BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM
Lâm Thanh Sơn
ĐỀ TÀI
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KCN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM
---------------
Lâm Thanh Sơn
ĐỀ TÀI
GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KCN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Hồ Đức Hùng
2.3.1. Hệ thống giao thông....................................................................................42
2.3.2. Cơ sở hạ tầng trong các KCN .....................................................................44
2.3.3 Lao động ......................................................................................................45
2.3.4 Giá cả và chi phí ..........................................................................................47
2.3.5. Thủ tục hành chính .....................................................................................48
2.3.6 Về kênh thông tin tìm hiểu về môi trường đầu tư vào các KCN Bắc Ninh.51
2.3.7 Về vai trò của công tác marketing các KCN Bắc Ninh ...............................52
2.4. Kết luận chung ...................................................................................................52
Lâm Thanh Sơn
Chương 3: GIẢI PHÁP THU HÚT FDI VÀO CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2009-2015 VÀ TẦM NHÌN 2020 ..................................54
4.1 Xác định mục tiêu phát triển các KCN Bắc Ninh đến 2015 và tầm nhìn 2020 ..55
4.2. Các giải pháp giải pháp marketing các KCN Bắc Ninh.....................................56
4.2.1. Giải pháp về quy hoạch đô thị và cơ sở hạ tầng .........................................56
4.2.2 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực ..........................................................59
4.2.3 Giải pháp về ngành CN phụ trợ và các ngành liên quan .............................61
4.2.4 Giải pháp về cải cách bộ máy và thủ tục hành chính...................................62
4.2.5. Tạo sự khác biệt ..........................................................................................66
4.2.6 Thiết kế và tuyên truyền hình ảnh ấn tượng ................................................68
4.2.7 Tổ chức thực hiện và giám sát kiểm tra.......................................................70
4.3. Dự báo kết quả đạt được ....................................................................................71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................72
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Lâm Thanh Sơn
trong quá trình đầu tư, sản xuất, kinh doanh.............................................................51
Lâm Thanh Sơn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Viết đầy đủ
CN
Công nghiệp
CNH
CN hóa
DN
Doanh nghiệp
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCNĐT
Giấy chứng nhận đầu tư
Xây dựng cơ bản
Lâm Thanh Sơn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Khái quát chung
Trong thời kỳ đổi mới, mở cửa, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
được coi là một trong những biện pháp khai thác ngoại lực nhằm thúc đẩy nội lực để phát
triển kinh tế-xã hội. FDI là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế đối ngoại
của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động thu hút vốn
FDI là nhiệm vụ có tính lâu dài, gắn liền với công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra trong bối
cảnh tình hình trong nước và quốc tế có những yếu tố thuận lợi mới tác động tích cực
đến việc thu hút và triển khai dự án nguồn vốn FDI, đồng thời cũng đã xuất hiện một số
khó khăn, thách thức cần được tháo gỡ nhằm tạo đà tăng trưởng trong các năm tới.
Tỉnh Bắc Ninh có diện tích hơn 800km2, dân số gần 1 triệu người nằm ở cửa
ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội trong tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh, có các đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền
tỉnh với các trung tâm kinh tế, thương mại và văn hoá của miền Bắc. Quốc lộ 1A
nối Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn, đường cao tốc Quốc lộ 18 nối sân bay Quốc tế
Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long, Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng;
trục đường sắt xuyên Việt đi Lạng Sơn và Trung Quốc; mạng lưới đường thuỷ sông
Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình chảy ra biển Đông. Bắc Ninh cách Hà Nội, cách
sân bay quốc tế Nội Bài khoảng 30-35 phút đi bằng ô tô. Đây là những điều kiện
thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội và giao lưu với bên ngoài.
Bắc Ninh là một nơi giầu truyền thống văn hóa, phong tục lâu đời, là vùng đất
địa linh nhân kiệt, quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế với những địa
danh luy lâu, cổ pháp. Đình Bảng - Từ Sơn là nơi phát tích vương triều Lý rạng rỡ
Do đó, việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của các KCN thông qua hình
ảnh và các sản phẩm về môi trường thu hút đầu tư đặc trưng là hết sức cần thiết
trong quá trình hoạch định chiến lược thu hút thành công những nhà đầu tư mục tiêu
phù hợp với điều kiện đặc thù của Bắc Ninh; Đồng thời tăng nhanh thu ngân sách,
tạo việc làm cho người dân địa phương nhưng vẫn đảm bảo bảo vệ môi trường, phát
triển bền vững . Điều này đã trở nên hết sức cần thiết và bức bách đối với quá trình
phát triển kinh tế xã hội của Bắc Ninh, cũng như góp phần nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho người dân Bắc Ninh.
Kể từ khi tái lập tỉnh Bắc Ninh (01/01/1997), hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) của Bắc Ninh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào
việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài những năm qua còn bộc lộ những mặt hạn chế. Đó là: Nhận
thức và quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa được quán triệt đầy đủ ở các cấp,
các ngành; cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài có mặt còn bất hợp lý; hiệu quả tổng thể về
kinh tế - xã hội của hoạt động FDI còn chưa cao; môi trường đầu tư chưa thực sự hấp
dẫn; công tác cán bộ, công tác quản lý nhà nước về FDI còn những bất cập; thủ tục hành
chính chưa thực sự thông thoáng.
Là người đang công tác trong lĩnh vực quản lý nhà nước về các KCN trên địa
[1] Kotler.P, M.A. Hamlin, I. Rein, & D.H. Haider, (1993) “Marketing Asian Places, Attracting investment,
industry, and tourism to cities, states, and nations”, Singapore: John Wiley & Son (Asia)
Lâm Thanh Sơn
bàn tỉnh Bắc Ninh, mong muốn được chia sẻ với những trăn trở của các cấp lãnh
đạo địa phương; Đồng thời, tác giả cũng mong muốn góp một phần nhỏ bé của
mình vào việc thực hiện các mục tiêu nêu trên bằng đề tài “Giải pháp thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN Bắc Ninh” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là tìm ra một số giải pháp thu hút vốn đầu tư trực
Đề tài sử dựng cả nghiên cứu tại bàn (desktop research) và nghiên cứu điều tra
Lâm Thanh Sơn
(survey) trên cả hai mặt định tính và định lượng. Nghiên cứu tại bàn chủ yếu đi
phân tích và đánh giá tổng kết kinh nghiệm xây dựng và phát triển các KCN một số
địa phương ở Việt Nam và một số nơi trên thế giới.
Nghiên cứu khảo sát bao gồm việc phỏng vấn theo phiếu điều tra đối với cả
hai phía là doanh nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp đầu tư (cơ sở hạ tầng KCN)
và các nhà làm quản lý để đánh giá các yếu tố trên khía cạnh định lượng.
5.1. Điều tra và thu thập dữ liệu
Đề tài sử dụng cả hai nguồn dữ liệu là thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao
gồm các báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đánh giá trước đó ở trong và ngoài
nước…. Dữ liệu thứ cấp dùng cho mục đính nghiên cứu định tính nhằm xác định:
Các yếu tố cấu thành nên một KCN thành công bằng việc phân tích kinh nghiệm
xây dựng và phát triển các KCN ở một số địa phương trong nước và nước ngoài;
các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của các KCN Bắc Ninh.
Dữ liệu sơ cấp thu thập bằng hai cách là tham vấn chuyên gia và lấy mẫu điều
tra bằng bảng hỏi. Dữ liệu sơ cấp dùng cho phân tích định lượng nhằm xác định tầm
quan trọng của các yếu tố theo quan điểm của nhà đầu tư nước ngoài, của chủ đầu
tư xây dựng và phát triển hạ tầng các KCN và các nhà lãnh đạo trong lĩnh vực quản
lý hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh (các sở ban ngành). So sánh tìm ra những
khoảng cách chênh lệch trong quan điểm đánh giá giữa Nhà đầu tư, doanh nghiệp
(bên cầu) và lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo Ban quản lý các KCN, Sở Kế hoạch đầu tư và
chủ đầu tư hạ tầng KCN (bên cung) nhằm đề xuất những giải pháp hoàn thiện các
KCN, thích ứng cap nhất nhu cầu của nhà đầu tư và doanh nghiệp. Qua đó xác định
những kênh, phương tiện quảng bá phù hợp cho thương hiệu các KCN Bắc Ninh.
Bảng hỏi sử dụng cho điều tra được thiết kế cho hai nhóm đối tượng riêng
chứng chỉ quy hoạch; Đăng ký cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài; Các
thủ tục liên quan đến đất đai; Các thủ tục liên quan đến thuế; Thủ tục hải quan;
Nhóm chỉ tiêu về kênh thông tin: Người được hỏi yêu cầu đánh giá về kênh
thông tin quảng bá các KCN Bắc Ninh, gồm 4 yếu tố gợi ý và một yếu tố mở: Internet
và điện thoại; qua bạn bè giới thiệu; Gặp gỡ trực tiếp thông qua các hiệp hội; Thông
qua các công ty tư vấn đầu tư; và các kênh thông tin khác.
Nhóm chỉ tiêu về mức độ cần thiết đối với hoạt động marketing các KCN
Bắc Ninh.
Quá trình điều tra, khảo sát như sau:
Mẫu 1: dùng cho đối tượng doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đầu
tư vào các KCN Bắc Ninh, các nhà đầu tư đã đến khảo sát điều tra, khảo sát tìm
hiểu môi trường đầu tư tại các KCN Bắc Ninh. Với mẫu này, tổng số phiếu phát ra
Lâm Thanh Sơn
40 phiếu (5 phiếu gửi bằng đường bưu điện, 3 phiếu phỏng vấn trực tiếp và 32
phiếu gửi qua email). Tổng số phiếu trả lời là 35 phiếu trong đó có 33 phiếu hợp lệ
và đầy đủ thông tin được sử dụng cho phân tích.
Mẫu 2: Dùng cho đối tượng là các nhà lãnh đạo, chuyên viên các sở: Kế
Hoạch đầu tư, Sở Công thương, Cục Thuế, Hải Quan, Ban quản lý các KCN Bắc
Ninh và các công ty đầu tư phát triển hạ tầng các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh:
Chủ đầu tư KCN VSIP, KCN Quế Võ 1, Quế Võ 2, Yên Phong 1, Yên Phong 2,
KCN Nam Sơn Hạp Lĩnh IGS Hàn Quốc, Thuận Thành 1. Với mẫu này, tổng số
phiếu phát ra: 40 phiếu (phỏng vấn trực tiếp 12 phiếu, gửi qua đường email 28
phiếu). Tổng số phiếu trả lời là 31 phiếu, trong đó có 29 phiếu thích hợp được sử
dụng cho phân tích. Quá trình phân tích số liệu được sự hỗ trợ bằng các phần mềm
thông dụng là Microsoft Excel.
5.2. Phương pháp phân tích
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có nhiều ý kiến
cho rằng, đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) là việc các
công ty đa quốc gia tiến hành đầu tư ở nước sở tại thông qua việc thiết lập liên doanh với
các công ty của nước sở tại, mua các công ty của nước sở tại, và có thể thông qua việc
thiết lập chi nhánh của mình tại nước sở tại.
Tại Việt Nam, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài hiểu theo quy định của Luật
Đầu tư như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào
Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy
định của Luật Đầu tư tại Việt Nam”.
Như vậy, có thể hiểu khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: đầu tư trực
tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc
nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham
gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh
nghiệm quản lý… nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Với cách hiểu khái niệm FDI như trên ta có thể thấy các hoạt động FDI có những
đặc điểm sau:
Thứ nhất, về vốn góp: Các chủ đầu tư góp một lượng vốn tối thiểu tuỳ theo quy
định của mỗi nước nhận đầu tư để họ có quyền trực tiếp tham gia điều phối, quản lý quá
trình sản xuất kinh doanh. Ở Việt Nam, Luật Đầu tư cũng đã đưa ra điều kiện “phần vốn
Lâm Thanh Sơn
góp của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp
liên doanh không bị hạn chế về mức cao nhất theo sự thoả thuận của các bên, nhưng
không dưới 30% vốn pháp định, trừ những trường hợp do Chính phủ quy định”.
Thứ hai, về quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ
thuộc vào mức vốn góp. Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyền điều
hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý.
Thứ ba, về phần chia lợi nhuận: dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ, phân
liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi
phần vốn góp của mình vào vốn pháp định.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở
hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài
và do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý điều hành và hoàn toàn chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp này được thành lập dưới dạng các
công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu
tư và Luật Doanh nghiệp Việt Nam.
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là
hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai
hay nhiều bên (gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động
kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh
doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần thành lập pháp nhân mới. Hình thức này
không làm hình thành một công ty hay một xí nghiệp mới. Một bên vẫn hoạt động với tư
cách pháp nhân độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trước nhà nước.
Ngoài ba hình thức cơ bản trên, theo nhu cầu đầu tư về hạ tầng, các công trình
xây dựng còn có hình thức:
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT): là một phương thức đầu
tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài
(có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây
dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn
nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước chủ nhà.
Hình thức BOT thường được thực hiện bằng 100% vốn nước ngoài, cũng có thể được
thực hiện bằng vốn nước ngoài và phần vốn góp của chính phủ hoặc các tổ chức, cá nhân
của nước chủ nhà. Nhà đầu tư nước ngoài có toàn quyền tổ chức xây dựng, kinh doanh
công trình trong một thời gian đủ thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, sau đó có
Lâm Thanh Sơn
23
2
16
15
44
100
1985
17
5
30
8
40
100
1990
11
8
47
3
31
100
1994
5
10
56
4
26
100
Các nước
Tổng cộng
Nam Á
Latinh
khác
1. Tiến bộ công nghệ
135
154
141
430
2. Sản phẩm công nghệ
150
158
152
460
6. Công nghệ Marketing
63
57
65
185
Tổng cộng
680
660
686
2.026
Nguồn: Small and medium-Size Transational Corporations, UN 1993
Các nền kinh tế Châu Á, nhất là khu vực Đông Nam Á được coi là phát triển
năng động, đồng thời cũng là khu vực thu hút nhiều vốn FDI nhất trong thời gian gần
đây do có nhiều điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư như giá nhân công rẻ, tài nguyên
thiên nhiên phong phú, môi trường đầu tư hấp dẫn.
Năm 1997, dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển Châu Á đã đạt 86 tỷ
USD, tăng 1% so với năm 1996, chiếm khoảng trên 50% tổng FDI của các nước đang
phát triển và xếp vị trí thứ hai trong số các nước nhận FDI nhiều nhất trên thế giới. Từ
năm 1992, Trung Quốc nổi lên là một trong số các nước thu hút FDI lớn nhất và đã làm
Với bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển đều cần vốn đầu tư, không có đầu tư
không thể phát triển và tăng trưởng kinh tế. Để có nguồn vốn đầu tư, các quốc gia
đều dựa vào hai nguồn: vốn tích luỹ trong nước và vốn nước ngoài. Thu hút FDI là
dùng vốn nước ngoài đầu tư vào sản xuất kinh doanh của nước chủ nhà, bởi vậy nó
có ý nghĩa tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ dừng ở đồng vốn trực
tiếp được đưa vào, mà nguồn vốn FDI này còn khơi dậy, sử dụng các nguồn lực
trong nước cùng vận hành như đất đai, tài nguyên, vốn của các doanh nghiệp trong
nước trực tiếp tham gia đầu tư. FDI kéo theo hoạt động các doanh nghiệp trong
nước như xây dựng, vận tải, cung ứng, dịch vụ.
Cán cân thanh toán có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của nước
đang phát triển, là một chỉ tiêu mà các nhà hoạch định chính sách luôn theo dõi chặt
Lâm Thanh Sơn
chẽ. Đối với những nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá thì việc thâm hụt cán cân thanh toán là không đáng báo động, bởi vì những nước
này đang có thay đổi lớn về cấu trúc của ngành công nghiệp thông qua nhập khẩu
những thiết bị, dây chuyền công nghệ, nên dẫn đến nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu.
Hoạt động đầu tư nước ngoài với tính chất là nguồn vốn đầu tư ổn định đã
góp phần quan trọng duy trì, cải thiện cán cân thanh toán thông qua hoạt động xuất
khẩu và thay thế nhập khẩu. Xuất khẩu được đẩy mạnh sẽ mang lại nguồn thu ngoại
tệ cho nước tiếp nhận đầu tư, đồng thời các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào sản
xuất những mặt hàng mà nước tiếp nhận đầu tư trước đây chưa có khả năng sản xuất
đã giúp cho nước này không phải nhập khẩu những hàng hóa đó, giảm lượng ngoại
tệ phải thanh toán và dẫn đến cải thiện cán cân thanh toán.
Thứ hai, FDI góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và đào tạo nguồn nhân
lực.
FDI có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý, trình độ
công nghệ, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động. Nhờ FDI, có thể tiếp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần phát triển kinh tế đối ngoại, mở rộng
thị trường xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Với các nước đang phát triển, việc thâm nhập và chiến lĩnh thị trường quốc
tế là một trong những việc cần thiết nhưng vô cùng khó khăn, do chưa có kinh
nghiệm trên thương trường quốc tế, sản phẩm chất lượng chưa tốt, bạn hàng ít. Bởi
vậy, để mở rộng thị trường, có thể thông qua nhà đầu tư nước ngoài để tiêu thụ sản
phẩm. Các nhà đầu tư tiến hành đầu tư ở các nước khác để tận dụng những lợi thế
so sánh về nguyên liệu, lao động để hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên
thị trường. Việc hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài có thể tận dụng những kinh
nghiệm, uy tín của chính công ty đó để bán sản phẩm, thâm nhập thị trường là một
yêu cầu quan trọng và tất yếu đối với nước mới mở cửa và hội nhập.
Quan hệ đầu tư quốc tế xuất hiện từ thế kỷ XVIII, thời kỳ này được coi là
quá trình hội nhập nông (sallow-integration) trong lĩnh vực đầu tư. Các nước quan
hệ đầu tư với nhau trên cơ sở tự nguyện, có lợi ích và chưa đặt ra cho nhau các
nghĩa vụ phải thực hiện. Hiện nay, quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế trong
phạm vi giữa các quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới biểu hiện tự do hoá trong
bốn lĩnh vực: Thương mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, đầu tư và thương mại dịch vụ.
Như vậy, đầu tư cũng là một trong bốn lĩnh vực được các quốc gia xem xét
tự do hoá. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết
Lâm Thanh Sơn
giữa các quốc gia thực hiện đầu tư và tiếp nhận đầu tư, làm cho quá trình phân công
lao động quốc tế diễn ra theo chiều sâu. Những cam kết về tự do hoá đầu tư nước
ngoài được coi như là những quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế của từng quốc
gia. Ngày nay, cùng với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới diễn ra theo
chiều sâu và rộng, các nước đã có nhiều hình thức thực hiện các cam kết nhằm tự do
hoá lĩnh vực đầu tư gắn với tự do hoá thương mại.
Từ các phân tích trên cho thấy, hoạt động FDI, với tư cách là một bộ phận
việc thay đổi cơ cấu ngành kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thay đổi cơ cấu ngành kinh tế các nước tiếp
nhận đầu tư, cụ thể như sau:
- Chuyển đổi từ ngành sản xuất nông nghiệp truyền thống sang sản xuất công
nghiệp và sau là sang ngành dịch vụ.
- Thay đổi cơ cấu bên trong một ngành sản xuất ngành công nghiệp chuyển
từ năng suất thấp, công nghệ lạc hậu nhiều lao động sang sản xuất có năng suất cao,
công nghệ hiện đại, sử dụng ít lao động.
- Thay đổi cơ cấu bên trong của mỗi lĩnh vực sản xuất thông qua quá trình
chuyển từ việc áp dụng công nghệ lạc hậu, giá trị hàng hoá và dịch vụ có hàm lượng
công nghệ thấp sang ngành sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến, giá trị hàng hoá có
hàm lượng khoa học công nghệ cao.
1.3.2. Tác động tiêu cực của FDI
Bên cạnh những mặt tích cực, FDI có thể gây ra những bất lợi cho nước tiếp
nhận, cần phải lưu ý.
Một là, việc sử dụng nhiều vốn đầu tư nước ngoài nói chung và FDI nói riêng có
thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động và sử dụng tối đa vốn trong nước, gây ra sự
mất cân đối trong cơ cấu đầu tư (giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài); có thể gây nên
sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn nước ngoài, vào nhà đầu tư nước ngoài (kể cả bí
quyết kỹ thuật, công nghệ, đầu mối cung cấp vật tư, nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm). Do
đó, nếu tỷ trọng FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thì tính độc lập tự
chủ bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển có tính lệ thuộc bên ngoài, thiếu vững chắc, nhất
là khi dòng vốn FDI có sự biến động, giảm sút lớn.
Hai là, các nhà đầu tư nước ngoài thường sử dụng lợi thế của mình đối với doanh
nghiệp nước tiếp nhận trong trường hợp liên doanh để thực hiện biện pháp “chuyển giá”
thông qua cung ứng nguyên vật liệu, chi tiết, linh kiện, sản phẩm dở dang với giá cao, thu
Lâm Thanh Sơn
Lâm Thanh Sơn
chuyển dịch giữa các nước tư bản phát triển, ngoài các yếu tố quan trọng khác như
những yếu tố về thị trường, sự ổn định về thể chế chính trị - xã hội cũng là một nhân
tố có sức hấp dẫn cao.
Thứ hai, sự ổn định và tính minh bạch của hệ thống chính sách kinh tế, chính
sách quản lý và các chính sách có liên quan. Một hệ thống chính sách ổn định, rõ
ràng sẽ giúp cho nhà đầu tư hoạch định chiến lược đầu tư và kinh doanh dài hạn
trên cơ sở luận cứ khoa học. Nếu hệ thống chính sách thường xuyên bị điều chỉnh,
không ổn định chắc chắn sẽ gây sự lo ngại cho nhà đầu tư, do họ không thể dự báo
được tương lai, do đó không hoạch định được kế hoạch, bước đi cụ thể cả ngắn hạn
cũng như dài hạn. Trong các hệ thống chính sách cần được ổn định lâu dài và minh
bạch thì những chính sách tài chính, thuế khoá, chính sách thương mại quốc tế và
những chính sách trực tiếp tác động đến khả năng thu lợi nhuận của nhà đầu tư giữ
vai trò quan trọng và quyết định đối với việc thu hút vốn FDI.
Thứ ba, Về vị trí địa lý, tính phong phú, đa dạng của các nguồn lực tự nhiên
và các lợi thế của quốc gia muốn thu hút FDI, đặc biệt là đối với các nước đang phát
triển. Chính những quốc gia đang phát triển có nhiều tài nguyên, hoặc có lợi thế về
địa lý, dân số là những quốc gia thu hút được mạnh nhất dòng vốn FDI. Bản chất
tìm kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài là khai thác được các yếu tố đầu vào
với giá rẻ.
Thứ tư, nguồn nhân lực dồi dào. Nguồn nhân lực ở đây không chỉ đơn thuần
hiểu về số lượng, mà các nhà đầu tư quan tâm đặc biệt tới nguồn nhân lực có trình
độ tay nghề cao, có ý thức kỷ luật lao động tốt, đặc biệt đối với những ngành kinh tế
có hàm lượng tri thức cao. Không phải ngẫu nhiên dòng vốn FDI dịch chuyển chủ
yếu giữa 3 trung tâm kinh tế phát triển nhất là Tây Âu, Nhật Bản, Bắc Mỹ (chiếm
70%). Chỉ một số ngành công nghiệp hoặc chỉ một số công đoạn cần nhiều nhân
công lao động phổ thông là đặc biệt quan tâm đến các nước đang phát triển có
nguồn lao động phổ thông rẻ và dồi dào.
Thành phố Hồ Chí Minh do có những lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng và
môi trường kinh doanh cùng với sự quan tâm của lãnh đạo thành phố trong việc tạo
điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài nên đã sớm thu hút được nguồn
đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI so với các địa phương khác trong phạm vi cả nước.
Từ 1988 – 1994, ngay sau khi Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành và
có hiệu lực, thành phố đã bắt đầu thu hút nguồn vốn FDI nhưng số dự án còn ít và
hiệu quả hoạt động chưa cao. Năm 1995, thành phố thu hút được 155 dự án với tổng
vốn đầu tư là 2.498 triệu USD (mức thu hút cao nhất trong cả giai đoạn 1988-2006).