LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này được hoàn thành là cả quá trình nghiên cứu
với tinh thần nghiêm túc của bản thân, cùng với sự giúp đỡ tận tình của tập thể
giảng viên hướng dẫn. Các số liệu, kết quả, trích dẫn nêu trong luận án có nguồn
gốc rõ ràng và trung thực.
Tác giả luận án
NCS. Nguyễn Thị Ngọc Loan
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT
TẮT
TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT
1 ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
2 BSP Bangko Sentralng
Philipinas
Ngân hàng nhà nước Phillipines
3 BPO Business Process Gia công một số công đoạn sản
xuất kinh doanh
4 FDI Foreign Direct
Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
5 IMF International Monetary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
6 IMD Institute of Management
Development
Viện quản lý phát triển
7 IT Công nghệ thông tin
8 NRI Non Resident Indian
6 Bảng 2.2 Một số chỉ số kinh tế quan trọng về kinh tế Trung Quốc 69
7 Bảng 2.3 Lượng kiều hối chuyển về Philippines 73
8 Bảng 2.4 Một số chỉ số kinh tế quan trọng về kinh tế Philippines 77
9 Bảng 3.1 Chi phí can thiệp của NHNN Việt Nam trên thị trường
ngoại hối 116
4
DANH SÁCH CÁC HÌNH
STT STT
hình
Danh mục các hình Trang
2 Hình 1.2 Nhóm nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới 23
3
Hình 1.1
Thứ bậc của kinh tế Trung Quốc có sự nhảy vọt trong vòng 6
năm qua 70
4 Hình 3.1 Dòng kiều hối vào Việt Nam giai đoạn 1995 - 2010 101
5 Hình 3.2 Diễn biến của kiều hối, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam 108
6 Hình 3.3 Dòng vốn FDI và kiều hối vào Việt Nam giai đoạn 1996 -
2011 112
7 Hình 3.4 Tỷ giá thực song phương USD/VND từ 1995-2010 114
8 Hình 3.5 Cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn quý I/2005 đến quý
IV/2008 115
9 Hình 3.6 Mối quan hệ giữa lạm phát và cung ứng tiền M2 từ quý III/2005
đến quý I/2010 116
10 Hình 3.7 Mối quan hệ giữa kiều hối và tiền gửi ngoại tệ của Việt
Nam giai đoạn 1996 - 2009 118
11 Hình 3.8 Lượng ngoại tệ trong lưu thông của Việt Nam từ quý
I/1996 đến quý IV/2009 119
5
PHẦN MỞ ĐẦU
mà điển hình như Ấn độ, Trung Quốc, Philippines…dòng kiều hối chảy về trong
nước ngày càng tăng lên đáng kể. Trên khắp thế giới, nhóm nước nhận kiều hối
nhiều nhất trong năm 2013 bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Mêhicô, Philippines và
Pháp. Ở các nước châu Á, ba quốc gia đứng đầu về thu hút kiều hối đó là Ấn Độ,
Trung Quốc, Philippines và Việt Nam đứng hàng thứ tư. Đối với Việt Nam, kiều
hối ngày càng trở nên quan trọng. Những năm gần đây, dòng kiều hối vào Việt
Nam tăng cả về số tuyệt đối và tương đối so với GDP. Thống kê cho thấy, từ
năm 1993 đến 2009, lượng kiều hối đã tăng lên khoảng 45 lần, từ 141 triệu USD
năm 1993 lên 6,28 tỷ USD năm 2009 và năm 2013 Việt Nam đã đạt hơn 12 tỷ
USD kiều hối thu hút từ nước ngoài.[19]
Thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã thực hiện các
chính sách nới lỏng đối với dòng kiều hối từ năm 1989. Những thay đổi trong
chính sách quản lý ngoại hối cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các dòng vốn
nói chung và kiều hối nói riêng. Song các chính sách liên quan đến kiều hối vẫn
còn nhiều bất cập, chưa thu hút tối đa các nguồn kiều hối để phát huy những tác
động tích cực và có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tác động tiêu cực
của kiều hối. Để tối ưu hóa nguồn vốn kiều hối cho phát triển đòi hỏi phải có
một hệ thống chính sách kiều hối đồng bộ và khoa học, phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam.
Học hỏi kinh nghiệm của những quốc gia điển hình về thu hút và sử dụng
kiều hối có hiệu quả, phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội không những có ý
nghĩa về thực tiễn mà còn mang giá trị lý luận cao. Trong bối cảnh như trên, việc
7
nghiên cứu chính sách kiều hối của ba quốc gia Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines
để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là rất cấp thiết. Vì vậy, nghiên cứu
sinh lựa chọn đề tài “Chính sách kiều hối của một số nước Châu Á và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án.
2. Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về chính sách kiều hối cũng như tổng quan lý luận
về kiều hối có thể kể đến những nghiên cứu sau:
Các tác động ngắn hạn có thể được xem xét một cách đơn giản nhất thông
qua khuôn khổ lý thuyết Keynes. Theo cách tiếp cận này, lượng kiều hối được bơm
vào nền kinh tế có thể đóng vai trò như một cú sốc tăng chi tiêu trong các mô hình
truyền thống. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế mở, khi ta có thể áp dụng mô
hình Mundel-Flemming dạng đơn giản với giá cả cố định và một hàng hóa hỗn hợp,
kết quả của cú sốc kiều hối có thể không đơn giản. Có thể thấy là tác động tổng hợp
của bất cứ cú sốc nào từ phía cầu (kể cả kiều hối) phụ thuộc vào mức độ linh hoạt
của dòng vốn quốc tế và chế độ tỷ giá hối đoái. Ví dụ, trong trường hợp dòng vốn
hoàn toàn tự do di chuyển đi liền với chế độ tỷ giá hối đoái hoàn toàn thả nổi, mức
tổng sản lượng cân bằng hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường tiền tệ và do đó thường
không bị ảnh hưởng bởi dòng kiều hối.
Dòng kiều hối cũng có thể dẫn tới thay đổi trong mức giá tương đối giữa các
loại hàng hóa khác nhau, và do đó là sự tái phân bổ các nguồn lực, đến lượt nó, sự
thay đổi này lại có thể tác động đến các nhóm xã hội khác nhau ở những mức độ
khác nhau. Do đó, tác động của kiều hối có thể trở nên phức tạp.
9
Xét trên góc độ dài hạn hơn, vai trò của kiều hối với phát triển dài hạn đã
tạo những cuộc tranh luận trong suốt vài thập kỷ qua. Điểm chính yếu ở đây là
người tiếp nhận nguồn kiều hối sử dụng khoản tiền nhận được cho tiêu dùng trực
tiếp hay là cho đầu tư sản xuất trong tương lai. Di cư lao động quốc tế và kiều hối
có tác dụng tháo gỡ những khó khăn về nguồn lực ở các nước nhận kiều hối, như
các hạn chế về tín dụng, tài chính, về con người và tinh thần doanh nghiệp. Kiều
hối có thể góp phần làm giảm bất bình đẳng trong thu nhập và thông qua đó đóng
góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Các nghiên cứu trên, nhìn chung đã cung cấp hệ thống cơ sở lý luận khá
chuẩn mực và toàn diện về vấn đề kiều hối và chính sách kiều hối phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các nước đang phát triển. Các nghiên cứu và các
bài viết cũng đã nghiên cứu rất nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề kiều hối:
bản chất kinh tế xã hội của kiều hối; khuynh hướng kiều hối; các yếu tố quyết
định lượng kiều hồi chảy vào một nền kinh tế; vai trò của kiều hối; tác động kinh
quả với hệ thống chuyển tiền chính thức mới chỉ bắt đầu phát triển mạnh gần
đây. Tuy nhiên, cả ba nghiên cứu trong năm 2005 trên đây mới chỉ dừng ở việc
phân tích các kênh, diễn biễn và tác động của nguồn kiều hối tới nền kinh tế một
cách định tính chứ chưa dùng các mô hình định lượng.
Trong một nghiên cứu định lượng năm 2006, Khaled Sakr đã sử dụng một
mô hình hồi quy đơn giản OLS để ước lượng những nhân tố chi phối lượng kiều
hối chảy về Việt Nam. Trong mô hình này, biến phụ thuộc chính là lượng kiều
hối chảy vào Việt Nam, biến độc lập bao gồm thu nhập bình quân đầu người của
11
Việt Nam, thu nhập bình quân đầu người của Mĩ (đại diện cho thu nhập của Việt
Kiều), lượng vốn FDI vào Việt Nam. Số liệu được sử dụng trong mô hình được
thu thập theo năm trong giai đoạn 1991-2005, số liệu năm 2005 là số liệu dự
tính. Kết quả hồi quy cho thấy kiều hối có khuynh hướng tăng lên khi điều kiện
kinh tế trong nước và môi trường đầu tư được cải thiện (thể hiện qua mức GDP
trên đầu người và lượng vốn FDI). Ngoài ra, sự cởi mở hơn về các điều kiện thể
chế từ nửa sau thập kỷ 1990 cũng là một nhân tố quan trọng trong việc thu hút
luồng kiều hối.
Nghiên cứu của Pfau và Long (2006) cung cấp nhiều thống kê mô tả hữu
ích về vấn đề kiều hối ở Việt Nam thông qua các bộ số liệu VHLSS (Viet Nam
household living standards surveys - điều tra về mức sống của hộ gia đình Việt
Nam). Nghiên cứu này cho thấy sự dịch chuyển trong phân phối của kiều hối
trong thời gian gần đây: từ thành thị dịch dần sang nông thôn, từ vùng đồng bằng
sông Hồng và Đông Nam bộ dịch dần sang vùng Bắc Trung bộ và đồng bằng
sông Cửu Long. Ngoài ra, hai tác giả còn tập trung vào tìm hiểu mục đích sử
dụng của các nguồn kiều hối này. Số liệu thống kê cho thấy, 73% lượng kiều hối
được phân bổ cho tiêu dùng trực tiếp, trong khi 14% được dùng cho xây (và sửa)
nhà, và chỉ có 6% là được dùng cho đầu tư nói chung, tức là kể cả đầu tư cho
giáo dục và đầu tư vào sản xuất nông nghiệp.
Dưới góc độ tác động của kiều hối tới phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế
hộ gia đình, Nguyễn Thị Thùy Linh (2006) thực hiện một nghiên cứu định lượng
nhau. Trong khi hộ gia đình có khuynh hướng thu lợi ích từ việc tăng thêm thu
nhập thì ảnh hưởng của kiều hối lên khu vực sản xuất lại không rõ ràng.
13
Các nghiên cứu khác chủ yếu nghiên cứu kiều hối dưới giác độ là một
khoản mục trong cán cân thanh toán quốc tế, do đó ảnh hưởng tới tình trạng cán
cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, và phần nào ảnh hưởng đến tình trạng đô la
hóa, lạm phát trong những điều kiện cụ thể. Hoặc kiều hối như một yếu tố trong
tiến trình tự do hóa tài chính
Các kết quả đan xen giữa lý luận và thực tiễn về kiều hối, có nhiều mối
quan tâm và nhiều quan điểm khác nhau, có thể tạm thời chia làm 3 nhóm quan
điểm như sau:
Nhóm thứ nhất, bao gồm các tác giả lạc quan về vai trò của kiều hối. Ví
dụ, Adam và Page (2003) phát hiện ra rằng cả quy mô di cư quốc tế (được đo
bằng tỷ trọng dân số sống ở nước ngoài) và quy mô kiều hối gửi về (được đo
bằng tỷ lệ của lượng kiều hối trên GDP) đều có tác động đáng kể trong việc xóa
đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển. Ratha (2003) thừa nhận kiều hối là
nguồn tài chính tăng trưởng nhanh, quy mô lớn và ổn định (ít bị phụ thuộc vào
chu kỳ kinh tế). Nhờ những đặc điểm đó, tác giả đặt nhiều kỳ vọng vào kiều hối
với tư cách là nguồn tài chính hữu hiệu cho phát triển. Ngân hàng thế giới
(World Bank 2003, 2004, 2006) công khai ủng hộ quan điểm này. Giuliano và
Ruiz-Arranz (2005) lập luận rằng kiều hối có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
nhờ đóng vai trò như một nguồn thay thế cho nguồn tín dụng trên thị trường nội
địa. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của họ cho thấy ảnh hưởng tăng trưởng của
kiều hối phát huy tác dụng rõ nhất ở các nền kinh tế có thị trường tài chính còn
kém phát triển. Bugamelli và Paternof (2005) cho rằng dòng kiều hối có thể giúp
làm ổn định cán cân vãng lai của các nền kinh tế mới nổi, và nhờ thế giúp giảm
khả năng tháo lui tư bản ồ ạt ở các nước này. Leon-Ledesma và Piracha (2004)
phát triển một mô hình để nghiên cứu hiệu ứng tích cực của kiều hối trên thị
14
trường lao động (tạo công ăn việc làm), và khảo sát thực trạng sử dụng kiều hối
Chamietal (2006) cũng chỉ ra rằng các tác động của chúng là rất phức tạp. Nhóm
tác giả sử dụng mô hình cân bằng tổng quát ngẫu nhiên để khảo sát tác động của
dòng kiều hối đi ngược chu kỳ trong việc hình thành chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ, rồi sau đó xem xét các hiệu ứng tác động đến các biến thực và
danh nghĩa trong môi trường nền kinh tế đang diễn biến theo chu kỳ. Nghiên cứu
này cho thấy kiều hối làm tăng thu nhập khả dụng và tiêu dùng, và có tác dụng
chống lại các cú sốc thu nhập, do đó làm tăng phúc lợi hộ gia đình. Tuy nhiên,
kiều hối lại làm thay đổi mối tương quan giữa sản lượng và lao động. Ví dụ,
trong thời kỳ suy thoái, sản lượng có khuynh hướng giảm và tiền công có
khuynh hướng giảm. Trong điều kiện không có kiều hối, cung lao động sẽ tăng
để bù đắp thu nhập có chiều hướng giảm, góp phần giảm bớt tốc độ giảm của sản
lượng. Tuy nhiên do kiều hối đóng vai trò như một phần “bảo hiểm” chống lại cú
sốc về sự giảm thu nhập nên thực tế cung lao động tăng lên nhiều, do đó chu kỳ
kinh tế có thể diễn ra nghiêm trọng hơn và làm tăng rủi ro cả về sản lượng lẫn
việc làm. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả cho rằng chính sách tiền tệ tối ưu trong bối
cảnh có kiều hối sẽ chệch khỏi nguyên tắc của Friedman (tăng cung tiền ở mức
độ vừa phải), và do đó nhấn mạnh sự cần thiết cần phải có thêm các chính sách
bổ trợ khác.
Nhóm thứ ba, theo quan điểm thận trọng, tùy tình huống. Bao gồm
những người thận trọng với tác động hai chiều, hỗn hợp của kiều hối. Ví dụ,
Glytsos (2002) khảo sát tác động của kiều hối đến cán cân thanh toán, cán cân
tiết kiệm-đầu tư, tác giả phát triển một mô hình kiểu Keynes để nghiên cứu các
16
hiệu ứng vĩ mô của kiều hối. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của kiều hối mang tính
hỗn hợp tức có tác động hai chiều và phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng
nước. Kapur (2003) thảo luận về những ảnh hưởng có thể của kiều hối trên cả
hai mặt tích cực và tiêu cực ở những nấc thang khác nhau (hộ gia đình, quốc gia
và cộng đồng). Drinkwateretal (2003) đánh giá các tác động của kiều hối lên thị
trường lao động bằng cách liên kết hai hiệu ứng ngược chiều nhau: thứ nhất là
hiệu ứng kiểu “căn bệnh Hà Lan”, hay giả thuyết cho rằng kiều hối đóng vai trò
rõ tác động của kiều hối đến đời sống kinh tế của những gia đình trực tiếp nhận kiều
hối, cũng như các tác động thứ cấp lên đời sống cộng đồng; đến các dịch vụ tài
chính ngân hàng và hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ. Ở cấp độ vĩ mô, đề tài sẽ
tập trung vào phân tích: (i) tác động của kiều hối đến hệ thống tài chính-ngân hàng,
cung cầu tiền, dự trữ ngoại hối quốc gia, tỷ giá hối đoái, (ii) tác động của kiều hối
đến nhập khẩu; (iii) tác động đến tình hình đô la hóa nền kinh tế; (iv) tác động của
kiều hối đến lạm phát trong nước; (v) tác động của kiều hối đến thị trường chứng
khoán; (vi) tác động của kiều hối đến đến đầu tư và khuynh hướng tiêu dùng trong
nước; (vii) tác động của kiểu hối đến đến thị trường nhà đất; (viii) tác động /mối
quan hệ của kiều hối đến đến đến dịch chuyển lao động (xuất khẩu lao động); (ix)
tác động của kiều hối đến xóa đói giảm nghèo/phân hóa giầu-nghèo;
- Trên cơ sở tổng quan lý luận về kiều hối, luận án phân tích chính sách kiều
hối của một số nước Châu Á, trong đó giới hạn phạm vi nghiên cứu đến ba quốc gia
tiêu biểu nhất là Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines.
18
- Từ sự phân tích chính sách kiều hối của ba quốc gia trên, luận án đưa ra
sự so sánh về chính sách thu hút kiều hối của ba quốc gia để từ đó rút ra những
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn kiều hối cho phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
- Để minh chứng cho những luận điểm của luận án, phạm vi nghiên cứu
của luận án chọn mẫu điển hình ba quốc gia Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines
với thực trạng và tác động của kiều hối trong khoảng thời gian từ năm 1995 trở
lại đây.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Sử dụng những phương pháp chủ yếu trong khoa học xã hội gồm phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp
so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp.
- Trên cơ sở thực tiễn về chính sách kiều hối của Ấn độ, Trung Quốc và
Philippines để phân tích những tác động của nó đến phát triển kinh tế xã hội.
- Bên cạnh đó, luận án sẽ sử dụng các công cụ thống kê, biểu đồ, mô hình
thu nhập của người lao động, dân di cư ở nước ngoài, được thể hiện
trong cán cân thanh toán quốc tế là các khoản chuyển tiền (ròng)”. Mặc
dù việc chuyển tiền (remittances) có thể mang tính quốc tế hoặc nội địa (giữa
các vùng khác nhau của cùng một nước) nhưng trong luận án chỉ đề cập đến
việc chuyển tiền quốc tế (international remittances). Theo Puri & Ritzema
(1999), kiều hối (international remittances) có thể được định nghĩa là “phần
thu nhập của người lao động ở nước ngoài gửi về nước”.
Lãnh sự quán Việt Nam tại Hoa Kỳ đã đánh giá về kiều hối là “một
nguồn lực quý giá theo nhiều nghĩa, là một kênh mang lại nguồn ngoại tệ
mạnh cho đất nước mà không một kênh nào có thể sánh nổi về hiệu quả”.
Kiều hối đang ngày càng trở nên quan trọng đối với các nước đang phát triển
do đó nó là nguồn tài chính ổn định và ít biến động ngay cả trong giai đoạn
khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Và tại Việt Nam, kiều hối không chỉ là nguồn
thu nhập của thân nhân những người đang lao động ở nước ngoài mà nó còn
là nguồn động viên thiết thực đối với sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam.
21
Theo quyết định 170/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày
19/08/1999 đã giải thích định nghĩa về kiều hối: “Kiều hối là các ngoại tệ tự
do chuyển đổi được chuyển vào Việt Nam theo các hình thức sau:
- Chuyển ngoại tệ thông qua các tổ chức tín dụng được phép;
- Chuyển ngoại tệ thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài
chính bưu chính quốc tế;
- Cá nhân mang ngoại tệ theo người vào Việt Nam. Cá nhân ở nước
ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam có mang theo ngoại tệ hộ cho người
Việt Nam ở nước ngoài phải kê khai với Hải quan cửa khẩu số ngoại tệ
mang hộ từ nước ngoài gửi về cho người thụ hưởng ở trong nước.”
Như vậy, quan điểm về định nghĩa kiều hối của Việt Nam thống nhất
với định nghĩa của Ngân hàng thế giới và luận án dựa vào quan điểm thống
nhất này làm cơ sở lý luận cho phân tích.
1.1.2 Sơ lược về dòng chu chuyển kiều hối toàn cầu
ngoài. Từ hình 1.1 sau đây, chúng ta nhận thấy rằng nguồn thu từ kiều hối
khá ổn định và có xu hướng tăng từ năm 1991 đến năm 2008.
23
Hình 1.1 : So sánh nguồn thu ngoại tệ từ kiếu hối và các nguồn khác của các
nước đang phát triển
Nguồn: World Bank (2011)
Điều này có thể được giải thích trong những năm gần đây việc gửi tiền
trở nên đơn giản hơn nhờ sự phát triển của các dịch vụ tài chính quốc tế và
việc đi lại giữa các quốc gia cũng dễ dàng hơn.
Tuy nhiên đến năm 2008 - 2009 dòng tiền này bị giảm do cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra đã tác động lớn đến thu nhập của kiều bào, số
lượng người thất nghiệp tại Mỹ cũng như các nước phát triển khác tăng lên
đáng kể. Nếu từ năm 2008, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn ODA
và các khoản vay nợ giảm mạnh thì lượng tiền từ kiều hối chỉ giảm nhẹ và có
chiều hướng đi lên ngay sau năm 2009 trong khi các nguồn vốn khác vẫn có
xu hướng giảm. Mặt khác, các số trong hình vẽ cũng khẳng định vị trí thứ 2
của nguồn kiều hối so với các nguồn thu ngoại tệ khác. Để hiểu rõ hơn vai
24
trò của kiều hối cũng như dòng chu chuyển kiều hối của các quốc gia, hãy
xem xét bảng số liệu sau đây:
Bảng 1.1: Thu hút kiều hối của các châu lục (Đơn vị: tỷ USD)
Châu lục 199
5
2000 200
4
2005 2006 2007 200
8
2009 2010
Châu Á-
Thái Bình