Chính sách kiều hối của một số nước châu á và bài học kinh nghiệm cho việt nam (tóm tắt) - Pdf 22

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có tỷ lệ tiết kiệm nội
địa thấp, luôn có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế và
phát triển bền vững, nhất là xóa đói giảm nghèo. Đối với các nước này,
nguồn lực trong nước là cơ bản, nhưng nguồn lực từ bên ngoài luôn có vai
trò đặc biệt quan trọng cho sự tăng trưởng bứt phá, đuổi kịp các nền kinh tế
phát triển khác. Nhằm đáp ứng yêu cầu vốn, nhiều quốc gia thường tìm đến
thị trường tài chính trong nước và quốc tế như phát hành trái phiếu chính
phủ, trái phiếu quốc tế hay đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhận viện trợ
phát triển chính thức (ODA) mà còn ít quan tâm đến những khoản tiền của
các cá nhân chuyển từ nước ngoài về cho thân nhân trong nước, đó là dòng
tiền kiều hối Kiều hối ngày càng có khuynh hướng quan trọng đối với
các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Song, tại một số quốc gia,
dòng kiều hối hiện lại bị giới hạn bởi các yếu tố nội tại thuộc các nước tiếp
nhận kiều hối như chính sách quản lý của nhà nước, mức phí chuyển tiền,
hệ thống dịch vụ ngân hàng trong nước… đòi hỏi phải cải thiện các chính
sách để tối ưu hóa vai trò cũng như các lợi ích tiềm năng của dòng kiều hối
có thể mang lại cho nền kinh tế.
Ở các nước đang phát triển nói chung và một số nước Châu Á nói riêng
mà điển hình như Ấn độ, Trung Quốc, Philippines…dòng kiều hối chảy về
trong nước ngày càng tăng lên đáng kể. Trên khắp thế giới, nhóm nước
nhận kiều hối nhiều nhất trong năm 2013 bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc,
Mêhicô, Philippin và Pháp. Ở các nước châu Á, ba quốc gia đứng đầu về
thu hút kiều hối đó là Ấn Độ, Trung Quốc, Philippin và Việt Nam đứng
hàng thứ tư. Đối với Việt Nam, kiều hối ngày càng trở nên quan trọng.
1
Những năm gần đây, dòng kiều hối vào Việt Nam tăng cả về số tuyệt đối và
tương đối so với GDP. Thống kê cho thấy, từ năm 1993 đến 2009, lượng
kiều hối đã tăng lên khoảng 45 lần, từ 141 triệu USD năm 1993 lên 6,28 tỷ
USD năm 2009 và năm 2013 Việt Nam đã đạt hơn 12 tỷ USD kiều hối thu

bệnh, chi phí học hành và đầu tư kinh doanh;
Nghiên cứu của Pfau và Long (2006) cho thấy sự dịch chuyển trong
phân phối của kiều hối trong thời gian gần đây: từ thành thị dịch dần sang
nông thôn, từ vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ dịch dần sang
vùng Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, hai tác giả còn
tập trung vào tìm hiểu mục đích sử dụng của các nguồn kiều hối này.
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh (2006) nghiên cứu dưới góc độ tác động
của kiều hối tới phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình, kết quả
nghiên cứu cho thấy những hộ gia đình nhận kiều hối có khuynh hướng sử
dụng một phần lớn hơn trong thu nhập tăng thêm cho việc xây và sửa nhà.
Tác giả Nguyễn Đức Thành (2007) sử dụng kỹ thuật mô hình hoá cân
bằng tổng thể (CGE) để phân tích tác động của kiều hối đến nền kinh tế
Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu này củng cố quan điểm cho rằng ảnh
3
hưởng của kiều hối lên nền kinh tế của các nước đang phát triển là phức tạp
và pha trộn nhiều khuynh hướng khác nhau.
Tác giả Đỗ Thị Đức Minh và cộng sự (2007) đã xây dựng thành công
một mô hình cân bằng tổng thể khả toán (CGE) để thực hiện những phân
tích định lượng đầu tiên về ảnh hưởng của kiều hối đến nền kinh tế Việt
Nam.
Các nghiên cứu khác chủ yếu nghiên cứu kiều hối dưới giác độ là một
khoản mục trong cán cân thanh toán quốc tế, do đó ảnh hưởng tới tình trạng
cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, và phần nào ảnh hưởng đến tình trạng
đô la hóa, lạm phát trong những điều kiện cụ thể. Hoặc kiều hối như một
yếu tố trong tiến trình tự do hóa tài chính
Nghiên cứu ngoài nước:
- Khái niệm, bản chất của kiều hối/chuyển tiền kiều hối, phân loại kiều hối,
biện pháp tăng cường hiệu quả của kiểu hối (Tasneem Siddiqui, 2008).
- Mối quan hệ kiều hối, đói nghèo và đầu tư (Samuel Munzele Mainmbo
and Dilip Ratha, 2005)

Trung Quốc và Philippines trong việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn kiều
hối một cách có hiệu quả để hoạch định chính sách kiều hối của Việt Nam
trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kiều hối và chính sách kiều hối: Khái niệm về
kiều hối và chính sách kiều hối; Bản chất của nguồn kiều hối (dòng kiều hối);
5
Những yếu tố kinh tế xã hội quyết định đến nguồn kiểu hối đối với một quốc
gia;
- Trên cơ sở tổng quan lý luận về kiều hối, luận án phân tích chính sách kiều
hối của một số nước Châu Á, trong đó giới hạn phạm vi nghiên cứu đến ba
quốc gia tiêu biểu nhất là Ấn Độ, Trung Quốc và Philippin.
- Từ sự phân tích chính sách kiều hối của ba quốc gia trên, luận án đưa ra sự
so sánh về chính sách thu hút kiều hối của ba quốc gia để từ đó rút ra những
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thu hút và sử dụng có hiệu
quả nguồn kiều hối cho phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
- Để minh chứng cho những luận điểm của luận án, phạm vi nghiên cứu của
luận án chọn mẫu điển hình ba quốc gia Ấn Độ, Trung Quốc và Philippin
với thực trạng và tác động của kiều hối trong khoảng thời gian từ năm 1995
trở lại đây.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Sử dụng những phương pháp chủ yếu trong khoa học xã hội gồm phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phương
pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp.
- Trên cơ sở thực tiễn về chính sách kiều hối của Ấn độ, Trung Quốc và
Philippines để phân tích những tác động của nó đến phát triển kinh tế xã hội.
- Bên cạnh đó, luận án sẽ sử dụng các công cụ thống kê, biểu đồ, mô hình
hoá phổ biến để phân tích và chứng minh cho các nhận định và quan điểm
học thuật.
6. Những đóng góp của luận án:

ngoài, được thể hiện trong cán cân thanh toán quốc tế là các khoản
chuyển tiền (ròng)”. Mặc dù việc chuyển tiền (remittances) có thể
mang tính quốc tế hoặc nội địa (giữa các vùng khác nhau của cùng một
nước) nhưng trong luận án chỉ đề cập đến việc chuyển tiền quốc tế
(international remittances). Theo Puri & Ritzema (1999), kiều hối
(international remittances) có thể được định nghĩa là “phần thu nhập
của người lao động ở nước ngoài gửi về nước”.
Theo quyết định 170/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày
19/08/1999 đã giải thích định nghĩa về kiều hối: “Kiều hối là các ngoại
tệ tự do chuyển đổi được chuyển vào Việt Nam theo các hình thức
sau:Chuyển ngoại tệ thông qua các tổ chức tín dụng được phép;
Chuyển ngoại tệ thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài
chính bưu chính quốc tế; Cá nhân mang ngoại tệ theo người vào Việt
Nam. Cá nhân ở nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam có mang theo
ngoại tệ hộ cho người Việt Nam ở nước ngoài phải kê khai với Hải
quan cửa khẩu số ngoại tệ mang hộ từ nước ngoài gửi về cho người thụ
hưởng ở trong nước.
Như vậy, quan điểm về định nghĩa kiều hối của Việt Nam thống
nhất với định nghĩa của Ngân hàng thế giới và luận án dựa vào quan
điểm thống nhất này làm cơ sở lý luận cho phân tích.
1.1.2 Sơ lược về dòng chu chuyển kiều hối toàn cầu
Trên khắp thế giới, nhóm nước nhận kiều hối nhiều nhất trong năm
2010 bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Mêhicô, Philippin và Pháp. Báo cáo
mới cập nhật của Ngân hàng thế giới (WB) nhận định kiều hối toàn thế giới
năm 2013 ước tính đạt 534 tỉ USD và sẽ tăng lên 685 tỉ USD vào năm 2015.
8
Trong đó, các nước đang phát triển sẽ nhận được tổng cộng 406 tỉ USD
kiều hối năm 2012, tăng 6,5% so với năm 2011. Dẫn đầu danh sách này là
Ấn Độ với 70 tỉ USD. Theo sau là Trung Quốc (66 tỉ USD), Philippines và
Mexico (cùng 24 tỷ USD), Nigeria (21 tỉ USD), Hy Lạp (18 tỉ USD),

hoặc sang học tập ở nước ngoài, với hy vọng rằng sau một thời gian lao
động và học tập hoặc có việc làm, họ sẽ gửi một phần tiền về để thanh toán
một phần hoặc toàn bộ các khản nợ trước đó. Đây thực chất giống như một
khoản đầu tư.
Động cơ cuối cùng có thể xem xét là động cơ đồng bảo hiểm. Người di
cư có thể đầu tư vào bất kể tài sản tài chính nào tại nước mình làm việc,
nhưng lại không thể tránh được những rủi ro do thị trường tài chính không
hoàn hảo. Chính vì vậy, một chỗ dựa vững chắc để giảm thiểu rủi ro này là
chuyển tiền về cho gia đình.
1.1.4 Tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội của các nước
đang phát triển
1.1.4.1 Những tác động tích cực của kiều hối đến phát triển kinh tế xã
hội của các nước đang phát triển
Những đóng góp tích cực của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội trên
một số điểm nổi bật sau: kiều hối là kênh cung cấp ngoại tệ mạnh, làm tăng
dự trữ ngoại hối và tài trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai; góp phần thúc đẩy
đầu tư và tiêu dùng, là động lực cho tăng trưởng kinh tế; kiều hối mang
tính ổn định, giảm thiểu rủi ro tín dụng và gánh nặng nợ nần; góp phần
hoàn thiện hệ thống tài chính non trẻ và chuyển giao kiến thức, công
10
nghệ; góp phần giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển; kiều hối có
tác động tích cực đến nguồn nhân lực. Kiều hối có thể giúp gia đình nhận
kiều hối đầu tư nhiều hơn vào nguồn nhân lực dưới dạng tăng chi tiêu cho giáo
dục và sức khỏe.
1.1.4.2 Những tác động tiêu cực của kiều hối đến phát triển kinh tế xã
hội ở các nước đang phát triển
Những hạn chế cơ bản của dòng kiều hối được thể hiện ở những điểm
như: kiều hối làm gia tăng tình trạng đô la hoá; gia tăng độ nhạy cảm với
ngoại tệ trong nền kinh tế; gây ra những trở ngại trong việc xác định
lượng tiền cung ứng’ làm tăng nguy cơ lạm phát; việc sử dụng ngoại tệ

nước, từng khu vực nhằm khuyến khích, động viên kịp thời những nhân tố
tích cực, phát huy thế mạnh của cộng đồng, hạn chế mặt tiêu cực, tranh thủ
tối đa đóng góp của kiều bào cho sự nghiệp phát triển đất nước.
Năm là, làm cho kiều bào tiếp cận và hiểu các chính sách phát triển
kinh tế xã hội của đất nước một cách nhanh chóng, chính xác và đúng đắn.
1.2.3 Chính sách quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng dòng kiều hối
Một là, Nhà nước thực thi các chính sách nhằm định hướng hoặc tạo
động lực để kiều hối đầu tư vào khu vực sản xuất và các lĩnh vực con người
như giáo dục và sức khỏe cộng đồng… nhằm tạo ra các hiệu ứng phát triển
tích cực về dài hạn cho đất nước.
12
Hai là, đối với chính sách tỷ giá hối đoái: cần xem xét một chế độ tỷ
giá linh hoạt hơn thông qua việc nới lỏng biên độ giao dịch tỷ giá và khi cần
thiết có thể điều chỉnh dần tỷ giá chính thức, đồng thời giảm bớt can thiệp
trên thị trường ngoại hối.
Ba là, đối với chính sách tài khóa: Theo kinh nghiệm của các quốc gia,
khi có sự gia tăng của các dòng vốn vào, chính phủ cần nhanh chóng và
kiên quyết trong việc hạn chế chi tiêu, giảm bớt tác động lên tổng cầu và áp
lực gây lạm phát.
Bốn là, Hoàn chỉnh và xây dựng mới các chính sách thu hút kiều bào
tăng cường đầu tư hoạt động kinh doanh ở trong nước.
CHƯƠNG II: KIỀU HỐI VÀ CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI
CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
2.1 Kiều hối và vai trò của kiều hối ở các nước Châu Á
Theo báo cáo của WB về kiều hối và di trú toàn cầu, tính chung trên
toàn cầu, lượng kiều hối được di chuyển xuyên biên giới đã có dấu hiệu
phục hồi và tăng: từ mức 416 tỷ USD năm 2009 lên 440 tỷ USD năm 2010.
Báo cáo trên cho biết 7 trong 10 nước nhận được nhiều kiều hối nhất theo
thứ tự là Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Pakistan, Bangladesh, Việt Nam
và Sri Lanka. Kiều hối đã đóng góp một phần quan trọng vào sự phục hồi

Tăng cường hơn nữa tính minh bạch và bảo vệ người tiêu dùng tại thị
trường Ấn Độ cho dịch vụ chuyển tiền , nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền
cần phải: (a) thông qua một hiến chương bảo vệ người tiêu dùng, được công
14
bố rộng rãi và (b) chỉ định giải quyết khiếu nại và công bố chi tiết nội dung
giải quyết khiếu nại của họ.
*) Những chính sách cải cách trong lĩnh vực tài chính.
Cải cách trên lĩnh vực tài chính theo hướng tự do hoá đã làm thay đổi
những hoạt động trong hệ thống ngân hàng, tạo ra cơ hội để thực hiện vai
trò năng động của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế. Những cải cách
trong hệ thống ngân hàng nhằm khuyến khích đầu tư tư nhân trong lĩnh vực
ngân hàng, cho phép các ngân hàng nhà nước bán cổ phần ra thị trường tự
do, tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ ngân hàng phát triển trong đó có
dịch vụ chuyển tiền kiều hối. Tính cạnh tranh của các ngân hàng công ngày
càng được nâng cao trước sự điều tiết của thị trường tài chính và trước
những đối thủ mới ở trong nước cũng như những đối tác cạnh tranh tư nhân
nước ngoài.
*) Vai trò của các cơ quan thông tin
Các cơ
quan chủ quản có thẩm quyền trong việc chuyển tiền tiền
kiều hối trên đã đưa ra những chính sách thống nhất nhằm bảo vệ
lợi ích của các đối tượng chuyển tiền kiều hối sao cho có lợi nhất,
đảm bảo tính minh bạch nhằm tạo lòng tin và thu hút dòng tiền kiều
hối về nước ngày một nhiều hơn.
2.2.1.2 Tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội Ấn Độ
Thứ nhất, đó là vai trò của dòng tiền kiều hối được gửi từ những Ấn kiều
như một nguồn đầu tư quý giá đối với một số lĩnh vực then chốt, đăc biệt là
trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Thứ hai, vai trò của kiều hối được phản ánh gián tiếp bởi sự thành công của
đội ngũ doanh nhân Ấn kiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của

Theo đó, những người tài nước ngoài sẽ được mời nhập cư vĩnh viễn, xuất
nhập cảnh và được tạm trú với hộ chiếu có sẵn mà không cần visa
Thứ năm, chính phủ phát hành “trái phiếu kiều dân” (diaspora bond) – một
loại nợ chính phủ phát hành bằng nội tệ được bán cho người dân xa xứ để
có vốn đầu tư vào các dự án cụ thể. Thông qua hình thức này, kêu gọi lòng
yêu nước của người di cư ra nước ngoài có nguyện vọng muốn đầu tư xây
dựng đất nước.
2.2.2.2 Tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thành công trong phát triển kinh tế xã
hội của Trung Quốc, trong đó có sự đóng góp của dòng tiền kiều hối.
Thứ nhất, kiều hối góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế của Trung
Quốc.
Thứ hai, thông qua lượng kiều hối do người thân chuyển về quê nhà, ở Đại
Lục đã nổi lên phong trào dùng tiền kiều hối để xây dựng sửa sang nhà cửa,
cải thiện đời sống, đầu tư cho con cái đi học, nhờ đó kinh tế địa phương
phát triển vượt bậc.
Thứ ba, Trung Quốc thực hiện chiến lược phát huy được tiềm năng của
Hoa kiều trong phát triển kinh tế thông qua thu hút chất xám, thu hút đầu tư
và lấy chính Hoa kiều làm cầu nối để đưa hàng hoá thâm nhập thị trường
quốc tế.
2.2.3 Ở Philippines
2.2.3.1 Chính sách kiều hối của Philippines
Philippines là nước xếp hạng thứ tư trong việc thu hút kiều hối ở Châu
Á, năm 2013 lượng kiều hối về Philippines đạt 17 tỷ USD. Để thu hút, quản
17
lý và sử dụng có hiệu quả nguồn kiều hối, chính phủ Philippines đã áp dụng
những chính sách sau:
Thứ nhất, chuyên nghiệp hóa chính sách xuất khẩu lao động, biến lĩnh
vực này trở thành ngành công nghiệp mới, hướng đến thị trường là các quốc
gia phát triển đồi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao hay các quốc gia có

gia đình nhận kiều hối đầu tư nhiều hơn vào nguồn nhân lực dưới dạng tăng
chi tiêu cho giáo dục và sức khỏe. Kiều hối trở thành một nguồn ngoại tệ
quan trọng, đặc biệt đối với các nước có thâm hụt tài khóa, nợ nước ngoài,
thường xuyên mất cân bằng cán cân thương mại và hoạt động đầu tư nước
ngoài còn hạn chế.
Cả ba quốc gia đều sử dụng nhiều chính sách nhằm thu hút có hiệu quả
nguồn kiều hối giúp ích cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mỗi
quốc gia đều có những điểm riêng biệt tùy thuộc vào điều kiện phát triển
kinh tễ xã hội của từng quốc gia.
Tóm lại, tổng quan về kiều hối của một các nước thuộc khu vực Châu
Á cho thấy, dòng kiều hối là lợi ích lớn nhất mà các nước xuất khẩu lao
động nhận được từ quá trình dịch chuyển lao động toàn cầu. Trong những
năm gần đây đã có sự tăng trưởng nhanh chóng của dòng kiều hối trong mối
tương quan với các dòng tài chính khác. Rõ ràng là trong khi các dòng tài
chính khác khá bất ổn và thậm chí có khuynh hướng giảm từ sau năm 2000
thì kiều hối vẫn tăng một cách vững chắc. Tác động của kiều hối có thể diễn
ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Kiều hối có thể tác động đến
những vấn đề như: vấn đề nghèo đói và bất công bằng thu nhập, tiêu dùng,
19
đầu tư và tiết kiệm gia đình, thị trường lao động, nguồn nhân lực và các
biến số kinh tế vĩ mô khác.
CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆC HOẠCH ĐỊNH
VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH KIỀU HỐI CỦA VIỆT NAM
3.1 Bài học kinh nghiệm về chính sách kiều hối của ba quốc gia Ấn Độ,
Trung Quốc và Philippines.
Qua những nghiên cứu về chính sách thu hút kiều hối của các nước Ấn
Độ, Trung Quốc, Philippin, những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
từ những thành công mà các quốc gia trên đạt được từ việc thu hút nguồn
kiều hối nhằm phát huy những ích lợi mà kiều hối mang lại cho phát triển
kinh tế xã hội của đất nước có thể khái quát như sau:

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, năm 2012, lượng kiều hối về
Việt Nam đạt mức 10 tỷ USD, năm 2013 đạt 12 tỷ USD. Nguồn kiều hối
vào Việt Nam bao gồm: + Một phần chuyển trực tiếp cho người thân, gia
đình, bạn bè nhằm giúp họ cải thiện khó khăn trang trải cuộc sống; + Một
phần lượng kiều hối tập trung trong các lĩnh vực y tế, giáo dục như tài trợ
cho các dự án xây dựng cải tạo trường học, góp vốn đầu tư vào các bệnh
viện tư có quy mô lớn; + Một phần kiều hối đầu tư vào doanh nghiệp vừa
và nhỏ như lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, du lịch, thủ công mây tre, chế
biến nông sản, thực phẩm xuất khẩu …; + Một phần kiều hối tập trung ở
một số lĩnh vực công nghệ có hàm lượng chất xám cao như lĩnh vực thiết bị
21
kỹ thuật, thiết bị xây dựng, viễn thông thông tin… ; + Ngoài ra một phần
lớn kiều hối đang chuyển dần vào thị trường bất động sản và chứng khoán.
3.2.4 Phân tích tác động của kiều hối đến phát triển kinh tế xã hội ở
Việt Nam
3.2.4.1 Những tác động tích cực của kiều hối đến phát triển kinh tế - xã
hội ở Việt Nam
Kiều hối có nhiều tácđộng tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của
Việt Nam như: kiều hối là một trong hai nguồn vốn (cùng với dòng vốn đầu
tư trực tiếp FDI) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các nguồn vốn từ bên
ngoài vào Việt Nam và có xu hướng tăng lên qua các năm; có vai trò quan
trọng đối với tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng; là dòng tiền vào ổn định tạo
nguồn bù cân bằng cán cân vãng lai; có những đóng góp tích cực đến sự
phát triển của thị trường tài chính vì những khoản tiền này làm tăng nguồn
cung ứng vốn cho các tổ chức tài chính; góp phần giải quyết khủng hoảng
và tăng uy tín tín dụng; đồng thời giúp tăng thu nhập của người dân và góp
phần giảm đói nghèo
3.2.4.2 Những tác động tiêu cực của kiều hối đến phát triển kinh tế - xã
hội ở Việt Nam
Kiều hối cũng gây một số bất ổn kinh tế vĩ mô cho quốc gia nhận kiều

lao động của Philipines. Những lao động xuất khẩu ra nước ngoài gửi tiền về
nước là một trong những kênh kiều hối quan trọng, vì vậy để tăng cường
23
nguồn kiều hối cho đất nước, một trong những chính sách kiều hối quan trọng
là thúc đẩy lao động xuất khẩu ra nước ngoài, một mặt giải quyết công ăn
việc làm, đào tạo nghề theo hướng chuyên sâu, học hỏi nền văn minh các
nước phát triển, một mặt gửi tiền về cho người thân giúp cải thiện đời sống
quê nhà, góp phần công cuộc xóa đói giảm nghèo
3.4 Một số kiến nghị về chính sách kiều hối của Việt Nam
Một là, thúc đẩy nhanh quá trình hoàn thuế VAT; các cư quan ban
ngành cần hướng dẫn rõ các thủ tục hành chính cho bà con; rút ngắn thời
gian đăng ký cấp phép kinh doanh, cho thời hạn bằng lái xe đối với kiều
bào lâu hơn tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư lâu dài; các chính sachs
phải được cụ thể hóa theo từng địa phương.
Hai là, Nhà nước cần tạo dựng chính sách hợp tình hợp lý cần thiết
để tất cả nười Việt Nam dù ở bất kỳ quốc gia nào, với quốc tịch thứ hai nào
cũng nhận thấy mình là người Việt Nam với đầy đủ nghĩa vụ và quyền lợi
của một công dân Việt Nam, bình đẳng với mọi công dân khác không phân
biệt đối xử, điều này càng khuyến khích những người định cư ở nước ngoài
lòng yêu nước và mong muốn đầu tư đóng góp xây dựng đất nước.
Ba là, Nhà nước cần có nhiều hơn nữa những quy định thông
thoáng hơn trong việc mua nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài trong việc làm thủ tục giấy tờ hành chính, bảo vệ quyền lợi
chính đáng của họ khi mua nhà.
Bốn là, cần điều chỉnh chính sách thuế thu nhập sao cho hợp lý,
vừa đảm bảo nguồn thu ngân sách vừa khuyến khích được người lao động
có mức lương cao phải nộp thuế vẫn thấy thỏa đáng với công sức lao động
của họ.
24
Năm là, Ngân hàng Nhà nước cần có những nghiên cứu chi tiết hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status