nhưng Chính phủ các nước đã
không tăng cường đúng mức các hệ thống giám sát và điều hành, dẫn đến hiệu quả
-18
hoạt động của ngân hàng kém và tình trạng tỷ lệ nợ khó đòi cao, tình trạng tài
chính thiếu lành mạnh cả ở cấp vó mô lẫn vi mô đã làm suy yếu nhanh chóng nền
tài chính quốc gia và khi thông tin đó lộ ra khiến giới đầu tư – kinh doanh bán đổ
bán tháo chứng khoán để rút vốn về, tạo nên sức ép khổng lồ, làm căng thẳng nền
kinh tế – tài chính, và quyết đònh thả nổi đồng bản tệ đột ngột của Chính phủ là
giọt nước cuối cùng làm bùng nên cuộc khủng hoảng tài chính và sự hoảng loạn.
Việc sử dụng ảnh hưởng chính trò để đònh hướng tín dụng, hệ thống ngân hàng và
các công ty tài chính thiếu chuẩn mực kế toán tốt, không giám sát đầy đủ, do đó đã
bao che cho các khoản vay tràn lan, đầy mạo hiểm, không tính đến khả năng trả nợ
của người đi vay, không lường trước rủi ro trong mỗi thương vụ. Chính phủ các
nước chỉ quan tâm đến tăng trưởng nóng mà không chú ý kiện toàn hệ thống ngân
hàng – tài chính, hệ quả tất yếu là ngân sách Nhà nước thâm hụt, lạm phát tăng,
nền kinh tế sớm muộn cũng lâm vào khủng hoảng.
làm cho các nguồn vốn ngắn hạn không ổn đònh trên thò trường tài chính
quốc tế trở nên dồi dào, sự bùng nổ của các luồng vốn quốc tế ngắn hạn đổ
vào các nền kinh tế đang phát triển cộng với chính sách mở rộng tín dụng
ngắn hạn nhằm kích thích nền kinh tế tăng trưởng nhanh đã làm cho quy mô
của thò trường tiền tệ (thò trường vốn ngắn hạn) phát triển nhanh chóng và
khi các nước sử dụng quá nhiều loại vốn này, dẫn đến khả năng rất dễ bò tổn
thương của hệ thống tài chính trong nước.
− Những bất ổn trong đời sống chính trò – xã hội của mỗi nước làm cho những
lý do trực tiếp gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế trở nên nhạy cảm và trầm
trọng hơn. Những biểu hiện mâu thuẩn giữa các phe chính trò khiến những kế
hoạch và chính sách phát triển của Chính phủ đương nhiệm đều có tính chất
thực dụng chính trò và ngắn hạn, làm giảm các khả năng đưa ra và tạo điều
kiện thực hiện các dự án, các chính sách phát triển kinh tế dài hạn và hiệu
quả. Do đó làm tăng cơ hội và tình trạng tham nhũng, đầu cơ, tội ác và bất
bình đẳng xã hội. Những điều này lại thúc đẩy sự mất ổn đònh chính trò – xã
hội, tức là làm giảm sức cạnh tranh và làm mất đi một trong những nhân tố
-20
cơ bản cho sự phát triển một nền kinh tế ổn đònh và bền vững. Tình trạng
quan liêu, tham nhũng phổ biến làm cho hiệu quả quản lý hành chính giảm,
bóp méo hiệu quả kinh tế, làm gia tăng chi phí kinh doanh. Sự thông đồng
giữa các quan chức Chính phủ với giới kinh doanh đã dẫn đến việc các
khoản vay và các dự án đầu tư được quyết đònh không dựa trên tính khả thi
mà dựa trên các mối quan hệ cá nhân, khiến cho bản thân Chính Phủ không
thể mạnh tay trong việc xử lý các bê bối nội tại của mình, làm cho các
nguồn lực của nền kinh tế bò phân bổ kém hiệu quả.
− Khi có dấu hiệu về sự giảm sút các hoạt động kinh tế, Chính phủ của các
nước này đã không có được các giải pháp hợp lý mang tính hệ thống trong
phạm vi toàn bộ nền kinh tế để giải quyết.
lúng túng về những đồng vốn cho vay quá lớn trước những diễn biến xấu của
thò trường tài chính – tiền tệ khu vực.
− Mở cửa thò trường thế giới, thu hút vốn thế giới là phương tiện, cơ hội, thời
cơ lớn để tăng trưởng nhanh. Ở đây các nước Đông Nam Á đã mở cửa thò
trường thế giới, thu hút vốn thế giới và đã dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế
trầm trọng bởi lẽ không có một khuôn khổ pháp luật để điều chỉnh, không
rèn luyện và đào tạo cán bộ một cách nghiêm túc, cán bộ đã không chòu
được sự cám dỗ là muốn làm giàu nhanh. Không có sự nghiêm khắc, kỷ luật
sắt, ý chí sắt đá, hành động tỉnh táo để hạn chế sự cám dỗ lớn khi mở cửa,
các giới kinh doanh không được sự đào tạo và hành động một cách vô trách
nhiệm dẫn đến hiệu quả hết sức nghiêm trọng.
1.3. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI :
1.3.1. TÁC ĐỘNG CHUNG :
− Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới trong những năm tới giảm so với năm
1997, nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng thiểu phát toàn cầu. Cuộc
khủng hoảng Châu Á đã làm giảm mạnh các luồng chu chuyển vốn tư nhân
vào các nền kinh tế đang nổi lên.
-22
− Do sự suy giảm các nguồn vốn tư nhân vào các thò trường đang nổi lên ở
Châu Á đã buộc các nền kinh tế Châu Á phải điều chỉnh mạnh các lónh vực
kinh tế đối ngoại và tác động đến cán cân thương mại của các nước khác.
− Tác động đến kinh tế vó mô của các nước : Mức lạm phát tiếp tục có chiều
hướng giảm ở nhiều nước phát triển, một phần do giá các mặt hàng cơ bản
giảm, đặc biệt là dầu lửa, phân bón, xi măng, vật liệu xây dựng…. Sự giảm
sút của giá cả phản ánh sự suy giảm cầu về hàng hóa ở các nước bò tác động
bởi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á. Mặt khác sự giảm giá
mạnh của đồng tiền các nước đã làm giảm giá các hàng hóa xuất khẩu của
khỏi việc Châu Á phải xuất khẩu những mặt hàng đó với giá rẻ quá mức.
Ngành thép thế giới đang được lợi cho nên phải đình hoãn xây dựng các nhà
máy cán thép lớn, ngăn chặn khủng hoảng thừa và giá thép giảm. Tổng công
suất các nhà máy được xây dựng từ năm 1997-2000 sẽ giảm 37% so với dự
đoán ban đầu. Mặt khác cũng do khủng hoảng những hàng hoá quy mô lớn
như máy bay Boeing , Airbus hay những nhà máy điện của Phương Tây khó
tiêu thụ được ở Châu Á hơn. Số tiền sẽ lên đến hàng ngàn tỷ USD, hậu quả
sẽ làm gia tăng thất nghiệp ở các ngành trên tại các nước giàu.
1.3.2. TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC NƯỚC KHÁC NHAU :
1.3.2.1. NHÓM CÁC NƯỚC BỊ KHỦNG HOẢNG :
Sản xuất thu hẹp, trao đổi thương mại cũng chững lại, dòng vốn đầu tư nước
ngoài chảy ngược, cùng với những biến động nguy hiểm của lạm phát, lãi suất và
mức cầu thò trường đã đẩy hàng loạt các công ty vào tình trạng phá sản, gây ra tỷ
lệ thất nghiệp cao chưa từng có. Đó là những biểu hiện nổi bật của trạng thái
khủng hoảng kinh tế diễn ra ở các nước Đông Á trong thời gian giữa năm 1997,
1998 và 1999. Nhà kinh tế học người Mỹ – Paul Krugman nhận đònh : “Các nước
Châu Á phát triển trên cơ sở tăng ồ ạt đầu vào (vốn, lao động), nhưng lại không
tính đến hiệu quả. Đó là sự trượt dốc mang tính cơ cấu. Tăng trưởng của khu vực
phần lớn là do đầu tư nhiều và di chuyển một lực lượng lao động lớn từ nông
-24