Triết lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV XVIII (Luận án tiến sĩ) - Pdf 47

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các trường phái triết học thời kỳ Tiên Tần, tư tưởng Đạo gia có nội
dung phong phú, sâu xa và uyên thâm nhất. Bởi vì lần đầu tiên trong lịch sử triết
học Trung Quốc, Đạo gia đã luận bàn về vũ trụ quan và trên cơ sở đó luận giải
các nội dung còn lại trong hệ thống triết học của mình như nhận thức luận, phép
biện chứng và nhân sinh quan. Qua đó cho thấy tư tưởng Đạo gia là hệ thống
triết học hoàn chỉnh, mang tính logic và khái quát cao. Tuy nhiên, đóng góp quan
trọng nhất của triết học Đạo gia vẫn là ở vấn đề nhân sinh, vì mục đích cuối cùng
của Đạo gia không chỉ luận giải những vấn đề mang tính nhận thức mà còn
hướng con người hành động theo Đạo, theo những năng lực vốn có của Đức,
thuận theo những quy luật của tự nhiên nhằm đạt được sự tự do, tự tại, thoát khỏi
sự ràng buộc của thế giới “hữu vi” để đến với thế giới “vô vi” nhằm bình trị xã
hội. Vì vậy, triết lý nhân sinh của Đạo gia đã bàn đến mọi mặt về con người và
xã hội một cách rất đặc sắc và phong phú, từ việc sống đến việc chết, từ việc
phải đến việc trái, đến hư tĩnh, không làm, bản chất con người, đạo làm người,
chế độ chính trị - xã hội,… Trong hệ thống triết học của Đạo gia không có chỗ
nào mà lại không luận bàn vấn đề nhân sinh. Cho nên, nghiên cứu triết lý nhân
sinh của Đạo gia để góp phần hệ thống hoá triết học Đạo gia là một vấn đề mang
tính cần thiết hiện nay.
Mặt khác, triết lý nhân sinh của Đạo gia đã không chỉ có giá trị đối với lịch
sử tư tưởng, văn hoá Trung Quốc và một số quốc gia phương Đông mà còn có
giá trị lý luận và thực tiễn đối với nhân loại ngày nay. Bởi vì, thế giới mà chúng
ta đang sống là thế giới của những thay đổi lớn. Với những thành tựu phi thường
của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, với sự xuất hiện nền kinh tế
tri thức, quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng, đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội biến chuyển không ngừng. Tuy nhiên, loài người ngày nay cũng
đang phải đối mặt trước nhiều thử thách mang tính chất toàn cầu, như: khủng
hoảng kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá; chiến tranh cục bộ với nhiều hình thức
sắc tộc, dân tộc, tôn giáo; nạn khủng bố, bùng nổ dân số, đói nghèo và bệnh tật,

giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra triền miên, hết đấu tranh
giữa Trịnh - Mạc rồi đến Trịnh - Nguyễn phân quyền cát cứ đã mất ngót hàng thế
kỷ. Đứng trước thời cuộc loạn lạc đó của xã hội đã không ít người quyết chí “dùi
mài kinh sử” theo con đường khoa bảng Nho học, bon chen chốn quan trường
với mong muốn góp phần vào khắc phục sự khủng hoảng xã hội, đưa đất nước
trở lại thời kỳ hưng thịnh. Nhưng cũng không ít nhà tư tưởng nhìn thấy sự mục


3
rữa, thối nát của thời đại phong kiến lúc bấy giờ nên họ đỗ đạt khoa bảng nhưng
nhất quyết không chịu ra làm quan hay một số khác lại từ quan lui về ẩn dật,
không chịu làm nô lệ cho cái phi nghĩa, vượt lên mọi đam mê, quyến rũ của danh
lợi, tìm tới đạo nhân sinh của Lão - Trang, tiêu dao cùng trời đất vạn vật. Tiêu
biểu như Nguyễn Trãi (1380 - 1442), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585),
Nguyễn Dữ, Lê Hữu Trác (1720 - 1791),…
Nhìn chung, triết lý nhân sinh của Đạo gia đã ảnh hưởng sâu rộng trong
lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII. Điều đáng tự hào là nhân dân ta
không có ý thức kỳ thị những tư tưởng du nhập từ bên ngoài, ngược lại luôn có
tinh thần kế thừa và phát huy các giá trị tích cực và biến chúng thành tư tưởng
đặc trưng của dân tộc Việt. Cho nên, ngay cả thời kỳ Nho hoặc Phật độc tôn trên
diễn đàn chính trị và hệ tư tưởng vẫn luôn thường trực tinh thần khoan dung với
Đạo gia và xem Nho, Phật, Đạo có cùng chung một nguồn gốc, “Tam giáo đồng
nguyên”. Vì rằng, tất cả những tư tưởng đó đều muốn mưu cầu hạnh phúc, yên
bình cho con người và xã hội.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này không chỉ có ý nghĩa nền tảng nhằm khẳng
định những ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối với lịch sử tư tưởng
Việt Nam trong quá khứ mà còn giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện về
những giá trị cuộc sống và định hướng cho cuộc sống hiện nay; làm phong phú
đời sống tinh thần của con người Việt Nam trong thời đại mới.
Cho nên, với những suy nghĩ trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Triết lý

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đặc biệt là nội dung quy
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất; mối quan hệ biện chứng về tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tính độc lập
tương đối và sức mạnh cải tạo của ý thức xã hội.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp luận mácxít, nghiên cứu liên
ngành, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
gốc, các phương pháp cụ thể như lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp diễn dịch, so sánh đối chiếu, khái quát hoá,…
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, luận án phân tích những nội dung triết lý nhân sinh của Đạo gia thời
kỳ Trung Quốc cổ đại trên một số lĩnh vực cụ thể: quan niệm về con người và
đạo làm người.
Hai là, luận án phân tích ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối với
lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII trên lĩnh vực tư tưởng về con


5
người và đạo làm người thông qua một số nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu, như
Nguyễn Trãi (1380 - 1442), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), Nguyễn Dữ và
Lê Hữu Trác (1720 - 1791).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần hoàn thiện nội dung triết lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh
hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII trên một
số lĩnh vực tư tưởng về con người và đạo làm người thông qua một số nhà tư
tưởng Việt Nam tiêu biểu, như Nguyễn Trãi (1380 - 1442), Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491 - 1585), Nguyễn Dữ và Lê Hữu Trác (1720 - 1791).
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng triết học của Đạo gia đối với lịch sử tư

Trong quá trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh hưởng
của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII đã có nhiều học
giả nghiên cứu công phu để giới thiệu, dịch và chú giải những trước tác của các
nhà triết học Đạo gia và các nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam từ thế kỷ XV XVIII. Trong đó có một số công trình nổi bật sau:
1.1.1. Nhóm tài liệu gốc nghiên cứu về những trước tác của Đạo gia
Tác giả Nguyễn Hiến Lê đã biên dịch và chú giải tác phẩm Lão Tử - Đạo
đức kinh, Trang Tử - Nam hoa kinh, Liệt Tử và Dương Tử. Nguyễn Hiến Lê đã
dịch và chú giải kỹ từng nội dung trong các tác phẩm nhưng với tinh thần vẫn
giữ được cốt cách của các nhà kinh điển Đạo gia và những phần nào tối nghĩa thì
được dịch giả đưa vào hai ba cách chú giải của các học giả đi trước và tùy chỗ,


7
luận thêm ý kiến riêng của mình. Đối với Lão Tử - Đạo đức kinh [84]. Phần thứ
nhất, Nguyễn Hiến Lê đã giới thiệu cuộc đời, tác phẩm của Lão Tử và đặt ra
nhiều vấn đề mà người đời hay tự hỏi như quê quán, tên họ, chức tước, tuổi thọ,
hậu duệ, tác phẩm Đạo đức kinh ra đời khi nào và do ai ghi chép?... Phần thứ hai
là học thuyết, Nguyễn Hiến Lê đã dành nhiều công sức để phân tích về Đạo và
Đức, tính cách và quy luật của Đạo, Đạo ở đời, Đạo trị nước. Phần ba, Nguyễn
Hiến Lê đã dịch nguyên bản Đạo đức kinh với 2 thiên và 81 chương theo lối
phiên âm và dịch nghĩa.
Đối với Trang Tử - Nam hoa kinh [87], ngoài phần dịch tác phẩm, Nguyễn
Hiến Lê đã nghiên cứu khá sâu sắc để giới thiệu về tác giả, tác phẩm cũng như
đánh giá về Nội thiên và Ngoại thiên, ông đưa ra nhiều luận định để xem xét
phần chân ngụy trong tác phẩm, nội dung nào là của Trang Tử viết, nội dung nào
là do người đời sau viết thêm vào, ưu điểm và nhược điểm của tác phẩm. Phần
học thuyết, Nguyễn Hiến Lê đã phân tích nhiều nội dung trong sách của Trang
Tử như vũ trụ và căn bản luận, tri thức luận, chính trị luận, nhân sinh quan,...
Phần còn lại của tác phẩm, Nguyễn Hiến Lê đã dịch nguyên bản sách của Trang
Tử gồm có ba thiên và 33 chương, cuối mỗi chương của mỗi thiên đều có phần

trường tư tưởng trong tác phẩm cũng không nhất quán, vừa đứng trên lập trường
Đạo gia để định hướng cho hệ thống tư tưởng tác phẩm, nhất là dựa vào tư tưởng
truyền thống của Trang Tử để truy cầu tự do, nhưng lại vừa muốn bảo vệ trật tự
Nho gia, muốn hòa hợp giữa Nho và Đạo là nguyên nhân căn bản tư tưởng hỗn
loạn trong Hoài Nam Tử. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm toàn diện thì đây là một
tác phẩm thuộc về hệ thống tư tưởng Đạo gia. Bởi vì, trong hai mươi mốt thiên
của Hoài nam hồng liệt phần lớn điều mang tinh thần triết học Đạo gia.
1.1.2. Nhóm tài liệu gốc nghiên cứu về những trước tác của các nhà tư
tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII
Do bối cảnh phức tạp của lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII nên đã có
nhiều nhà tư tưởng tiêu biểu như Nguyễn Trãi (1380 - 1442), Nguyễn Bỉnh
Khiêm (1491 - 1585), Nguyễn Dữ, Lê Hữu Trác (1720 - 1791),… ít nhiều chịu
ảnh hưởng triết học Lão - Trang, đặc biệt ở triết lý nhân sinh. Hầu như họ đã để
lại những trước tác trên nhiều lĩnh vực như văn học, lịch sử, địa lý, triết học,…
không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn cho chúng ta thấy được bức tranh
sinh động về tư tưởng Việt Nam trong giai đoạn Hậu Lê. Có thể tổng quan một
số tác phẩm của họ có liên quan đến đề tài của luận án như:


9
Người mở đầu và ảnh hưởng lớn đến tư tưởng Việt Nam trong giai đoạn từ
XV - XVIII, đó là Nguyễn Trãi, cuộc đời của ông gắn liền với sự thăng trầm của
lịch sử dân tộc và ngay chính bản thân ông cũng là một câu chuyện bi hài của
lịch sử danh nhân. Tư tưởng nhân sinh của ông chịu ảnh hưởng lớn nhất là Nho
học, nhưng cũng ẩn chứa nhiều tư tưởng nhân sinh của Đạo gia. Vì vậy, nghiên
cứu tư tưởng Nguyễn Trãi đã có một số công trình dịch và chú giải những trước
tác của ông.
Ủy ban Khoa học xã hội, Viện Sử học đã cho xuất bản tác phẩm Nguyễn
Trãi toàn tập [192]. Đây là bộ sách hoàn chỉnh về cuộc đời, sự nghiệp và những
trước tác của Nguyễn Trãi do hai nhà sử học lớn của Việt Nam là Đào Duy Anh

Bỉnh Khiêm [75] của Đinh Gia Khánh chủ biên, Hồ Như Sơn phiên âm giới thiệu
và tuyển chọn 161 bài thơ Nôm; Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập 1 - Bạch Vân
quốc ngữ thi tập [106] của Bùi Văn Nguyên phiên âm giới thiệu 177 bài thơ
Nôm; Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, Tập 1 [116] do Nguyễn Tá Nhí chủ biên,
phần thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã phiên âm giới thiệu 176 bài thơ
Nôm; Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng tập [2], phần khảo thơ Nôm do Phạm
Văn Ánh thực hiện và giới thiệu 152 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Đại Việt sử ký toàn thư [68] là một thành tựu của nền văn hóa Đại Việt.
Công trình này được biên soạn bởi nhiều nhà sử học nổi tiếng của nước ta, kéo
dài từ Lê Văn Hưu đời Trần, qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê
sơ, đến Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê Trung Hưng. Tác phẩm này được Viện
Khoa học xã hội Việt Nam dịch đúng nguyên bản theo bản in từ ván khắc năm
Chính Hoà 18 (1697), bản in Nội các quan bản. Trong tác phẩm gồm quyển thủ
24 quyển, chia thành 2 phần: Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư gồm 5 quyển viết
từ thời kỳ Hồng Bàn đến loạn 12 sứ quân; Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư gồm có
19 quyển viết từ kỷ nhà Đinh đến năm 1675.
Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789) [121], dịch và khảo chứng: Ngô Thế
Long, Nguyễn Kim Hưng; Nguyễn Đổng Chi hiệu đính. Đây là bộ sử được biên
soạn bởi nhiều tác giả như: Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn, Vũ Miên, Ngô Thì Sĩ,
Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Nguyễn Sá. Nội dung cuốn lịch sử này ghi lại
những diễn biến của triều đại Hậu Lê, từ đời Lê Hy Tông (1676) đến đời ông vua
cuối cùng của triều Lê - Lê Chiêu Thống (1789). Nhiều nhà sử học cho rằng Đại
Việt sử ký tục biên là một trong ba bộ sử có giá trị của Đại Việt ta, bộ sử này như
là phần tiếp nối cuốn Đại Việt sử ký toàn thư.
Trước tác Hải Thượng y tông tâm lĩnh, 2 tập [195, 196] của Lê Hữu Trác là
tài sản vô giá của nền y học cổ truyền Việt Nam. Tác phẩm gồm 28 tập, 66
quyển, bao gồm lý, pháp, phương, dược và biện chứng luận trị về nội khoa,


11

tâm nghiên cứu với các công trình điển hình trên những nội dung sau:


12
1.2.1. Tài liệu nghiên cứu về điều kiện và tiền đề hình thành triết lý nhân
sinh của Đạo gia
Nhà triết sử Trung Quốc Hồ Thích đã nghiên cứu biên soạn công phu tác
phẩm Trung Quốc triết học sử [147]. Trong thiên II, thời kỳ thai nghén triết học
Trung Quốc và các tư tưởng đương thời. Tác giả đã làm rõ thời đại kinh tế, chính
trị - xã hội trên bốn nội dung lớn. Một là, thời đại Xuân Thu - Chiến Quốc, chiến
tranh trường kỳ làm cho nhân dân Trung Quốc tử vong táng loạn lưu ly thất sơ
thống khổ vô cùng. Thứ hai, do sự thay đổi về chính trị - xã hội đã dẫn đến các
giai cấp trong xã hội phong kiến “dần dần tỏa diệt”. Đây chính là sự phân hóa
giai cấp quyết liệt trong xã hội lúc bấy giờ. Thứ ba, tác giả khẳng định rằng sự
“tỏa diệt” giai cấp cũ cũng đồng thời xuất hiện một giai cấp mới với đời sống
kinh tế có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự chênh lệch giàu nghèo quá đổi đã dẫn
đến quan lại sống vô cùng xa xỉ nhưng nhân dân lao động lại cùng cực. Thứ tư,
tác giả cũng khẳng định, trừ một vài quốc gia, còn lại là những vương triều có
nền chính trị đen tối mục nát.
Kế đến, Hồ Thích phân tích các tư trào triết học, trong đó tác giả khẳng
định rằng, chính thực tiễn của lịch sử xã hội trên đã làm xuất hiện nhiều trường
phái triết học. Mỗi tư trào ra đời đều phản ảnh hiện thực xã hội lúc bấy giờ,
nhưng có phái với tư tưởng ưu thời, có phái bất lực yếm thế; có phái túng dục,
phóng lảng; có phái kịch liệt, bất bình, phẩn nộ với hiện thực xã hội.
Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê đã biên soạn Đại cương triết học Trung Quốc,
gồm 2 tập [16, 17]. Trong tập 1, phần thứ nhất, vài nét sơ lược về sự phát triển
của triết học Trung Hoa, tác giả làm rõ sự thay đổi về điều kiện kinh tế, chính trị
- xã hội của thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã dẫn tới nhiều “phong trào lập thuyết
để cứu thế mới” xuất hiện và phát triển. Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở phần
đại cương, phân tích chung cho sự xuất hiện các trường phái mà chưa đi sâu

trào chính: một là, hệ thống triết học Khổng Nho đại diện cho giai tầng trung
lưu, nhập thế; hai là, hệ thống triết học Mặc gia đại diện cho quyền lợi bình dân,
nhập thế và ba là, hệ thống Dương Chu của phái ẩn dật phản đối chế độ xã hội,
có khuynh hướng cách mạng triệt để, suy tôn cá nhân tự do và thiên về thần bí,
siêu nhiên, xuất thế.
Bùi Thanh Quất với tác phẩm Lịch sử triết học [123]. Trong phần thứ hai,
chương 2, triết học Trung Quốc cổ đại - trung đại. Tác giả đã làm rõ tư tưởng
triết học phôi thai trong Hồng Phạm, tư tưởng triết học Bát quái với Âm - Dương
trong Kinh Dịch là những tiền đề tư tưởng - lý luận cho sự phát triển triết học
Trung Quốc trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc. Mặt khác, tác giả cho rằng,
chính trong sự chuyển biến sôi động ấy của xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc,


14
hàng loạt các vấn đề xã hội, triết học, đã được đặt ra, buộc các nhà tư tưởng
đương thời phải quan tâm dẫn đến hàng loạt các trường phái triết học ra đời và
trong đó có trường phái Đạo gia.
Với tác phẩm Các bài giảng về tư tưởng phương Đông - Tư tưởng Nho gia
và Lão - Trang [67] của Trần Đình Hượu. Tác giã cho rằng, Xuân Thu mở đầu
quá trình tan rã của chế độ nô lệ vì sự xuất hiện ruộng đất tư hữu công thương
nghiệp tư nhân, tư gia giàu có hơn công thất, chiến tranh kiêm tính, sự tiêu diệt
các nước nhỏ, thành lập nước lớn và xu thế cai trị kiểu mới đã dẫn đến sự ra đời
của kẻ sĩ quân tử và tư tưởng hiền nhân. Từ đó tác giả cho rằng, do đấu tranh
quyết liệt và sự phát triển tư tưởng huy hoàng thời Chiến Quốc. Đây là sự tan rã
đại quy mô của chế độ nô lệ. Chế độ phong kiến hình thành từng bước bởi vì
kinh tế phát triển với quy mô rộng lớn, sâu sắc và gấp rút; về chính trị những vấn
mới đòi hỏi phải giải quyết và những biến pháp triệt để. Chính trong bối cảnh đó
làm cho tư tưởng học thuật nở rộ hình thành nên “Bách gia tranh minh”, trong đó
có trường phái Đạo gia.
Lịch sử triết học Trung Quốc [78, 79], gồm 2 tập của Phùng Hữu Lan.

cuộc đời và sự nghiệp cũng như trước tác của các triết gia tiêu biểu Đạo gia.
Ngoài ra còn có nhiều tác phẩm cũng đề cập đến vấn đề này như:
Trần Văn Hải Minh đã biên soạn tác phẩm Bách gia chư tử - Các môn phái
triết học dưới thời Xuân Thu - Chiến Quốc [95]. Trong cuốn sách này, phần II,
thân thế Bách gia chư tử, tác giả đã phân tích sâu về cuộc đời và sự nghiệp của
Lão Tử, Trang Tử và những người trong phái Đạo gia. Phần IV, Lược khảo các
tác phẩm của Bách gia chư tử, ở trường phái Đạo gia tác giả đã lược khảo tác
phẩm của Lão Tử, Trang Tử, Quản Tử, Thái Công, Bật Tử, Văn Tử, Quan Doãn
Tử, Liệt Tử, Hạc Quan Tử và các sách thất lạc.
Tác phẩm Sử ký [150] của Tư Mã Thiên (Phan Ngọc dịch) là bộ sách có giá
trị đặc biệt không chỉ đối với lịch sử dân tộc Trung Quốc mà còn có ý nghĩa lớn
đối với văn hoá thế giới. Tư Mã Thiên viết Sử ký từ năm 109 - 91 Trước CN, sau
khi đã chu du khắp thiên hạ, tìm tòi những sử liệu đáng tin cậy và viết lại những
điều mà ông đã mắt thấy, tai nghe về lịch sử dân tộc Trung Quốc kéo dài hơn
2500 năm từ thời Hoàng Đế thần thoại đến thời kỳ ông sống. Vì vậy, đây là bộ
sử có tính khoa học, tính khách quan và tính khái quát rất cao, cho nên đã trở
thành bộ sử có tính hệ thống đồ sộ đầu tiên trên thế giới. Thông qua tác phẩm
này, người đời sau như nhìn thấy một bức tranh sinh động về lịch sử Trung Quốc
cổ đại, về những nhân vật khác nhau và những sự việc khác nhau, về cuộc đời,
sự nghiệp và học thuyết của những nhà tư tưởng vĩ đại trong giai đoạn này của
lịch sử Trung Quốc. Với ý nghĩa đó, khi nghiên cứu về triết học Đạo gia thì


16
chúng ta cũng tìm thấy Truyện Lão Tử và Truyện Trang Tử trong sách của Thái
sử Tư Mã Thiên.
Nhà triết sử Trung Quốc, Hồ Thích với tác phẩm Trung Quốc triết học sử
[147]. Trong thiên III, VII và IX, tác giả đã giới thiệu và phân tích cuộc đời, sự
nghiệp và trước tác của Lão Tử, Dương Chu và Trang Tử. Hồ Thích khẳng định
rằng, các triết gia Đạo học đều là những ẩn sĩ, chúng ta chỉ biết đến họ thông qua

về triết lý, nhân sinh và nhân sinh quan.
Cuốn Từ điển triết học [170] của Cung Kim Tiến đã được biên soạn công
phu và đồ sộ về triết học phương Tây và phương Đông. Vì vậy, ngoài phần giải
thích đúng nội hàm những khái niệm triết học thông thường như nhân sinh là gì,
nhân sinh quan là gì,… thì tác giả còn đi sâu giải thích một số thuật ngữ của triết
học phương Đông như “Đạo”, “Đức”, “Vô vi”,… của trường phái Đạo gia. Mặt
khác, cũng như cuốn từ điển của Trần Văn Hiến Minh, tác giả đã làm rõ nhiều
thuật ngữ triết học cổ, triết học kinh viện, triết học cận đại và hiện đại.
Doãn Chính đã nghiên cứu và biên soạn công phu tác phẩm Từ điển triết
học Trung Quốc [21]. Trong cuốn sách này, tác giả đã không chỉ làm rõ nội hàm
những khái niệm triết học Trung Quốc mà còn đi sâu phân tích những tư tưởng
của các triết gia, trường phái triết học, tác phẩm và hệ thống hóa quan điểm tư
tưởng thông qua các thuật ngữ, khái niệm, phạm trù triết học Trung Quốc theo
chiều dài phát triển lịch sử triết học từ thời cổ đại đến hiện đại của Trung Quốc.
Trong tác phẩm này, không ít nội dung tác giả đã giải thích những khái niệm,
danh từ, phạm trù, tư tưởng của Đạo gia như “Đạo”, “Đức”, “Đạo đức kinh”,
“Nam hoa kinh”, “Lão Tử”, “Dương Chu”, “Trang Tử”,… Tóm lại, tác giả đã
giải thích nhiều khía cạnh tư tưởng triết học Đạo gia. Cho nên, cuốn sách này
không chỉ đơn thuần là cuốn từ điển triết học mà còn là cuốn lịch sử triết học
Trung Quốc.
Trong bài viết Văn hóa, triết lý và triết học [58] của Lương Đình Hải đã
làm rõ được nội hàm khái niệm về triết lý. Tác giả cho rằng, trong các triết lý đã
thể hiện những quan niệm khác nhau về các yếu tố cơ bản và các mặt hoạt động
sống của con người: vị trí con người, các quan hệ xã hội, đời sống tinh thần và
các giá trị của cuộc sống con người. Những quan niệm ấy ẩn chứa bên trong các
nội dung, chương trình phương thức hoạt động chung của xã hội và được cụ thể
hóa bằng những quan niệm cụ thể hơn, định hướng cho hoạt động của các cá
nhân và cộng đồng.
Vũ Minh Tâm với bài viết Triết lý truyền thống ở Việt Nam về vũ trụ [133]
đã chỉ rõ vai trò của triết lý đối với đời sống của con người. Tác giả đã cho rằng,

Trang rồi từ Trang qua Lão và Thịnh suy có thời; chương VIII - Vô bị, mục Chủ
trương của Lão; chương XI - Quốc gia lý tưởng, mục Lý tưởng của Mặc, Lão và
Pháp các tác giả bàn về tư tưởng chính trị, xã hội của Đạo gia.
Tác phẩm Lão Tử [172] của Ngô Tất Tố là một công trình chuyên sâu
nghiên cứu về hệ thống triết học của Lão Tử. Trong tác phẩm, ngoài phần phân


19
tích về vũ trụ quan; vô với hữu; luật tự nhiên; chủ nghĩa vô vi của Lão Tử, tác
giả đã làm rõ nhân sinh quan của Lão Tử như: Quan niệm về nhân sinh; phép xử
thế; phép dưỡng sinh; Lão Tử với đạo đức, luân lý; Lão Tử với chiến tranh; lý
tưởng quốc gia của Lão Tử.
Lịch sử triết học phương Đông [166] là một công trình nghiên cứu đồ sộ
của Nguyễn Đăng Thục. Đối với triết học Trung Hoa, tác giả đã dành nhiều
chương trong phần II - Trung Hoa thời kỳ hoàn thiện triết học để trình bày triết
học Đạo gia, như chương XI - Triết lý ở Đạo đức kinh, chương XII - Trang Tử
với Lão học hoàn thành; chương XIII - Triết học Trang Tử; chương XIV - Thế
giới thuần túy kinh nghiệm; chương XV - Quan niệm về hạnh phúc; chương XVI
- Triết lý chính trị của Trang Tử.
Với tác phẩm Các bài giảng về tư tưởng phương Đông - Tư tưởng Nho gia
và Lão - Trang [67] của Trần Đình Hượu. Trong tác phẩm này, không ít chương
tác giả đã giảng sâu về tư tưởng triết học Lão - Trang và Dương Chu. Trong
chương 3, tiết một, tác giả phân tích tư tưởng triết học Dương Chu chống Nho
giáo với các nội dung: Từ ẩn sĩ đến Đạo gia; vị ngã chống cứu thế như quan
niệm con người của phái vị ngã, nội dung lý luận của phái vị ngã; toàn tính bảo
chân; bất dị vật luỵ hình; “vị ngã” phá hoại ý thức hệ Tây Chu. Trong tiết thứ tư,
tác giả đã phân tích về triết học Trang Tử như: Vấn đề triết học Trang Tử; Tề vật
luận; chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Trang Chu. Đặc biệt, tác giả đã phân tích
đạo làm người của Trang Tử như Thánh nhân vô kỷ; tiêu dao du tìm tự do tuyệt
đối, với các nội dung: ly hình khứ trí, hoà với đại thông; xử thế thuận theo đạo

Tử là học thuyết vô vi trong các vấn đề sống, chết, tự do, bình đẳng và hạnh
phúc tuyệt đối.
Tác phẩm Tư tưởng triết học của Trang Tử trong Nam hoa kinh [103] của
Cung Thị Ngọc đã bàn nhiều khía cạnh khác nhau về nhân sinh quan của Trang
Tử, như: Quan niệm về đời người và sự sinh tử; quan niệm về con người và xã
hội, về lý tưởng cuộc sống; phương pháp bảo toàn cuộc sống và tác giả cho rằng,
Trang Tử đã đưa ra quan niệm về bản chất của sự sống, ý nghĩa cuộc sống, sự
hữu hạn của đời người, về tự do,... rất độc đáo và nhân văn. Qua đó, ông đã đưa
đến cho con người những triết lý cuộc đời, cách đối nhân xử thế và điều đó có ý
nghĩa nhất định trong những hoàn cảnh đặc biệt của mỗi cá nhân.
Ngoài ra, còn nhiều công trình lớn khác nghiên cứu về triết lý nhân sinh
của Đạo gia như, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu [65]
của Cao Xuân Huy; Trang Tử Tinh hoa [10] của Nguyễn Duy Cần; Trang Tử
Tâm Đắc (Bản dịch của Lê Tiến Thành và Dương Ngọc Hân) [32] của Yu Dan;


21
Lịch sử triết học Trung Quốc [78, 79], gồm 2 tập của Phùng Hữu Lan (Lê Anh
Minh dịch); Lịch sử triết học [123] của Bùi Thanh Quất; Từ Lão - Trang đến
Đạo giáo [198] của Lê Xuân Vũ; Lịch sử triết học [199] của Nguyễn Hữu Vui;
Nho giáo Trung Quốc [111] của Nguyễn Tôn Nhan;…
1.4. Tài liệu nghiên cứu ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối
với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII
Đứng trước thời cuộc rối ren, hôn quân loạn tặc, cường hào ác bá, mầm
mống thoái trào của xã hội phong kiến đang lớn dần và nổi đau cùng quẩn của
nhân dân cứ kéo dài trong lòng xã hội nên có không ít các nhà tư tưởng, nhân sĩ
trong giai đoạn lịch sử này đã “lánh đục tìm trong”, cáo quan về ở ẩn và mang
đậm tư tưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia. Vấn đề này có nhiều học giả nghiên
cứu với các công trình liên quan đến nội dung của luận án sau:
1.4.1. Tài liệu nghiên cứu ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối

Nguyễn Huệ Chi với bài Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhìn từ một nhân cách lịch sử
đến dòng thơ thế sự; Nguyễn Lộc với bài Nhìn nhận lại thực chất thái độ phê
phán của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua thơ văn; N. I .Niculin với bài Vấn đề lý giải
bài thơ “Tăng thử” của Nguyễn Bỉnh Khiêm; Lê Trí Viễn với bài Phân tích bài
thơ “Vịnh khoai lang” và bài thơ “Khôn, đại”; Trần Đình Hượu với bài Triết lý
và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Tác giả Nguyễn Thạch Giang với bài viết Tư tưởng sùng thượng thiên
nhiên của Đạo gia với bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi; Lã Nhâm Thìn với bài
Văn chương Nguyễn Trãi, nhìn từ ảnh hưởng Đạo gia và Vũ Minh Tâm với bài
Từ văn hoá Đạo gia đến triết luận Nguyễn Bỉnh Khiêm được in trong tác phẩm
Đạo gia và văn hoá [44] của Trung tâm Trung Quốc học - Đại học sư phạm Hà
Nội. Các tác giả đều cho rằng, vũ trụ quan và nhân sinh quan của Đạo gia thường
ẩn hiện trong mạng lưới tư tưởng của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ
đó, các ông đã lý giải những vấn đề con người cũng ẩn chứa nhiều nội dung triết
lý nhân sinh của Lão - Trang.
Tư tưởng về con người của Lê Hữu Trác được thể hiện trong tác phẩm Tư
tưởng triết học về con người của đại danh y Lê Hữu Trác - Hải Thượng Lãn Ông
[114] của Phạm Công Nhất đã cho chúng ta thấy cụ thể hơn về một nhà tư tưởng
chịu ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia vào thế kỷ XVIII. Điều này được
tác giả luận bàn ở phần thứ nhất, cơ sở hình thành tư tưởng triết học về con
người của Hải Thượng Lãn Ông và phần thứ hai, một số nội dung trong tư tưởng
triết học của Hải Thượng Lãn Ông về con người. Qua đó, tác giả cho rằng, con
người là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài trong giới tự nhiên, bản chất con


23
người trước hết cũng mang bản chất tự nhiên, vì thế mà con người phải “thuận
theo tự nhiên” để duy trì và tránh được những bệnh tật trong cuộc sống.
Tác phẩm Vấn đề con người trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV XVIII (Qua một số nhà tư tưởng) [30] của Nguyễn Bá Cường. Trong chương 3,
tư tưởng về sự sinh thành con người và tính người; chương 6, tư tưởng về tự

với Trang Tử: “Chí nhân vô kỷ”, “Thần nhân vô công”, “Thánh nhân vô danh”
đã ảnh hưởng khá mạnh đến tầng lớp Nho học thời phong kiến ở Việt Nam để rồi
triều đại phong kiến nào cũng xuất hiện những trí thức ở thời kỳ đầu hết lòng vì
dân, vì nước nhưng khi bị chế độ phong kiến làm cho phải rơi vào cảnh trầm
luân thì họ quay lại với tư tưởng về đạo làm người của Lão - Trang vào cuối đời
như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,...
Trong tác phẩm Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm [128] của Nguyễn Hữu
Sơn tuyển chọn và giới thiệu đã có nhiều bài viết chỉ rõ Nguyễn Trãi chịu ảnh
hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia về đạo làm người như: Nguyễn Thiên Thụ
với các bài: Tư tưởng của Nguyễn Trãi; Thái độ Nguyễn Trãi trong cuộc sống;
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi. Hà Như Chi với bài Luận về Nguyễn Trãi;
Miễn Trai với bài Vài suy nghĩ thêm về thơ văn Nguyễn Trãi; Trần Ngọc Vương
với bài Nhà tư tưởng và nhà nghệ sĩ trong Quốc âm thi tập; Trần Thanh Mại với
bài Vài nét về tư tưởng của Nguyễn Trãi qua thơ văn ông;… Đặc biệt, Lã Nhâm
Thìn với bài Ảnh hưởng Đạo gia trong thơ Nguyễn Trãi, tác giả đã cho rằng,
Nguyễn Trãi phủ định danh lợi không chỉ bằng nhân sinh quan Nho giáo với
nhân nghĩa, đạo trung dung mà còn bằng nhân sinh quan của Đạo gia, lấy cái
huyền ảo Đạo gia để phủ định danh lợi và cái tích cực nhất trong tư tưởng Đạo
gia mà Nguyễn Trãi tiếp thu được là sống hòa hợp với tự nhiên, theo quy luật
của tự nhiên, theo lối “vô vi” của Đạo gia mà có khi còn xuyên thấm cả vào nhân
sinh quan, thế giới quan của ông.
Còn ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối với tư tưởng về đạo làm
người của Nguyễn Bỉnh Khiêm có tác phẩm Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân
am thi tập [76] của Nguyễn Khuê. Trong tác phẩm này tác giả cho rằng, quan
niệm về cuộc đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm có cái nhìn giống Trang Tử, cuộc đời
thật ngắn ngũi, nhân sinh chỉ là một hiện tượng trong vũ trụ, như bóng câu qua
cửa sổ. Vì vậy, đối với cụ Trạng phú quý công danh đều là mộng cả. Thái độ
sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm đó là tư tưởng chấp trung, tồn tâm dưỡng tính,
dưỡng vụng, bất tranh; thản nhiên trước sự sống chết, được mất, cùng thông; tuỳ
thời xuất xử, tuỳ ngộ nhi an; thản nhiên trước thị phi; phê bình hiện thực; phản

sinh của Lão - Trang, cáo quan về ở ẩn, không còn màng đến danh lợi, không
còn lo được mất với đời nhằm ung dung tự do, tự tại theo bãn ngã của cá nhân;
vô vi, vô dục hòa đồng cùng với vạn vật trời đất.
Tư tưởng về đạo làm người của Lê Hữu Trác được thể hiện trong tác phẩm
Tư tưởng triết học về con người của đại danh y Lê Hữu Trác - Hải Thượng Lãn
Ông [114] của Phạm Công Nhất. Điều này được tác giả luận bàn ở phần thứ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status