ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ NGỌC MƠ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
GÂY RA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ NGỌC MƠ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP
ĐỒNG DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
1.1. Khái niệm, bản chất, ý nghĩa và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng gây ra ................................................................................ 7
1.1.1. Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng gây ra ............................................................................................... 7
1.1.2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng
gây ra .............................................................................................................................. 14
1.2. Những nội dung pháp lý chủ yếu của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng gây ra ............................................................................................. 16
1.2.1. Điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng
gây ra .............................................................................................................................. 16
1.2.2. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng
gây ra .............................................................................................................................. 19
1.3. Kinh nghiệm của một số nước về quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà
cửa, công trình xây dựng gây ra ..................................................................................... 22
1.3.1. Pháp luật Nhật Bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trin
̀ h
xây dựng gây ra .............................................................................................................. 22
1.3.2. Pháp luật Cộng hòa Pháp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa , công
trình xây dựng gây ra ..................................................................................................... 24
Kết luận Chương 1 ......................................................................................................... 26
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà
cửa, công trình xây dựng gây ra ..................................................................................... 27
ii
2.1. Lược sử quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng gây ra qua các thời kỳ ................................................................... 27
2.1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thời Lê,
Nguyễn ........................................................................................................................... 27
2.4.2. Xác định thiệt hại về sức khỏe ............................................................................. 58
2.4.3. Xác định thiệt hại về tính mạng ........................................................................... 60
2.5. Các quy định pháp luật hiện hành về những trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra............................................... 61
2.5.1. Thiê ̣t ha ̣i xảy ra do lỗi của người bi ̣thiê ̣t ha ̣i ....................................................... 61
2.5.2. Thiê ̣t ha ̣i xảy ra do sự kiê ̣n bấ t khả kháng ........................................................... 62
2.6. Giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nhà cửa, công trình
xây dựng gây ra .............................................................................................................. 64
Kết luận Chương 2 ......................................................................................................... 74
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra............................................... 75
3.1. Phương hướng hoàn thiê ̣n quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về trách nhiê ̣m bồ i thường thiê ̣t ha ̣i
do nhà cửa, công triǹ h xây dựng gây ra ......................................................................... 75
3.2. Mô ̣t số kiế n nghi ̣nhằ m hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về trách nhiê ̣m bồ i thường thiê ̣t ha ̣i do
nhà cửa, công triǹ h xây dựng gây ra .............................................................................. 80
Kết luận Chương 3 ......................................................................................................... 87
KẾT LUẬN CHUNG ..................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIÊ ̣U THAM KHẢO ....................................................................... 89
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS:
Bộ luật dân sự
BTTH:
Bồi thường thiệt hại
Nhận thấy những quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà
cửa, công trình xây dựng gây ra vẫn còn nhiều hạn chế. Thực tiễn áp dụng các quy định
này vào một số trường hợp cụ thể còn nhiều vướng mắc; các cơ quan có thẩm quyền
gặp khó khăn khi giải quyế t các vu ̣ viê ̣c.
1
Hơn nữa, loại trách nhiệm này ngày càng trở nên phức tạp , vấ n đề xác đinh
̣ chủ
thể chiụ trách nhiê ̣m bồ i thường là ai , trong trường hơ ̣p nào , yếu tố lỗi của các bên chủ
thể xem xét ra sao,…đang là những câu hỏi cầ n phải đươ ̣c làm rõ . Yêu cầ u đă ̣t ra là
phải có s ự giải quyết kịp thời nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người bị thiệt hại. Đồng
thời, xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra.
Đảm bảo sự điều chỉnh của pháp luật nói chung, pháp luật về BTTH do nhà cửa, công
trình xây dựng gây ra nói riêng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Việt
Nam, phù hợp với xu thế hô ̣i nhâ ̣p bạn bè quố c tế .
Vì những lẽ trên , tác giả lựa chọn nghiên cứu “Trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra theo pháp luật Việt
Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ Luật học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
BTTH ngoài hợp đồng nói chung, trách nhiệm BTTH do nhà cửa , công trin
̀ h
xây dựng gây ra nói riêng là một trong những chế định dân sự quan trọng trong hệ
thống pháp luật dân sự. Đây là một vấn đề phức tạp và không còn mới mẻ hay xa lạ với
những nhà nghiên cứu, áp dụng pháp luật. Mặc dầu, thời gian qua được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu ở nhiều phương diện, mức độ khác nhau; Có những công trình
nghiên cứu, luận án tiến sỹ hay các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành Luật.
Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, chưa có nhiều đề tài hay công trình nghiên cứu
chuyên sâu về trách nhiệm BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra theo pháp
học Luật Hà Nội, năm 2009.
Luâ ̣n văn tha ̣c sỹ Luâ ̣t ho ̣c của ho ̣c viên Giang
Văn Thinh
̣ “Trách nhiệm bồi
thường thiê ̣t hại do nhà cửa , công trình xây dựng khác gây ra theo pháp luật dân sự
Viê ̣t Nam”, Khoa Luâ ̣t – Đa ̣i ho ̣c quố c gia Hà Nô ̣i, năm 2013. Khóa luận tốt nghiệp của
sinh viên Neang Sóc Thônh v ề “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa , công
trình xây dựng gây ra” , Khoa Luâ ̣t - trường Đại học Cần Thơ, năm 2013. Có thể thấy,
các bài viết này mới chỉ nghiên cứu tổng quan về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công
trình xây dựng gây ra theo quy đ ịnh của Bộ luật dân sự 2005.
3
Nhìn chung, những đề tài trên được các tác giả nghiên cứu ở góc độ khái quát về
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, do hành vi của con người hoặc do tài sản gây ra.
Đối với những nghiên cứu về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây
ra mới chỉ đang dừng lại ở một khía cạnh nào đó của chế định này theo quy định tại Bộ
luật dân sự năm 2005. Thiết nghĩ, việc nghiên cứu quy định về “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra the o pháp
luật Viê ̣t Nam” là cần thiết và tất yếu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành về trách nhiệm BTTH gây ra bởi nhà cửa và công trình xây dựng. Trên
cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị mang tính thực tiễn và hoàn thiện pháp luật. Bên cạnh
đó, tác giả thông qua những vấn đề lý luận cơ bản về BTTH nói chung cũng như BTTH
do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra để đánh giá và làm sáng tỏ thực trạng pháp luật
Việt Nam liên quan.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 03 Chương:
Chương 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công
trình xây dựng gây ra
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
5
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
6
Chƣơng 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công
trình xây dựng gây ra
1.1. Khái niệm, bản chất, ý nghĩa và đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt
hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
1.1.1. Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà
cửa, công trình xây dựng gây ra
Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thuộc chế định trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một trong những chế định quan trọng của BLDS nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại. Trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một chế định pháp lý tương đố i rô ̣ng và khá phức ta ̣p .
Trước khi đi sâu nghiên cứu nô ̣i dung chính về trá ch nhiê ̣m BTTH do nhà cửa , công
trình xây dựng gây ra thì viê ̣c tim
̀ hiể u khái niệm và một số đặc điểm cơ bản của trách
những sự cố bất thường như sóng thần, bão táp, mưa gió, lũ lụt,…Vì vậy, Điều 29,
Luật xây dựng năm 2013 đưa ra khái niệm “Nhà ở riêng lẻ là công trình xây dựng
trong khuôn viên đất ở thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân theo quy định
của pháp luật”. Cho nên, nhà ở là một tài sản có giá trị, được xây dựng trên đất, gắn
liền với đất và không di dời hay dịch chuyển được.
Đối với công trình xây dựng, Điều 10, Luật xây dựng năm 2013 quy định:
“Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người,
vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể
bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt
nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm: công trình dân
dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công
trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác” [28].
8
Ngoài ra, Điều 8, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về quản lý
chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Điều 5 Luật xây dựng năm 2014 quy định
về phân cấp và phân loại công trình được xác định theo công năng sử dụng của tài sản,
gồm [10], [28]:
(i) Công trình dân dụng: bao gồm nhà ở (nhà chung cư, nhà ở tập thể, nhà ở
riêng lẻ,…và công trình công cộng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cho
cộng đồng dân cư như: công trình giáo dục, công trình y tế, thể thao, công tình văn
hóa,…
(ii) Công trình công nghiệp: Là những công trình gắn liền với ngành công
nghiệp như công trình sản xuất vật liệu xây dựng, công trình luyện kim và cơ khí chế
tạo, công trình khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công trình dầu khí, công trình
năng lượng, công trình hóa chất…
(iii) Công trình giao thông: Bao gồm công trình đường bộ, công trình thủy nội
địa, công trình hàng hải và công trình hàng không.
̣ cho người khác.
Trong thực tiễn , không phải mo ̣i thiê ̣t ha ̣i xảy ra đều do hành vi hay do lỗi của
con người, mà bản thân tài sản tự gây ra thiê ̣t ha ̣i cho những người xung quanh . Nói
mô ̣t cách khác , xuấ t phát từ đă ̣c tính , cấ u ta ̣o của tài sản đó mà
trong quá trình hoạt
động, khai thác tự thân chúng gây ra những tai na ̣n, tổ n thấ t bấ t ngờ vươ ̣t tầm kiểm soát
của con người như sụt lún , đỗ sâ ̣p , cây cố i đỗ gã y, súc vật cắn , húc…Vì vâ ̣y, ngoài
trách nhiệm BTTH do hành vi của con người gây ra , pháp luật cũng quy đinh
̣ trách
nhiê ̣m BTTH do tài sản gây ra . Tuy nhiên, trong các BLDS trước đó như BLDS năm
2005 chưa đưa ra bấ t kỳ mô ̣t khái niê ̣m hay quy đ ịnh cụ thể nà o về trách n hiê ̣m BTTH
do tài sản gây ra , mà mới chỉ dừng la ̣i ở viê ̣c đưa ra mô ̣t cách khái quát về trách nhiê ̣m
BTTH trong mô ̣t số trường hơ ̣p cu ̣ thể , nhấ t đinh.
̣
Từ những quy đinh
̣ về trách nhiê ̣m
BTTH ngoài hợp đồng , đố i chiế u với các
trường hơ ̣p cu ̣ thể mà tài sản gây ra thiê ̣t ha ̣i , có thể hiểu : “Trách nhiê ̣m BTTH do tài
sản gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý mà theo đó , chủ sở hữu , người chiế m hữu ,
10
sử dụng để tài sản của mình gây ra t hiê ̣t hại; xâm phạm đế n quyề n và lợi ích hợp pháp
của người khác được pháp luật bảo vệ thì phải chịu trách nhiệm
được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt
hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác” [30].
BLDS năm 2015 chưa đưa ra đươ ̣c khái niê ̣m như thế nào là trách nhiê ̣m BTTH do nhà
cửa, công triǹ h xây dựng gây ra . Bộ luật vẫn đang dừng la ̣i ở viê ̣c liê ̣t kê các chủ thể
chịu trách nhiệm bồi thường khi tài sản gây thiê ̣t ha ̣i . Đây có thể xem là mô ̣t trong
11
những ha ̣n chế mà BLDS năm 2015 còn tồn tại , chưa rút ra kinh ngh iê ̣m từ các BLDS
trước đó để khắ c phu ̣c.
Từ những khái niê ̣m nói chung về trách nhiê ̣m BTTH do tài sản gây ra và quy
đinh
̣ của pháp luâ ̣t ta ̣i Đ iề u 605, BLDS năm 2015, khái niệm về trách nhiệm BTTH do
nhà cửa , công trình xây dựng gây ra có thể được định nghĩa như sau: “Trách nhiệm
BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra là trách nhiệm phát sinh khi nhà cửa ,
công trình xây dựng gây ra thiê ̣t hại về tài sản , sức khỏe , tính mạng cho người k hác”.
Khái niệm cho thấy bản chất và một số đặc điểm của trách nhiệm BTTH nói chung và
trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nói riêng. Đó là trách nhiệm
phát sinh khi nhà cửa, công trình xây dựng gây ra một thiệt hại xác định cho những
người thứ ba. Và thiệt hại đó có thể là thiệt hại về tài sản, tính mạng hay sức khỏe của
người bị thiệt hại.
Thực tế có nhiề u nhà ở, công trin
̀ h xây dựng đươ ̣c thi công, đưa vào khai thác và
sử du ̣ng. Nhiề u trường hơ ̣p thiê ̣t ha ̣i do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra mà con
người không lường trước, đồ ng thời các nhà làm luâ ̣t cũng chưa thể dự liê ̣u hế t đươ ̣c tấ t
cả các tình huống có thể xảy ra như thế nào . Nên trong quá trình áp du ̣ng pháp luâ ̣t , các
cơ quan nhà n ước có thẩm quyền đã gặp không ít khó khăn và trở ngại . Viê ̣c xác đinh
̣
trách nhiệm của chủ sở hữu , người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà
xã hội. Nhắc nhở họ phải có ý thức, trách nhiệm tự bảo vệ tài sản của mình , đồng thời
biế t bảo vê ̣ và không gây phương ha ̣i đế n tài sản của người khác . Mă ̣c dù pháp luâ ̣t
luôn bảo vê ̣ quyề n , lơ ̣i ić h chin
́ h đáng cho ho ̣ nhưng bên ca ̣n h đó ho ̣ phải thực hiê ̣n
nghĩa vụ, tuân thủ những quy đi ̣nh mà pháp luâ ̣t cấ m . Khi các chủ thể gây thiê ̣t ha ̣i cho
những ngườ i xung quanh tấ t yế u ngư ời đó phải gánh nhận những hậu quả bất lợi và
chịu sự trừng phạt nghiêm min h từ pháp luật . Do đó, bản thân luôn luôn ý thức đươ ̣c
mình nên làm gì , đươ ̣c làm gì và không nên làm gì . Có tinh thần phòng ngừa thiệt hại
xảy ra nhằm hạn chế tối đa mức tổn thất .
Đối với chủ sở hữu , người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà
cửa, công trình xây dựng sẽ hiể u biế t đươ ̣c những nghiã vu ̣ min
̀ h phải thực hiê ̣n . Đó là
trông coi, quản lý và sử du ̣ng đúng mục đích, đúng tính năng của tài sản. Có phương
án sửa chữa nhà cửa, công triǹ h xây dựn g khi có hiện tượng xuống cấp hoặc hư hỏng,
tránh gây thiê ̣t ha ̣i cho người khác . Ngay từ lúc b ắt đầu tiến hành thi công , xây dựng
nhà cửa , công trình xây dựng , chủ sở hữu cần phải tính toán , xem xét kỹ lưỡng các
thông số , khảo sá t hiê ̣n tra ̣ng của các khu nhà liề n kề có kế t cấ u như thế nào
gạch chịu lự c hay kế t cấ u móng nhà có đô ̣ sâu ra sao để có đường lố i xây dựng
công trình xây dựng phù hợp , cân đố i mà không ảnh hưởng đế n những nhà
13
, tường
nhà ở,
liề n kề ,
những công trình xây dựng xung quanh . Tránh trường hợp chủ quan, không tuân thủ
quy đinh
̣ về an toàn , quy chuẩ n trong xây dựng . Không những vâ ̣y , khi phát hiê ̣n nhà
14
dựng gây ra là thiê ̣t ha ̣i mà bản thân tài sản đó gây ra tổ n thấ t , hâ ̣u quả cho người khác .
Không gắ n liề n với hành vi hành đô ̣ng của con nguời nên đố i tươ ̣ng bi ̣ xâm pha ̣m của
nó chỉ bao gồm thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tin
́ h ma ̣ng.
Thứ hai, đặc điểm về phạm vi tác động của nhà ở, công trin
̀ h xây dựng
Hoạt động xây dựng những công trình cao tầng, những ngôi nhà chọc trời còn
được gọi là “thành phố theo chiều đứng” trở nên phổ biế n . Do bản thân công trình xây
dựng chịu ảnh hưởng từ những phản ứng b ởi kế t cấ u của nó hay bi ̣tác đô ̣ng bởi các
yế u tố tự nhiên như đô ̣ng đấ t , bão, gió,…gây ra những thiê ̣t ha ̣i cho các công trin
̀ h nhà
ở, công trình xây dựng liề n kề . Đó đề u là những vâ ̣t vô tri vô giác , không di chuyể n
hay xê dich
̣ đươ ̣c. Hơn nữa, phạm vi tác động của nó là những ngôi nhà , công trin
̀ h xây
dựng liề n kề . Có thể thấy, sức ảnh hưởng của chúng là rất đa dạng và vô kể . Phần lớn
nhà đều xây dựng sát nhau, vì vậy sự cố về xây dựng như làm lún, nứt nhà hàng xóm,
công trình kế cận xảy ra là chuyện thường gặp. Sự cân bằng hiện có của ngôi nhà bị
phá vỡ, cộng thêm tác động từ lực bên ngoài có thể xảy ra hiện tượng như nén đất, biến
dạng cấu trúc, hạ mức nước ngầm dẫn đến nghiêng , thấ m, dô ̣t, sụt lún, sâ ̣p đổ nhà ở,
công trình xây dựng đó và những công trình xây dựng liền kề,…Tạo tâm lý hoang
mang, lo lắ ng cho người dân và cũng chính là nguyên nhân n ảy sinh ra việc tranh chấp,
khiếu kiện.
Thứ ba, đặc điểm về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Theo nguyên tắ c chung , người nào có lỗi để cho nhà cửa , công trin
̀ h xây dựng
1.2.1. Điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây
dựng gây ra
Trên cơ sở khoa ho ̣c pháp lý và kinh nghiê ̣m từ thực tiễn áp du ̣ng pháp luâ ̣t để
xét xử các vụ án, khi xác đinh
̣ trách nhiê ̣m BTTH do nhà cửa, công trin
̀ h xây dựng gây
ra đề u phải căn cứ vào những điề u k iê ̣n phát sinh trách nhiê ̣m đó . Theo nguyên tắc,
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: 6
1) Có hành vi vi phạm; 2) có thiệt hại xảy ra; 3) có mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi vi phạm và thiệt hại; 4) có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại. Đây
được xem là những điều kiện chung nhất để xác định một người phải chịu trách nhiệm
BTTH khi gây ra thiệt hại cho người khác.
Tuy nhiên, trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra chỉ phát
sinh khi và chỉ khi có 3 điều kiện, đó là: 1) Có thiệt hại xảy ra; 2) Có mối quan hệ nhân
quả giữa sự tác động của nhà cửa, công trình xây dựng đối với thiệt hại xảy ra; 3) Có
16
lỗi. Các yếu tố hay điều kiện xác định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây
dựng gây ra là những nội dung chủ yếu của chế định pháp luật này được trình bày dưới
đây.
1.2.1.1. Điều kiện về thiệt hại
Thiệt hại là yếu tố tiên quyết để nhận định xem đó có phải là quan hệ pháp luật
về BTTH hay không. Xác định thiệt hại là một trong những yếu tố quan trọng trong
quá trình giải quyết, xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình
xây dựng gây ra. Thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra là những thiệt hại về
tài sản, sức khỏe, tính mạng của người bị thiệt hại. Hơn nữa, đó là những thiệt hại đụng
chạm trực tiếp hay gián tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người bị
thiệt hại. Đó là những thiệt hại thực tế, tồn tại, được xác định và thừa nhận một cách
quan có thẩm quyền giải quyết cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện
liên quan một cách cẩn trọng, khách quan và toàn diện. Từ đó mới rút ra được kết luận
chính xác về nguyên nhân gây ra thiệt hại và xác định đúng trách nhiệm BTTH cũng
như mức bồi thường đúng đắn.
1.2.1.3. Điều kiện về lỗi
Từ trước đến nay, yếu tố lỗi luôn là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu,
nhiều luật gia quan tâm, tìm hiểu và đưa ra những nhận định ở các góc độ khác nhau.
Có nhiều quan điểm về lỗi trong pháp luật dân sự. Theo đó, lỗi được hiểu là yếu tố chủ
quan, phản ánh thái độ tâm lý của con người. Nếu pháp luật hình sự coi yếu tố lỗi là
dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm, xác định tội danh thì trong pháp luật dân sự
lỗi là một trong số những điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Có quan điểm cho rằng: Đối với BTTH ngoài hợp đồng do tài sản gây ra nói
chung hay BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nói riêng không xem xét đến
yếu tố lỗi. Bởi lỗi là yếu tố phản ánh trạng thái, thái độ tâm lý của một chủ thể cụ thể
tồn tại trong thế giới khách quan. Rõ ràng nhà cửa, công trình xây dựng là những tài
sản nên việc xác định lỗi đối với tài sản khi chúng gây ra thiệt hại cho con người và tài
sản khác là điều hoàn toàn không phù hợp. Tuy nhiên, có quan điểm khác lại giải thích
18