Hoàn thiện các vấn đề lý luận để xác minh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cá nhân gây ra - Pdf 31

Lời nói đầu
Mục đích của Pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thuờng ngày của mồi
con nguời, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã hội của Nhà Nuớc ,
nảy sinh từ các nhu cầu sinh hoạt và nhu cầu sản xuất cũng như các nhu cầu khác trong
cuộc sổng hàng ngày, Những nhu cầu ngày càng tăng đó của con người đòi hỏi phải có
những phương tiện pháp lý mới nhằm điều chỉnh và ôn định xã hội. Do vậy sự ra đời của
chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với tư cách là một chế định dân sự độc lập,
đảm bảo quyền và lợi ích của người bị thiệt hại là một điều tất yếu. Việc thực hiện trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nhằm khôi phục lại các quyền tài sản và các
quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, tố chức, pháp nhân, nhà nước. Đe việc tiến
hành bồi thường thiệt hại được diễn ra thuận lợi và bảo đảm quyền lợi cho chủ thế bị thiệt
hại yêu cầu cần xác định được đúng người có trách nhiệm, có khả năng đế thực hiện nghĩa
vụ bồi. Do vậy, xác định năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân là một vấn đề quan
trọng trong xác định đúng năng lực bồi thường thiệt hại của người gây ra thiệt hại và người
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đế tạo ra tính khả quan cho công tác thực thi trách
nhiệm bồi thường thiệt hại và đảm bảo được nguyên tắc của bồi thường thiệt hại là phải
kịp thời và toàn bộ.
Nhận thức được tầm quan trọng của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
cũng như vấn đề xác định năng lực chủ thế trong trách nhiệm bồi thường đối với sự công
bằng và phát triển của xã hội, em xin chọn đề tài: “Hoàn thiện các vấn đề lý luận để xác
minh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cá nhân gây ra” để nghiên
cứu trong bài tập lớn học kỳ lần này .
Do hạn chế về kinh nghiệm thực tế cũng như thời gian nghiên cứu, bài làm của em
còn nhiều thiếu sót, mong thầy cô nhìn nhận vào yếu tố cố gắng bên cạnh yếu tố chất
lượng của bài viết mà nhẹ nhàng chỉ bảo. Em xin chân thành cám ơn !


Nội dung
I. Khái quát chung về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
1. Khái niệm và điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng :
1.1. Khái niệm :

được phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật quy định khi chủ thế có hành vi gây
thiệt hại cho các lợi ích dược pháp luật bảo vệ.
1.2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong Bộ luật dân sự 2005 của nước ta không có một quy định nào quy định cụ thế
về các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy
nhiên, theo Nghị Quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 01/2004
NQ/- HĐTP ngày 28 tháng 4 năm 2004 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật
dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì có bốn điều kiện làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: (1) có thiệt hại xảy ra, (2) hành vi gây thiệt hại
là hành vi trái pháp luật, (3) có lỗi của người gây thiệt hại, (4) có mối quan hệ nhân quả
giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
1.2. ĩ. Có thiệt hại xảy ra
Mục đích của việc bồi thường thiệt hại là khôi phục lại, bù đắp lại những tổn thất
cho người bị thiệt hại cho nên nếu không có thiệt hại thì vấn đề bồi thường sẽ không được
đặt ra kế cả trong trường hợp các điều kiện khác đã đáp ứng đầy đủ. Từ đây có thế thấy
thiệt hại là điều kiện tiên quyết, bắt buộc phải có của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng đế quyết định xem có phát sinh trách nhiệm bồi thưởng hay không.
Thiệt hại theo luật dân sự Việt Nam được hiểu là : ” những tổn thất thực tế được
tỉnh thành tiền do việc xâm phạm đến tỉnh mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của to
chức, cả nhân, ton thất thực tế ở đây chỉnh là sự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh
thần hay những chi phí bỏ ra đê ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị thiệt
hại phải gánh chịu ”
Như vậy, thiệt hại được xác định bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh


thần. Việc xác định thiệt hại về vật chất tưong đối cụ the, rõ ràng nhưng xác định thiệt hại
về tinh thần là vấn đề hết sức khó khăn trong nhiều trường hợp . Do đó cần phải tính toán
thiệt hại một cách chi tiết dưa vào các căn cứ cụ thế , tránh việc suy diễn chủ quan , đánh
giá thiếu khách quan .
1.2.2. Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại

Lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của

người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện. Xét về bản chất, lỗi
được các ngành luật xác định khác nhau. Trong luật dân sự, lỗi được xác định là một trong
bổn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồn nói riêng và
trách nhiệm dân sự nói chung. Việc áp dụng lỗi làm căn cứ đế xác định trách nhiệm được
BLDS 2005 quy định tại điều 308 .Theo đó, lỗi được chia thành 2 loại là lồi cổ ý và lỗi vô
ý
Trong luật dân sự Việt Nam, về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát
sinh khi người gây thiệt hại có lỗi, bất ke đó là lỗi vô ý hay cố lý .
Bên cạnh đó, trong một số trường họp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng phát sinh ngay cả khi người gây thiệt hại khôn có lồi ( khoản 3 điều 623,624 BLDS
2005).
Tuy nhiên việc đánh giá hình thức, mức độ lõi trong trách nhiệm bôi thưừng thiệt
hại ngoài hợp đồng vẫn là một công đoạn quan trọng , có ý nghĩa lớn trong việc xác định
trách nhiệm bồi thường của các bên(Khoản 2 điều 615) hay giảm mức bồi thường ( Khoản
2, điều 605) .
2. Cá thể hóa trách nhiệm bồi thưòng thiệt hại ngoài hợp đồng
2.1. Khái niệm cá thế hóa trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
Khi có thiệt hại xảy ra thì bên cạnh việc xác định mức độ thiệt hại, cùng các điều
kiện cấu thành trách nhiệm của người gây thiệt hại thì việc xác định rõ ai là người phải
đứng ra gánh vác trách nhiệm và thực hiện việc bồi thường đế đảm bảo quyền lợi cho
người bị hại là một vấn đề rất quan trọng. Theo cách hiểu chung và khái quát nhất thì ai là
người gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường. Tuy nhiên điều kiện đế trở thành một
chủ thế tham gia vào một quan hệ pháp luật thì người đó phải có đầy đủ năng lực chủ thế


theo quy định của pháp luật.
Do vậy, khi thiệt hại xảy ra cần phải xác định trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về
ai. Đây là một vấn đề rất quan trọng, bởi lẽ nếu không xác định được người phải bồi

độ tuối có mối quan hệ với nhau, cụ the, khả năng nhận thức của con người lại phụ thuộc
vào chính độ tuối. Con người chỉ có khả năng nhận thức đầy đủ khi đạt một độ tuổi nhất
định, khi chưa đạt độ tuổi này thì con người hoặc chưa có khả năng nhận thức hoặc là khả
năng nhận thức còn hạn chế. Tuy nhiên, cũng có trường họp, người không có khả năng
nhận thức nhưng không phải do chưa đạt một độ tuổi nhất định mà do bị mất khả năng
nhận thức của mình .
Như vậy, đế tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định thì chủ thế phải có đầy đủ ý
chí cũng như lý trí đế điều khiến hành vi của mình, phải nhận thức được những gì mình
đang làm cũng như hậu quả của hành vi đó. Người đứng ra chịu trách nhiệm chính trong
quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thế chính là người gây ra thiệt hại và cũng
có thế không phải là người gây ra thiệt hại. Việc thực hiện bồi thường ảnh hưởng đến
chính quyền lợi của họ do vậy họ phải nhận thức được việc mình đang làm và trách nhiệm
bồi thường sẽ không đặt ra với người không có khả năng nhận thức. Từ những nhận định
trên, có the nói, việc đánh giá khả năng nhận thức của chủ thế trong vấn đề cá thế hóa
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hết sức cần thiết.
-

Mối quan hệ pháp lỷ giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường

Mối quan hệ giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường được đặt ra đế cá
thế hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại là để giải quyết các tình huống người gây thiệt hại
không có khả năng bồi thường. Việc xem xét mối quan hệ pháp lý giữa người gây thiệt hại
và người phải bồi thường có ý nghĩa trong việc xác định đúng người đại diện cho người
gây thiệt hại để thực hiện nghĩa vụ. Họ phải thực hiện việc bồi thường dù họ không gây ra
thiệt hại nhưng họ lại có lỗi trong việc quản lý người gây thiệt hại.
II.Năng lực chịu trách nhiệm bồi thucmg thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại
ngoài hợp đồng :


1. Năng lực bồi thưòng thiệt hại của người từ đủ 18 tuổi:

11/10/2006 Anh Toản đã mang 10 triệu đồng đến bồi thường thiệt hại và trình bày
hoản cảnh khó khăn của mình. Tuy nhiên chị Nga không đồng ý và yêu cầu anh bồi
thường số tiền còn thiếu. Đen tháng 8/2007, do anh Toản vẫn chưa có khản năng bồi
thường số tiền còn thiếu, chị Nga đã đâm đơn kiện lên tòa, yêu cầu gia đình anh Toản phải
bồi thường cho mình sổ tiền còn thiếu là 28 triệu đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm sổ 55/2008/DSST ngày 31/5/2008 của tòa án nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh, tòa quyết định: Buộc anh Toản phải trả cho chị
Nga số tiền còn thiếu là 28.000.000đ với hình thức mỗi tháng trả 500.000đ cho đến khi hết
số tiền nêu trên .
Bác yêu cầu của chị Nga yêu cầu gia đình anh Toản phải trả nợ thay bởi lý do, vào
thời điểm gây thiệt hại, anh Toản đã đủ 18 tuổi, có đủ năng lực đế trở thành chủ thế của
quan hệ bồi thường thiệt hại.
Nhận xét : Theo quy định của pháp luật ,người từ đủ 18 tuổi phải tự chịu trách
nhiệm bồi thường khi gây thiệt hại dù tình trạng tài sản của họ có như thế nào đi nữa. Tuy
nhiên, có một thực tế là : Tại Việt Nam hiện nay, một bộ phận lón thanh niên đạt độ tuối
tù' 18 đến 22 vẫn tiếp tục theo học tại các trung tâm giáo dục khác nhau, chịu sự bao bọc,
quản lý của người thân, do đó, khả năng tài chính hay nói cách khác thu nhập của những
người này vẫn phải phụ thuộc phần nhiều vào người khác. Trong nhiều trường hợp, cụ thế
như trường hợp nêu trên, sau khi gây thiệt hại, họ không có đủ khả năng đế thực hiện
nghĩa vụ, tuy nhiên đây là trách nhiệm của họ, không thể chuyến giao cho người khác và
người khác cũng không có nghĩa vụ phải thực hiện thay cho họ (trừ trường hợp người nhà
của họ hoặc có người khác tự nguyện thay họ thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại).
Do vậy trong trường họp này, tòa cần phải đưa ra một giải pháp mềm mong hơn. Cụ thế,
tòa đã buộc anh Toản phải bồi thường dần số tiền theo từng tháng, dựa trên mức thu nhập
trung bình của anh. Tuy quyết định này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị Nga, chưa
đảm bảo được các nguyên tắc bồi thường thiệt hại, nhưng đã phần nào đảm bảo được việc
thực hiện nghĩa vụ của anh Toản, cũng như thỏa mãn yêu cầu đòi bồi thường của chị Nga.


2. Năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên

về kinh tế ,tạo ra thu nhập và có tài sản riêng. Do đó khoản 2 điều 606 BLDS 2005 quy
định : “Người chưa thành niên dưới 15 tuối gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải
bồi thường toàn bộ thiệt hại Quy định này đã thế hiện được tính họp lý và chính xác của
mình trong thực tiễn xét xử của những cơ quan tòa án có thẩm quyền :
Cụ thế, trong vụ án hình sự xét xử các bị cáo Nguyễn Tuấn Anh sinh ngày
24/4/1992; Hoàng Văn Lê sinh năm 1987; Nguyễn Thế Trung sinh năm 1982; Nguyễn
Văn Việt sinh năm 1988 về tội cướp giật tài sản và tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có của Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Khoảng 15 giờ ngày 05/12/2006 Hoàng Văn Lê
sinh năm 1987 ở Sóc Sơn - Hà Nội đi xe máy Dream BKS 99H2 - 7863 trở Nguyễn Tuấn
Anh sinh ngày 24/4/1992 cùng ở Sóc Sơn - Hà Nội, còn Nguyễn Thế Trung sinh năm 1982
ở Đông Anh - Hà Nội đi xe máy WAVE BKS 12F6 - 4436 trở Nguyễn Văn Việt sinh ngày
06/6/1988 ở Sóc Sơn - Hà Nội đi từ Đông Anh đến thị xã Phúc Yên với mục đích trộm cắp
xe máy. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày cả bốn tên đi trên đoạn đường 301 từ trung tâm
thị xã Phúc Yên đi phường Xuân Hòa - thị xã Phúc Yên. Quan sát thấy chiếc túi xách của
chị Hà đế trên yên xe giữa chị Hà và anh Cương, Tuấn Anh nảy sinh ra ý định cướp giật và
bảo Lê điều khiến xe máy đi chậm lại phía sau xe anh Cương . Khi đến khu vục hồ Tam
Giác phường Xuân Hòa, Tuấn Anh dùng tay giật chiếc túi xách của chị Hà, trong túi xách
có một chiếc điện thoại Nokia 6110, 2.300.000 đồng, một đăng ký xe máy ... và một số
giấy tờ tuỳ thân khác. Giật được tài sản Lê cho xe chạy với tốc độ cao vào hồ Đại Lải, còn
Trung điều khiến xe máy chạy theo. Sau đó, Tuấn Anh chia cho Nguyễn Thế Trung
500.000 đồng chia cho Việt và Lê mỗi người 300.000 đồng, còn lại Tuấn Anh tiêu hết.
Đen ngày 7/12/2006 Tuấn Anh cùng Việt đem chiếc điện thoại bán cho một cửa
hàng ở Đông Anh được 1.000.000 đồng Tuấn Anh và Việt tiêu hết. Ngày 15/6/2007 Hội
đồng giám định thị xã Phúc Yên đã xác định trị giá chiếc điện thoại của chị Hà là
2.000.000 đồng .Đối với chiếc xe máy BKS 99H2 - 7863 xác định là xe máy do Lê cùng
Tuấn Anh trộm cắp mà có. Còn chiếc xe máy BKS 12F6 - 4436 là do Việt trộm cắp mà có.


Tại bản án hình sự sơ thẩm 57/2007/HSST ngày 31/8/2007 của Tòa án sơ thẩm đã

hại phải “toàn bộ và kịp thời” đế đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại, bởi trong nhiều
trường hợp người chưa thành niên tuy chưa tự làm được ra tài sản nhưng lại được thừa kế,
được tặng cho tài sản. Và việc cho phép cha, mẹ của người chưa thành niên dưới 15 tuối
gây thiệt hại được phép lấy tài sản của con họ đế bù vào phần bồi còn thiếu không có
nghĩa người chưa thành niên phải “liên đới” cùng cha, mẹ đế bồi thường thiệt hại.
Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý không phải trong mọi trường hợp cha, mẹ của người
gây ra thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm bồi thường . Khoản 1 điều 621 BLDS có quy
định : “người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trưÒTìg mà gây thiệt hại thì trường học
phải bồi thường thiệt hại xảy ra ). Thời gian mà người dưới 15 tuổi học tại trường học
chính là thời gian mà theo quy định của nghề nghiệp trường học phải có trách nhiệm quản
lý, giáo dục người chưa thành niên dưới 15 tuổi, do vậy trong thời gian người người dưới
15 tuổi học tại trường học mà gây ra thiệt hại thì nhà trường sẽ phải chịu trách nhiệm bồi
thường vì nhà trường đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình trong việc quản lý và giáo
dục học sinh. Tuy nhiên, nếu trường học chứng minh được mình không có lỗi trong việc
quản lý và trong việc để thiệt hại xảy ra thì trường học sẽ không phải bồi thường và trong
trường hợp này thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên sẽ phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2.2. Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ đủ 15 tuối đến dưới 18 tuối
Cùng thuộc độ tuối chưa thành niên, tuy nhiên khác với người dưới 15 tuổi nếu gây
thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về cha, mẹ của họ, ngược lại, người từ đủ 15
đến dưới 18 tuổi sẽ phải bồi thường bằng chính tài sản của mình; nếu không đủ tài sản đế
bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường bằng tài sản của mình”. Như vậy, trong trường hợp
này, trách nhiệm bồi thường chính thuộc về bản thân người gây thiệt hại chứ không phải là
cha mẹ, người thân của họ.
Sở dĩ pháp luật quy định như vây là do, dù ở trong độ tuổi chưa thành niên chưa có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng so với người dưới 15 tuổi về mặt nhận thức họ đã
phát triển hon, mặt khác, người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi theo quy định tại điều 145 bộ


luật Lao động 1994: “đã có khả năng lao động và có thế giao kết hợp đồng lao động”.

cha, mẹ không đủ điều kiện chăm sóc, giảo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ
có yêu cầu” thì cần có người giám hộ. Như vậy, với người chưa thành niên vẫn còn cha
mẹ không bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự thì không thuộc phạm vi ảnh hưởng
của điều luật nêu trên .
Trong các trường hợp còn lại, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người chưa
thành niên gây thiệt hại sẽ thuộc về người giám hộ đương nhiên của họ. Cụ thế, trước hết
là trách nhiệm của anh cả hoặc chị cả đã thành niên đủ điều kiện đế làm người giám hộ.
Neu anh cả, chị cả không đủ điều kiện đế làm người giám hộ thì người tiếp theo đã thành
niên phải làm người giám hộ. Trong trường hợp không có anh, chị hoặc anh, chị không đủ
điều kiện đế làm người giám hộ thì ông, bà nội, ông, bà ngoại là người giám hộ. Neu
những người nêu trên không có hoặc không đủ điều kiện đế làm người giám hộ thì bác,
chú, cậu, cô, dì là người giám hộ. Trong trường hợp không có người làm giám hộ đương
nhiên thì sẽ phải cử giám hộ.
về tài sản bồi thường, khoản 3 điều 606 ghi nhận : "... người giám hộ đu-ợc dừng
tài sản của người được giám hộ đê bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản
hoặc không đủ tài sản đê bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của
mình; nền người giảm hộ chứng minh được mình không có lôi trong việc giảm hộ thì
không phủi lấy tài sản của mình đế bồi thường. ” Như vậy, trong trường hợp này, người
phải chịu trách nhiệm bồi thường chính là người gây thiệt hại chứ không phải người giám
hộ. Bên cạnh đó, người giám hộ cũng có thế miễn trù’ trách nhiệm bồi thường của mình
nếu chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ. Quy định này tưởng chừng
như hợp lý nhưng trong áp dụng thực tiễn, vẫn còn nối lên một số bất cập. Cụ thế, trong
trường hợp, người chưa thành niên không có hoặc không có đủ tài sản đế bồi thường và
người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì trách nhiệm bồi
thường sẽ thuộc về ai ? Ai sẽ phải tiếp tục bồi thường khi có tài sản ? Trong thực tế, khi
gặp tình huống này, các thẩm phán thường dựa vào nguyên tắc tưong tự đối với người


thành niên còn cha mẹ đế xét xử, cụ thế : Neu người được giám hộ là người từ đủ 15 tuối
đến chưa đủ 18 tuối thì trách nhiệm bồi thường thuộc về người được giám hộ, nếu người

người giám hộ nếu người con cả không đủ điều kiện đế là giám hộ thì người con tiếp theo
có đủ điều kiện là người giám hộ. Neu cha, mẹ mà gây thiệt hại cho người khác thì người
con đang giám hộ cha, mẹ sẽ lấy chính tài sản của cha, mẹ để thực hiện nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại cho người bị tốn thất. Sau khi lấy tài sản của cha, mẹ để bồi thường mà
còn thiếu thì người con với tư cách là người giám hộ sẽ phải lấy tài sản của mình đế thực
hiện nốt nghĩa vụ bồi thường.
Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự là người đã thành niên và đã có vợ,
chồng, con nhưng vợ, chồng, con đều không đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ
có đủ điều kiện phải làm người giám hộ cho họ. Neu họ gây thiệt hại về tài sản cho người
khác thì cha, mẹ sẽ lấy tài sản riêng của người được giám hộ để thực hiện trách nhiệm bồi
thường thiệt hại và nếu tài sản đó không đủ để bồi thường thì người giám hộ mới phải lấy
tài sản của mình đế bồi thường.
Cuối cùng, người mất năng lực hành vi dân sự nếu gây thiệt hại cho người khác
trong thời gian bệnh viện hay tố chức khác quản lý thì tố chức, bệnh viện phải có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại mà không phải là người giám hộ (Điều 621 khoản 2 BLDS
2005). Bệnh viện và tổ chức có trách nhiệm phải bồi thường vì họ đã không thực hiện tốt
chức năng quản lý của mình đã đế người mất năng lực hành vi dân sự do mình đang quản
lý gây thiệt hại.
Trong trường hợp, người bị mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ
đưong nhiên thì sẽ phải cử giám hộ và trách nhiệm của họ trong việc người được giám hộ
gây thiệt hại sẽ áp dụng tương tự’ như các trường hợp trên .
Tương tự như đối với trường hợp người được giám hộ là người chưa thành niên,
trong trường hợp người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự, một câu hỏi
được đặt ra là : Nếu người được giám hộ không có tài sản riêng đế bồi thường và người
giám hộ chứng minh được họ không có lỗi thì trách nhiệm thuộc về ai ? Mặc dù pháp luật
không quy định nhưng trong thực tế khi gặp tình huống này, các cơ quan xét xử thường coi


thiệt hại là rủi ro và người bị thiệt hại phải gánh chịu .
III .GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM

1 . Việc quan trọng và cần thiết nhất đó là bố sung thêm các quy định về vấn đề xác
định trách nhiệm bồi thường trong trường họp người bị hạn chế năng lưc hành vi dân sự
gây thiệt hại. Mặc dù hình thức và nội dung của quy định ra sao thuộc về trách nhiệm của
các nhà làm luật, tuy nhiên em vẫn xin đưa ra quan điểm cá nhân của mình như một ý kiến
đóng góp mang tính tham khảo : Hạn chế năng lực hành vi dân sự được hiếu là người do
nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác mà dẫn đên không có đủ khả năng nhận
thức và điêu khiên hành vi (điều 23 BLDS). Như vậy, có thế hiểu người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự là một người đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng
vì rơi vào trường hợp nêu trên nên bị hạn chế một phần năng lực hành vi dân sự của mình.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của BLDS 2005 thì người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự cũng cần có người đại diện theo pháp luật và các giao dịch dân sự liên quan
đến tài sản của người này phải được người đại diện theo pháp luật thông qua. Tuy nhiên,
xét về bản chất, việc hạn chế năng lực hành vi dân sự dẫn đến gây thiệt hại đều có ý chí
chủ thế, hay nói cách khác, đều do tự’ bản thân họ gây ra. Bởi vậy khi những người này
gây thiệt hại thì phải tự lấy tài sản của mình đế bồi thường, kế cả trong trường họp không
đủ tài sản đế bồi thường thì người đại diện theo pháp luật cũng không có nghĩa vụ phải lấy
tài sản của mình đế bồi thường thay .
2. Các cơ quan nhà nước có thâm quyền cũng cần ban hành các văn bản hướng dẫn
thi hành chi tiết cách xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có lỗi
trong quản lý.
3. Cuối cùng, dù cho chỉ là 1 chi tiết nhỏ, tuy nhiên, các nhà làm luật cũng nên bổ
sung ,quy định chi tiết hơn về vấn đề trách nhiệm bồi thường trong trường hợp người chưa
thành niên, đang được giám hộ gây thiệt hại. Qua đó xác định rõ trách nhiệm của mồi bên
khi người được giám hộ gây thiệt hại mà không có lỗi của người giám hộ, tránh việc quyết
định bất công cho người bị thiệt hại.

rv.

Kết luận:


5.

Phùng Trung Tập, cần hoàn thiện chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng trong dự thảo BLDS (sửa đôi), (Tạp chí nhà nước và pháp luật số 4/2005, tr
28 - 55).
6.

Phùng Trung Tập, Yeu tổ lỗi trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt

hại ngoài hợp dồng, (Tạp chí luật học số 5/1997, tr 23).
7.

Phùng Trung Tập, Loi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng, (Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2004, số 10, tr 2 - 5).
8.

Nguyễn Minh Tuấn, Trách nhiệm liên đới bồi thưòĩig thiệt hại ngoài hợp

đồng do người từ đủ ỉ5 tuối đến chưa đủ 18 tuổi gây ra, (Tạp chí luật học số
3/2002, tr 53 - 59).
9.

Lê Đình Nghị, Giáo trình luật dân sự tập 2 ,Nhà xuất bản giáo dục Việt


Nam
10.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status