Vai trò của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí - Pdf 47

MỞ ĐẦU
Báo chí nước ta đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc trước đây cũng như trong sự nghiệp đổi mới và phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Chủ trương đổi
mới do Đảng khởi xướng cùng với những thành tựu vĩ đại của công nghệ
thông tin đã làm cho báo chí nước ta trong những năm gần đây phát triển
nhanh cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, công tác quản lý nhà nước về
báo chí cần được tăng cường trong giai đoạn hiện nay.
Ngày 17-10-1997, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII đã có Chỉ thị 22/CT-TƯ về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự
lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản. Cùng với những quan điểm chỉ
đạo quan trọng về hoạt động báo chí, quan điểm "phát triển đi đôi với quản
lý tốt" là một nguyên tắc cơ bản định hướng cho nội dung công tác quản lý
nhà nước về báo chí trong tình hình mới. Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá X
cũng đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí ngày
12-6-1999. Việc thông qua Luật này tạo nên sự hoàn chỉnh về hành lang
pháp lý cho hoạt động báo chí, đảm bảo sự bình đẳng, dân chủ trong thông
tin, bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.
Đây cũng là điều kiện mới để báo chí Việt Nam phát triển, hội nhập với báo
chí khu vực và trên thế giới.

Luật Báo chí năm 1999 sửa đổi, bổ sung quy định các nội dung quản lý nhà
nước về báo chí:
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về
báo chí; xây dựng chế độ, chính sách về báo chí;
- Tổ chức thông tin cho báo chí; quản lý thông tin của báo chí; Đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp
cho đội ngũ cán bộ báo chí;


- Tổ chức, quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo

một hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng văn hoá, không nằm ngoài xã hội nên
cũng phải đi trong hành lang pháp luật đó. Báo chí cũng phải tuân theo pháp
luật. Bên cạnh việc khẳng định việc đảm bảo quyền tự do báo chí, tự do
ngôn luận, Điều 2 Luật báo chí quy định hạn chế, ngăn ngừa sự lạm dụng về
tự do đó: "Báo chí hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được nhà nước
bảo hộ; không một tổ chức cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà
báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn
luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của nhà nước, tập thể và công dân."
- Hoạt động báo chí cần sự định hướng của nhà nước. Báo chí là công cụ đấu
tranh chính trị sắc bén, bởi vậy, mọi nhà nước, dù có chế độ chính trị nào
đều có định hướng cho báo chí, để báo chí hoạt động đúng khuôn khổ pháp
luật đề ra, thông tin tuyên truyền có lợi cho quyền lực, địa vị của nhà nước
đương thời. Nếu thuận, báo chí sẽ là cánh tay đắc lực giúp củng cố chính
phủ, còn ngược lại nó có thể lật đổ chính phủ, xoá bỏ chế độ đương nhiệm
mộ cách phũ phàng.
- Không thể coi hoạt động báo chí như hoạt động doanh nghiệp có thu chi lời
lãi. Chính vì phục vụ cho mục đích chính trị tuyên truyền đối nội, đối ngoại
nên nhà nước phải đầu tư, hỗ trợ kinh phí cho báo chí để báo chí thực hiện
mục đích đề ra. Nhà nước Anh, Pháp, Mỹ hàng năm phải đổ rất nhiều tiền
của cho các đài phát thanh đối ngoại BBC (Anh), FBI (Pháp) và VOA (Mỹ)
hàng năm để chúng hoạt động đúng quỹ đạo, phục vụ cho việc tuyên truyền
đường lối, chính sách của các nước đó. Ở nước ta, hàng năm Nhà nước cũng
phải đầu tư hàng trăm tỷ đồng từ ngân sách để hỗ trợ báo chí, đặc biệt là báo
phục vụ miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, báo chí của các ngành khoa
học, báo chí của thanh thiếu niên...
- Báo chí có vai trò rất quan trọng trong công tác tư tưởng và ảnh hưởng sâu
rộng đối với xã hội, đặc biệt trong những bước ngoặt của cách mạng. Nếu
chúng ta không định hướng đúng đắn, không làm tốt công tác quản lý báo
chí thì rất có thể đưa đến những lệch lạc, gây ra những tác hại khó lường.




nhà nước vừa là phương tiện để chuyển tải và pháp lý hoá nội dung của các
công cụ khác vào thực tiễn quản lý nhà nước [147, tr.11,12,13].
- Tư tưởng nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là sự kế thừa tri
thức lịch sử nhân loại được thể hiện trong đường lối đúng đắn của Đảng.
Thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và thực
tiễn công cuộc đổi mới, phát triển đất nước ở nước ta hiện nay đang đặt ra
yêu cầu bức thiết đối với quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về
văn hóa, về báo chí nói riêng, trong đó công cụ pháp luật - hay nói cách
khác: quản lý nhà nước bằng pháp luật - trở thành yếu tố quan trọng quyết
định sự thành bại của đường lối đó.
1.2.2. Pháp luật - phương tiện quan trọng đảm bảo công dân thực hiện
quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí
Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí và quyền được thông tin
là những quyền cơ bản của công dân được quy định trong đạo luật cơ bản
của Nhà nước, được cụ thể hoá trong Luật Báo chí và các văn bản pháp luật
có liên quan. Điều 4, Luật Báo chí quy định công dân có quyền:
Được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới; Tiếp xúc,
cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo, gửi tin, bài, ảnh và tác phẩm
khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin; Phát biểu ý kiến về tình hình đất
nước và thế giới; Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu
nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan NN, tổ chức xã hội và
thành viên của các tổ chức đó.
Như vậy, quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí có nội dung xác
định, cụ thể, chứ không phải là một thứ quyền chung chung, trừu tượng. Thông qua
báo chí, công dân thực hiện quyền được nhận tin, quyền đưa tin, quyền được bày tỏ
quan điểm, thái độ của mình về những vấn đề đã và đang xảy ra trong đời sống xã

Nam đã khai thác triệt để hoạt động báo chí, xuất bản nhằm phục vụ cho
mục tiêu xây dựng xã hội thịnh vượng, công bằng, dân chủ và văn minh.


Pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí là công cụ quan trọng nhằm bảo
tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc, hiện đại, nhân văn; tiếp thu tinh hoa văn
hóa và tiến bộ về khoa học và công nghệ của nhân loại, bảo đảm cho quá
trình hội nhập thông tin báo chí toàn cầu. Báo chí là một trong các cơ sở của
thiết chế văn hóa có địa vị pháp lý do pháp luật quy định, được đầu tư nhằm
đáp ứng nhu cầu của quần chúng. Nhà nước và dư luận xã hội đã trao cho
báo chí uy quyền cao cả mang tính nhân văn sâu sắc. Mặt khác, nhu cầu giao
lưu, tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa của nhân loại là nhu cầu của bản
thân nền văn hóa dân tộc, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện
đại. Trong điều kiện đó, với tư cách là phương tiện điều chỉnh có hiệu lực,
pháp luật tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động văn hóa nói chung,
hoạt động báo chí nói riêng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở
ra cơ hội cho sự hoà nhập giữa các nền văn hóa, loại trừ khả năng hòa tan và
đổi mầu trong quá trình hòa nhập.
Pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí đã tạo lập hành lang và cơ hội
bình đẳng để báo chí hoạt động với tư cách một tiểu hệ thống xã hội như các
tiểu hệ thống xã hội khác trong hệ thống xã hội nói chung. Nhà nước ta luôn
tạo điều kiện để hoạt động báo chí đạt hiệu quả cao, đồng thời ngăn chặn các
hoạt động báo chí bất chấp hậu quả về chính trị, tư tưởng và văn hóa, chạy
theo xu hướng thương mại hóa. Lợi nhuận của hoạt động báo chí trong cơ
chế thị trường không thể tách rời mục tiêu chính trị, tư tưởng và văn hóa,
giữa chúng có quan hệ biện chứng, trong đó chính trị, văn hóa, tư tưởng là
mục tiêu hàng đầu.
Như trên đã nói, hoạt động báo chí là một loại hình hoạt động vừa chịu sự
tác động của hệ thống các quy luật phát triển văn hóa - tư tưởng, vừa chịu
tác động của hệ thống các quy luật kinh tế. Vì vậy, trong hoạt động báo chí

sự phân công và phối hợp chặt chẽ, ngăn chặn sự lộng quyền, lạm quyền
đảm bảo cho quản lý nhà nước về báo chí có hiệu lực và hiệu quả.
Ở nước ta "Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí". Chính phủ
có những cơ quan chuyên môn giúp việc cho Chính phủ trong từng lĩnh vực
cụ thể đó là các bộ. Giúp việc cho Chính phủ về công tác quản lý báo chí là


Bộ Văn hoá - Thông tin. "Bộ Văn hoá - Thông tin chịu trách nhiệm trước
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí". Bộ Văn hoá - Thông tin,
cụ thể là Cục báo chí, cơ quan tham mưu của Bộ, trực tiếp thực hiện mọi
công việc quản lý nhà nước về báo chí.
Nhiệm vụ chính của Bộ Văn hoá - Thông tin là thực hiện các nội dung về
quản lý nhà nước về báo chí trong phạm vi cả nước. Ví dụ như việc sắp xếp,
quy hoạch báo chí, xây dựng chiến lược báo chí toàn quốc; xây dựng các
văn bản pháp luật về chế độ báo chí, quản lý, cấp và thu hồi giấy phép hoạt
động báo chí. Ngoài trụ sở chính ở Hà Nội, Bộ Văn hoá - Thông tin còn có
Ban thường trú đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện quản lý nhà nước
về báo chí đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ Ninh Thuận,
Lâm Đồng trở vào.
Đối với những hoạt động báo chí liên quan đến các bộ và cơ quan ngang bộ
khác đòi hỏi có sự quản lý nhà nước thì các bộ liên quan có trách nhiệm thực
hiện quản lý nhà nước về báo chí theo quy định của Chính phủ. Chính phủ
đã có quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ để thống nhất quản lý nhà nước về báo chí. Ví dụ: Ban Tư
tưởng - Văn hoá Trung ương phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin tổ chức
thông tin thường kỳ cho báo chí; Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Văn hoá Thông tin trong việc quản lý các hoạt động thông tin báo chí đối ngoại; Bộ
Công an, Bộ Bưu chính Viễn thông có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Văn hoá Thông tin trong việc quản lý thông tin trên mạng Internet; Ban Tổ chức
Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh xã hội phối hợp với Bộ Văn hoá Thông tin xây dựng tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức ngành báo chí,
chế độ tiền lương, nhuận bút đối với tác phẩm báo chí.
Ở địa phương, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực

* Giai đoạn 1945-1954
Trong lĩnh vực báo chí, do nhận thức được vai trò to lớn của pháp luật trong
việc điều chỉnh hoạt động báo chí nên sau khi giành được chính quyền, Chủ


tịch Hồ Chí Minh đã ban bố Sắc lệnh số 41 ngày 19-3-1946 đặt cơ sở pháp
lý đầu tiên cho hoạt động báo chí nước ta.
Ngày 9-11-1946, Hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời đã ghi nhận quyền tự
do ngôn luận của công dân. Điều 10, Hiến pháp 1946 quy định: Công dân
Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội
họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
Tuy nhiên, do kháng chiến chống xâm lược Pháp, Chính phủ không có
những quy định mới mà chỉ có một số thông tư giải thích hoặc nêu lên các
biện pháp thi hành.
Khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng năm 1954, Uỷ ban quân chính Hà
Nội thay mặt Chính phủ tuyên bố báo chí xuất bản không phải chịu sự kiểm
duyệt trước, song phải tuân theo kỷ luật tuyên truyền. Thực tế chế độ kiểm
duyệt đối với báo chí đã được bãi bỏ.
Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến lúc đó, những luật lệ
ban hành về báo chí còn mang tính đối phó với những hình thức đặc biệt
trước mắt, chưa được toàn diện, còn chưa đầy đủ về nội dung cũng như
phương diện pháp lý.
* Giai đoạn 1954-1959
Đến cuối năm 1956 ở nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có 29 tờ báo ra hàng
ngày và hàng tuần (trong đó báo của tư nhân là 9) và 22 tạp chí, đặc san.
Trước đòi hỏi mới của tình hình, Chủ tịch nước đã ký sắc lệnh số 282 ngày
14.12.1956 về chế độ báo chí. Sau khi được Quốc hội thông qua, sắc lệnh
này trở thành Luật số 100/SL-L.002 ngày 20.5.1957 quy định chế độ báo
chí. Đây là đạo luật đầu tiên riêng cho báo chí của Nhà nước dân chủ nhân
dân ở Việt Nam. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số

mà Uỷ ban kế hoạch Nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền chưa công
bố".
Năm 1962, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành những văn bản mới về công
tác này, Nghị định số 69/CP ngày 14.6.1962 quy định những vấn đề thuộc
phạm vi bí mật nhà nước và trách nhiệm trong việc giữ gìn bí mật nhà nước.


Thông tư số 67/Ttg ngày 20.6.1962 quy định biện pháp, tổ chức giữ gìn bí
mật nhà nước, những quy định này nhằm khắc phục tình hình "việc giữ gìn
bí mật của nhà nước còn có nhiều sơ hở, thiếu sót" và "có quan hệ trực tiếp
đến an ninh của Tổ quốc, đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc, đến tính mạng và tài sản của nhân dân". Ở đây quy định rõ trách nhiệm
lập danh mục những vấn đề thuộc các ngành, các cấp trong phạm vi trách
nhiệm công tác của mình, cần quy định cụ thể và ghi thành danh mục những
vấn đề thuộc phạm vi bí mật nghiệp vụ. Danh mục những vấn đề thuộc
phạm vi bí mật của nhà nước do Hội đồng Chính phủ phê duyệt, Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ phê
duyệt. Những danh mục này phải được thông tin cho tất cả cán bộ phụ trách
có trách nhiệm và cán bộ có liên quan để biết và giữ gìn bí mật".
Trong tình hình Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 147 ngày 2.8.1966 về việc giữ gìn
bí mật trong công tác thông tin tuyên truyền trên báo chí, đài phát thanh, đài
truyền hình. Thông tư đánh giá: "Việc giữ gìn bí mật nhà nước trong thời
bình đã rất quan trọng, trong thời chiến lại càng quan trọng. Tuy nhiên, lác
đác ở trên báo chí (kể cả nội san, tập san), đài phát thanh, truyền thanh vẫn
còn để lộ tin tức, tài liệu bí mật. Sở dĩ có tình hình ấy là do ý thức cảnh giác
của những người có trách nhiệm chưa đầy đủ, mặt khác do tổ chức để đảm
bảo bí mật chưa chặt chẽ.
Chúng ta biết rằng kẻ địch luôn luôn tìm mọi cách để khai thác những sơ hở
của ta trên báo chí, đài phát thanh. Chúng coi đó là một nguồn thu thập tin

điện ảnh được phát triển và không ngừng nâng cao về trình độ chính trị, tư
tưởng và nghệ thuật nhằm hướng dẫn dư luận xã hội, giáo dục chính trị văn
hoá, khoa học, kỹ thuật và động viên toàn dân ra sức thi đua xã hội chủ
nghĩa".
Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra sự thống nhất trong
nhận thức và hành động của toàn xã hội về chức năng, nhiệm vụ của báo chí,
đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thông tin báo chí ở
nước ta. Điều 67 của Hiến pháp 1980 còn quy định quyền tự do ngôn luận,
tự do báo chí của công dân và xác định giới hạn thực hiện quyền tự do báo


chí, tự do ngôn luận của công dân, cụ thể là việc thực hiện các quyền đó phải
"phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân".
Để đảm bảo quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí trong điều
kiện kinh tế thị trường, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân
dân, ngày 28-12-1989 Quốc hội thông qua Luật báo chí để thay thế Luật số
100/SL -SL002 năm 1957 về chế độ báo chí. Sự ra đời của Luật Báo chí
đánh dấu bước phát triển quan trọng trong hoạt động xây dựng pháp luật về
báo chí ở nước ta, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với
hoạt động báo chí.
Ngày 2.1.1990 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký lệnh công bố Luật Báo
chí của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thay thế Luật Báo chí từ
năm 1957. Luật Báo chí năm 1990 phản ánh những thay đổi trong tình hình
và nhiệm vụ của đất nước. Từ hoàn cảnh đất nước còn chia làm hai miền với
nhiệm vụ xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải
phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, nước ta đã bước vào giai đoạn mới:
cả nước cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện đường lối đổi mới toàn
diện do Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đề ra.
* Giai đoạn 1990 đến nay
Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở kết thừa các bản hiến pháp trước đã quy định

chủ quản báo chí theo tinh thần Chỉ thị số 22/CT-TƯ ngày 17-10-1997 của
Bộ Chính trị, theo đó cơ quan chủ quản phải chịu trách nhiệm về mọi mặt
quản lý và chỉ đạo chặt chẽ báo chí, xuất bản của cấp mình, ngành mình, đơn
vị mình. Cơ quan chủ quản phải cùng với tổng biên tập chịu trách nhiệm
trước pháp luật trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mình (Điều 28 xử
lý vi phạm).
- Về chính sách tài chính đối với báo chí (Điều 17c). Đây cũng là một điểm
mới. Luật sửa đổi quy định rõ Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngân sách và
tạo điều kiện cho báo chí phát triển; cơ quan chủ quản phải bố trí nguồn tài
chính cần thiết; báo chí được nhận tài trợ tự nguyện; được tổ chức hoạt động
kinh doanh, dịch vụ phù phù hơp với chuyên môn, nghiệp vụ của mình;
được hưởng ưu đãi về thuế, về phí; cơ quan báo chí phải thực hiện chế độ


kiểm toán, thống kê, tài chính.. Luật sửa đổi cũng quy định Nhà nước có
chính sách hỗ trợ cho việc xuất bản và phát hành báo chí đến với nhân dân
những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đến với cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài.
- Về quản lý nhà nước. Luật sửa đổi cụ thể hơn nhiều so với Luật báo chí
năm 1989, cho đồng bộ với hệ thống văn bản pháp luật khác và nâng cao
tính khả thi. Ngoài những điều nói trên, một điểm mới đáng chú ý là những
quy định thành lập thanh tra chuyên ngành về báo chí (Điều 17d), về việc
thành lập cơ quan đại diện, cơ quan thường trú của báo chí (Điều 19a).
Nhằm nâng cao hiệu lực của pháp luật, đưa công tác quản lý nhà nước cũng
như hoạt động báo chí ngày càng phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.
Luật sửa đổi đã hoàn chỉnh Điều 18 về Xử lý vi phạm. Tinh thần quán xuyến
là cơ quan báo chí vi phạm các quy định của luật thì tuỳ theo mức độ mà bị
cảnh cáo, phạt tiền, thu hồi, tịch thu ấn phẩm, đình bản tạm thời hoặc thu hồi
giấy phép hoạt động; nhà báo có thể bị xử lý kỷ luật, thu hồi thẻ nhà báo;
ngoài ra còn chịu trách nhiệm theo luật dân sự và truy cứu trách nhiệm hình

sẽ khảo sát quy định của pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước trong lĩnh
vực báo chí theo nội dung quản lý nhà nước được quy định tại Điều 17 Luật
báo chí sửa đổi và thực tiễn áp dụng.
2.2.1. Hệ thống các văn bản quy định việc xây dựng chiến lược, quy
hoạch, phát triển báo chí
Trong các hoạt động quản lý nhà nước đối vói báo chí, việc hoạch định, quy
hoạch hệ thống báo chí có một vị trí cực kỳ quan trọng. Để quản lý và tăng
cường quản lý nhà nước đối với báo chí, các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành các văn bản quy định chung về nội dung này như: Quyết
định số 60/HĐBT ngày 06/06/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về
quản lý hoạt động báo chí, xuất bản, Nghị quyết số 384 - HĐBT ngày
05/11/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về tăng cường quản lý công tác báo chí,
xuất bản, Thông tư số 95-TT/BC ngày 05/12/1992 của Bộ trưởng Bộ VH-TT
hướng dẫn thi hành Nghị định 133-HĐBT về quy định chi tiết thi hành Luật
Báo chí.


Theo đó, Bộ Văn hoá - Thông tin có nhiệm vụ giúp Chính phủ xây dựng
chiến lược thông tin báo chí của nước ta, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển
sự nghiệp báo chí, kế hoạch trang bị kỹ thuật cho báo chí toàn quốc, kế
hoạch đầu tư ngân sách, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí. Tất cả
những dự án này sau khi được Chính phủ phê duyệt mới được triển khai trên
thực tế.
Ở địa phương cũng vậy, sở Văn hoá - Thông tin là cơ quan giúp Uỷ ban nhân
dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng quy hoạch hoạt
động báo chí địa phương theo hướng dẫn của Bộ Văn hoá - Thông tin. Quy
hoạch báo chí của địa phương phải được sắp xếp phù hợp với quy hoạch
tổng thể báo chí của cả nước.
Trong từng lĩnh vực và đối với các hoạt động báo chí cụ thể, các văn bản
quy phạm pháp luật về nội dung quy hoạch báo chí được các cơ quan có

báo chí và đảm bảo cho báo chí phát triển đúng hướng.
Tuy nhiên, với những yêu cầu đó, qua khảo sát nội dung các văn bản nói trên
có thể thấy rõ: công tác ban hành văn bản pháp quy về quy hoạch báo chí
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của hệ thống báo chí, nội dung các văn bản
còn thiên về những quy hoạch của các cơ quan báo chí cụ thể, thiếu hẳn
những quy định pháp lý chung về quy hoạch báo chí, chưa có văn bản quy
phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao về quy hoạch báo chí, mảng báo chí
đối ngoại còn chưa được quan tâm đúng mức. Chính vì tính chất thiếu và
yếu trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch báo chí
nên không có cơ sở để tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước khác về
báo chí và đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng
báo chí phát triển tràn lan, thiếu quy hoạch tổ chức hiện nay.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status