Triết lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV XVIII (tt) - Pdf 47

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các trường phái triết học thời kỳ Tiên Tần, tư tưởng Đạo gia có
nội dung phong phú, sâu xa và uyên thâm nhất. Bởi vì lần đầu tiên trong
lịch sử triết học Trung Quốc, Đạo gia đã luận bàn về vũ trụ quan và trên cơ
sở đó luận giải các nội dung còn lại trong hệ thống triết học của mình như
nhận thức luận, phép biện chứng và nhân sinh quan. Qua đó cho thấy tư
tưởng Đạo gia là hệ thống triết học hoàn chỉnh, mang tính logic và khái
quát cao. Tuy nhiên, đóng góp quan trọng nhất của triết học Đạo gia vẫn là
ở vấn đề nhân sinh, vì mục đích cuối cùng của Đạo gia không chỉ luận giải
những vấn đề mang tính nhận thức mà còn hướng con người hành động
theo Đạo, theo những năng lực vốn có của Đức, thuận theo những quy luật
của tự nhiên nhằm đạt được sự tự do, tự tại, thoát khỏi sự ràng buộc của thế
giới “hữu vi” để đến với thế giới “vô vi” nhằm bình trị xã hội. Vì vậy, triết
lý nhân sinh của Đạo gia đã bàn đến mọi mặt về con người và xã hội một
cách rất đặc sắc và phong phú, từ việc sống đến việc chết, từ việc phải đến
việc trái, đến hư tĩnh, không làm, bản chất con người, đạo làm người, chế
độ chính trị - xã hội,… Trong hệ thống triết học của Đạo gia không có chỗ
nào mà lại không luận bàn vấn đề nhân sinh. Cho nên, nghiên cứu triết lý
nhân sinh của Đạo gia để góp phần hệ thống hoá triết học Đạo gia là một
vấn đề mang tính cần thiết hiện nay.
Mặt khác, triết lý nhân sinh của Đạo gia đã không chỉ có giá trị đối
với lịch sử tư tưởng, văn hoá Trung Quốc và một số quốc gia phương Đông
mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn đối với nhân loại ngày nay. Bởi vì, thế
giới mà chúng ta đang sống là thế giới của những thay đổi lớn. Với những
thành tựu phi thường của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, với
sự xuất hiện nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng
sâu rộng, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội biến chuyển không ngừng. Tuy
nhiên, loài người ngày nay cũng đang phải đối mặt trước nhiều thử thách
mang tính chất toàn cầu, như: khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội, văn
hoá; chiến tranh cục bộ với nhiều hình thức sắc tộc, dân tộc, tôn giáo; nạn

- Trang, tiêu dao cùng trời đất vạn vật. Tiêu biểu như Nguyễn Trãi (1380 1442), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), Nguyễn Dữ, Lê Hữu Trác (1720
- 1791),…

2


Điều đáng tự hào là nhân dân ta không có ý thức kỳ thị những tư
tưởng du nhập từ bên ngoài, ngược lại luôn có tinh thần kế thừa và phát huy
các giá trị tích cực và biến chúng thành tư tưởng đặc trưng của dân tộc Việt.
Cho nên, ngay cả thời kỳ Nho hoặc Phật độc tôn trên diễn đàn chính trị và
hệ tư tưởng vẫn luôn thường trực tinh thần khoan dung với Đạo gia và xem
Nho, Phật, Đạo có cùng chung một nguồn gốc, “Tam giáo đồng nguyên”.
Vì rằng, tất cả những tư tưởng đó đều muốn mưu cầu hạnh phúc, yên bình
cho con người và xã hội.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này không chỉ có ý nghĩa nền tảng nhằm
khẳng định những ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối với lịch sử tư
tưởng Việt Nam trong quá khứ mà còn giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn
diện về những giá trị cuộc sống và định hướng cho cuộc sống hiện nay; làm
phong phú đời sống tinh thần của con người Việt Nam trong thời đại mới.
Cho nên, với những suy nghĩ trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài:
“Triết lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư
tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII” làm luận án triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những nội dung chủ yếu về triết lý nhân sinh của
Đạo gia, từ đó luận án làm rõ một số ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư
tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, trình bày cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của Đạo gia.
Thứ hai, phân tích nội dung triết lý nhân sinh của Đạo gia.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, luận án phân tích những nội dung triết lý nhân sinh của Đạo
gia thời kỳ Trung Quốc cổ đại trên một số lĩnh vực cụ thể: quan niệm về
con người và đạo làm người.
Hai là, luận án phân tích ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối
với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII trên lĩnh vực tư tưởng
về con người và đạo làm người thông qua một số nhà tư tưởng Việt Nam
tiêu biểu, như Nguyễn Trãi (1380 - 1442), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 1585), Nguyễn Dữ và Lê Hữu Trác (1720 - 1791).

4


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần hoàn thiện nội dung triết lý nhân sinh của Đạo gia
và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV XVIII trên một số lĩnh vực tư tưởng về con người và đạo làm người thông
qua một số nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu, như Nguyễn Trãi (1380 1442), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), Nguyễn Dữ và Lê Hữu Trác
(1720 - 1791).
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng triết học của Đạo gia đối
với lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng
dạy môn triết học và các ngành học có liên quan trong nền giáo dục Đại học
Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tổng quan
tình hình nghiên cứu, nội dung của luận án gồm 3 chương, 7 tiết.

5

am thi tập, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997; Bùi Văn Nguyên (Chọn
dịch, chú thích và giới thiệu), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tập 2 - Thơ
văn chữ Hán, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1989; Bùi Văn Nguyên (phiên âm và
6


giới thiệu), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập 1 - Bạch Vân Quốc ngữ thi
tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1989; Lê Văn Hưu - Ngô Sĩ Liên (Dịch: Ngô
Đức Thọ; Hiệu đính: Hà Văn Tấn), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Lê Hữu Trác, (Viện Y học Dân tộc biên dịch) Hải
thượng Y tông tâm lĩnh, tập 1,2, Nxb Y học, Hà Nội, 2012; Nguyễn Tự
(Dịch giả: Bùi Xuân Trang), Tân biên Truyền kỳ mạn lục, quyển thượng và
hạ, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963;…
Những tài liệu gốc được trình bày ở trên có giá trị cho nghiên cứu
sinh có cơ sở để nghiên cứu sự hình thành triết lý nhân sinh của Đạo gia,
cũng như nội dung triết lý nhân sinh của Đạo gia và sự ảnh hưởng của nó
đối với lịch sử tư tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII.
1.2. Tài liệu nghiên cứu về cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của
Đạo gia
Đạo gia và triết lý nhân sinh của Đạo gia ra đời là một tất yếu của
lịch sử, được quy định bởi những cơ sở khách quan và nhân tố chủ quan của
thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Vấn đề này đã nhiều học giả quan tâm nghiên
cứu với các công trình tiêu biểu: Hồ Thích (Huỳnh Minh Đức dịch), Trung
Quốc triết học sử, Nxb Khai trí, Sài Gòn, 1969; Trần Văn Hải Minh (Biên
soạn), Bách gia chư tử - Các môn phái triết học dưới thời Xuân Thu Chiến Quốc, Nxb Hội nghiên cứu văn học Thành phố Hồ Chí Minh, 1991;
Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Đại cương triết học Trung Quốc, tập 1, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 1992; Tôn Phương Ly (Biên soạn), (Phan Kỳ
Nam dịch), Tả truyện - Bức tranh về cuộc diện liệt quốc, Nxb Đồng Nai,
1995; Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham
chiếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử
triết học phương Đông, tập 1,2 Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997; Ngô

sử Triết học phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012; Lê Xuân
Vũ, Từ Lão - Trang đến Đạo giáo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011;
Cung Thị Ngọc, Tư tưởng triết học của Trang Tử trong tác phẩm Nam Hoa
Kinh, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2016;…
1.4. Tài liệu nghiên cứu ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia
đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII
Trong giai đoạn lịch sử này của dân tộc, các nhà tư tưởng Việt Nam
không chỉ ảnh hưởng về đạo làm người của Nho gia, Phật gia mà còn mang

8


nặng tư tưởng về đạo làm người của Đạo gia. Với nội dung này đã có rất
nhiều nhà nghiên cứu với các tác phẩm tiêu biểu:
Võ Xuân Đàn, Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt
Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1996; Nguyễn Hữu Sơn (Tuyển
chọn và giới thiệu), Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục,
Thành phố Đà Nẵng, 2007; Nguyễn Khuê, Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch
Vân am thi tập, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, (1997); Nguyễn Hữu Sơn
(Biên soạn), Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý thế sự, Nxb Trẻ, Thành
phố Hồ Chí Minh, 2003; Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam,
tập 1-7, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998; Đại học sư phạm Hà Nội,
Trung tâm Trung Quốc học, Đạo gia và văn hoá, Nxb Văn hoá Thông tin,
2000; Phạm Công Nhất, Tư tưởng triết học về con người của Đại danh y Lê
Hữu Trác - Hải Thượng Lãn Ông, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004; Hà
Ngọc Hòa, “Con người nhàn dật, tự tại trong thơ nôm đường luật”, Tạp chí
khoa học, Đại học Huế, tập 72A, số 3 (tr.131-137), 2012; Nguyễn Tài Thư
(chủ biên), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1993; Nguyễn Hùng Hậu, Đại cương lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam,
tập 1, Nxb Thuận Hoá, Huế, 2005; Trần Văn Thuỵ, Đại danh y Lãn Ông và

nghiên cứu:
Thứ nhất, có nhiều bản dịch khác nhau đối với tài liệu gốc, do đó
phải lựa chọn những bản dịch phù hợp nhất nhằm phục vụ tốt cho nội dung
trích dẫn trong luận án.
Thứ hai, đây là một công trình mới, chưa có một học giả nào chuyên
sâu nghiên cứu nên những nội dung trong các công trình trên có liên quan
đến luận án chỉ dừng lại ở tính chất chung, khái quát.
Thứ ba, đến nay chưa có một nhà khoa học nào trình bày đầy đủ khái
niệm triết lý nhân sinh. Vì vậy, nghiên cứu sinh bước đầu đưa ra định nghĩa
về các khái niệm nhằm phân tích nội dung triết lý nhân sinh của Đạo gia.
Thứ tư, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về
nội dung triết lý nhân sinh của Đạo gia.
Thứ năm, triết lý nhân sinh của Đạo gia ảnh hưởng đến lịch sử tư
tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII là khá toàn diện, nhưng có nhiều học
giả chỉ mới đặt ra vấn đề chưa nghiên cứu chuyên sâu.

10


Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA ĐẠO GIA
1.1. Điều kiện và tiền đề hình thành triết lý nhân sinh của Đạo gia
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành triết lý nhân sinh của Đạo
gia
Sở dĩ thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc có những biến đổi sâu sắc trên
tất cả các lĩnh vực là do sức sản xuất phát triển lên một trình độ mới dẫn
đến sự thay đổi bản chất của quan hệ sản xuất với nhiều phương diện như
vấn đề sở hữu, tổ chức và phân phối. Từ đó không chỉ nông nghiệp phát
triển mà còn làm cho ngành sản xuất thủ công nghiệp ngày càng đạt đến sự
chuyên môn hoá cao, dẫn đến hình thành hàng loạt các ngành nghề đa dạng

1.2.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Lão Tử
Cũng giống như các nhà triết ẩn khác, cuộc đời và sự nghiệp của Lão
Tử là một huyền thoại, hết sức phức tạp, có nhiều luận điểm khác nhau,
người đời sau biết nhiều về Lão Tử là qua Sử ký Tư Mã Thiên. Dựa trên
nhiều tài liệu cổ trong thời kỳ Tiên Tần, Tư Mã Thiên đã đưa ra nhiều giả
thuyết khác nhau về tiểu sử của Lão Tử, nhưng cũng không có cái nào chắc
chắn cả. Trải qua hơn hai ngàn năm, thời nào cũng có học giả nghiên cứu về
cuộc đời và sự nghiệp của Lão Tử, nhưng đến nay, Lão Tử là ai? thì có
những câu trả lời chưa thật chính xác.
1.2.1.2. Tác phẩm Đạo Đức kinh
Trước tác của Lão Tử xuất hiện khi nào đến nay vẫn là một câu
chuyện còn nhiều tranh cãi, tất cả kết luận đều là giả sử. Tuy nhiên, các học
giả cho rằng, Lão Tử là người chu du khắc thiên hạ, đọc nhiều, hiểu rộng
nhưng lại “giấu mình, kín tiếng”, khi thấy nhà Chu quá suy, ông quyết định
bỏ đi ở ẩn. Ông để lại duy nhất trước tác có tên Đạo đức kinh với 2 thiên và
81 chương. Với lối diễn đạt ngắn gọn, súc tích, nhiều hình tượng, châm
ngôn, ẩn dụ qua hơn năm nghìn chữ trong Đạo đức kinh đã thể hiện được tư
tưởng triết học Lão Tử vô cùng uyên thâm và đạt tới trình độ “tri bất ngôn,
ngôn bất tri”.
1.2.2. Dương Tử và tác phẩm Liệt Tử - Xung Hư Chân Kinh
1.2.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Dương Chu
Cuộc đời và sự nghiệp của Dương Chu, chúng ta chỉ biết gián tiếp
thông qua một số sách của người đời sau như Mạnh Tử, Nam Hoa kinh, Lã
Thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử và rõ nhất là trong Thiên 7 của sách Liệt Tử.
12


Có nhiều giả thuyết cho rằng, ông ở nước Vệ, tên là Tử Cư, sống vào
khoảng 440 - 380 trước CN, được người đời kính trọng gọi là Dương Tử.
Ông tính tình điềm đạm, không thích làm quan, không thích tranh luận,


đó bao hàm nhiều nội dung, tư tưởng của tác giả về bản thể luận, nhân sinh
quan, nhận thức luận… Ngoài ra, tác phẩm Nam Hoa Kinh còn là một tác
phẩm văn chương bất hủ của lịch sử văn hoá Trung Quốc.
Tiểu kết chương 1
Như vậy, triết lý nhân sinh của Đạo gia ra đời dựa trên những cơ sở
khách quan của lịch sử xã hội thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc. Đó là do đời
sống kinh tế, chính trị xã hội thay đổi đến tận gốc rễ, dẫn đến xã hội nảy
sinh những mâu thuẫn sâu sắc không thể điều hòa được mà đỉnh cao của nó
là những cuộc chiến tranh diễn ra triền miền. Do đó, để cắt nghĩa cho hiện
thực xã hội lúc bấy giờ đã có hàng trăm triết thuyết ra đời, tranh biện lẫn
nhau về thời cuộc. Tư tưởng của các học phái đó vừa đối lập nhau nhưng
vừa thống nhất với nhau ở chỗ, đứng trước sự biến loạn phức tạp của xã
hội, cho nên, “Bách gia chư tử” điều muốn mưu cầu sự bình ổn xã hội, nhân
dân được hưởng cuộc sống thái bình. Triết lý nhân sinh của Đạo gia ra đời
cũng không nằm ngoài mục đích thiết thực đó của cuộc sống.
Chương 2
NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA ĐẠO GIA
2.1. Khái niệm về triết lý nhân sinh
2.1.1. Triết lý
Triết lý là những tư tưởng triết học đã đạt đến trình độ sâu sắc, huyền
diệu, vượt ra ngoài không gian và thời gian vì nội dung của nó thường hàm
chứa tư duy khái quát hóa và trừu tượng hoá cao về vũ trụ, về nhận thức và
nhân sinh. Do đó, nó có thể chỉ dẫn, định hướng cho hành động của mỗi cá
nhân và cộng đồng người ở mỗi thời kỳ nhất định của lịch sử xã hội. Vì vậy,
triết lý là “Cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết hay của một
sinh hoạt, một hiện tượng, một cử chỉ” của Trần Văn Hiến Minh.

14


con người là siêu thiện ác (không thiện không ác), là thuần phác tự nhiên.

15


2.2.3. Quan niệm về sự sống chết của con người
Quan niệm về sự sinh tử của con người, các nhà Đạo gia cũng đứng
trên lập trường của Đạo, xem sự sống chết là theo một quy luật của tự
nhiên, là tình hình cố hữu của vạn vật, con người không thể can dự được. Vì
vậy, các nhà triết học của Đạo gia đều thản nhiên trước sự sống chết và
khuyên con người nên sống tự do, tự tại, lạc quan, khoáng đạt, vui vẻ chấp
nhận cái chết và cũng đừng buồn bã, lo lắng, làm gì trái với quy luật tự
nhiên về sự sống chết của mình. Các nhà triết học của Đạo gia cho rằng,
con người biết dưỡng sinh, thuận theo tự nhiên, giữ lòng thanh thản, ít dục
vọng, ít tham lợi, đừng để ngoại vật làm lụy mình thì con người sẽ trường
thọ, sống trọn tuổi trời.
2.3. Quan niệm về đạo làm người
2.3.1. Quan niệm về “vô vi”
Quan niệm “vô vi” là nội dung đặc sắc, xuyên suốt và quan trọng
nhất trong triết lý nhân sinh của Đạo gia. Vô vi như là một phương thức
hành động, ứng xử của con người trong các mối quan hệ trong đời sống xã
hội. Điều đó cho thấy các nhà triết học của Đạo gia tuy xuất thế nhưng
không vì vậy mà dửng dưng với đời, không màng chính sự, trái lại các ông
rất quan tâm đến nhân tình thế thái. Họ đề xuất học thuyết vô vi nhưng tất
cả vạn sự vạn vật, kể cả con người phải theo đạo “vô vi nhi vô bất vi”, có
nghĩa là không làm nhưng không gì là không làm, không làm gì trái với quy
luật của tự nhiên, trái với bản tính tự nhiên của vạn vật; làm cho mọi vật
được tự do, bình đẳng sống thuận theo Đạo, vận hành theo đúng cái Đức để
hướng đến bình ổn đích thực cho thiên hạ.
2.3.2. Quan niệm về khiêm nhu và bất tranh

còn hoài” và vừa đúng với thiên tính của mình lại vừa phù hợp với đại Đạo.
2.3.4. Quan niệm về tự do, bình đẳng và hạnh phúc tuyệt đối
Theo Đạo gia, nếu vật nào sống đúng với Đạo, vận hành theo đúng
Đức và không chịu tác động bởi một sự vật, một định kiến nào bên ngoài,
coi thiện, ác, quý, tiện, hữu dụng, vô dụng, thị, phi, tốt, xấu... đều đồng
nhất, không có sự phân biệt, không mang tư tưởng nhị nguyên đó là chủ
trương bình đẳng tuyệt đối. Vạn vật được sống theo thiên tính của mình,
không cái gì can thiệp vào sự vận hành và phát triển của chúng thì đó là tự
do tuyệt đối. Tự do và bình đẳng tuyệt đối lại có mối quan hệ khắn khít với
nhau, làm thành nền tảng trong nhân sinh hạnh phúc tuyệt đối của Đạo gia.
17


2.3.5. Quan niệm về vị ngã, quý sinh
Triết thuyết Đạo gia ra đời trong bối cảnh lịch sử hết sức loạn lạc
“trên hôn quân, dưới đạo tặc”. Đã có nhiều học phái ra đời với những chủ
thuyết khác nhau nhằm cứu vãn tình hình của xã hội lúc bấy giờ nhưng kết
quả đều thất bại. Cho nên, không thể cứu đời được, những ẩn sĩ Đạo gia đã
chủ trương “vị ngã”, “quý sinh”. Đây là tư tưởng nhân sinh quan mới mẻ,
độc đáo đã làm cho triết học Đạo gia vượt lên hẳn quan niệm truyền thống
của xã hội thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc. Nhưng làm thế nào để “vị ngã”,
“quý sinh”, bảo toàn được thân mệnh và cuộc sống của mình. Các nhà Đạo
gia cho rằng, con người phải “vô vi”, “tri mệnh”, “vô dục” và “bất tranh”,
nghĩa là phải thuận theo quy luật của tự nhiên, phải biết mình, hiểu mình,
không tranh giành, không ham muốn, đừng để ngoại vật làm luỵ mình,
không hám danh, cầu lợi và như thế là thuận theo bản tính tự nhiên của
mình mà không trái với Đạo.
2.3.6. Quan niệm về vô dục và tri túc
Theo Đạo gia, vô dục được hiểu không phải không ham muốn gì cả
mà không ham muốn những cái gì vượt ra ngoài khuôn khổ nhu cầu tối

không đúng với Đạo, không thuận theo tự nhiên, mất đi bản tính thuần phác
của mình, thay vào đó là ngoại vật lấn át làm cho con người có tâm dục, tư
lợi, mưu toan mà tranh đoạt, chém giết lẫn nhau. Vì vậy, Đạo gia chủ trương
“Vô vi nhi trị”, Đạo gia đã kịch liệt phản đối việc trị dân bằng thể chế nhà
nước, bằng sự áp đặt của các chuẩn mực nhân, lễ, nghĩa và pháp luật; phản
đối về “tự do”, “bình đẳng” của phái “hữu vi”. Đạo gia hướng đến chủ trương
nước nhỏ, dân ít, không dùng hình pháp, không dùng luật pháp, cứ để cho
muôn dân tự do với bản tính hồn nhiên chất phác, không nên can thiệp, uốn
nắn đời sống của họ, thuận theo tự nhiên để bình trị xã hội.
Tiểu kết chương 2
Như vậy, học thuyết “vô vi” là nội dung trọng tâm trong triết lý nhân
sinh của Đạo gia, thể hiện đạo làm người trong nhân quần xã hội và giữa
con người với thế giới tự nhiên. Đạo gia chủ trương con người nên “khinh
vật quý sinh”, “vô dục” và “tri túc” vui sống hòa đồng với tự nhiên để
hưởng trọn tuổi trời. Mà để trường thọ thì con người phải biết thuật dưỡng
sinh, đó là để tâm mình hư tĩnh, không còn buồn lo, giận hờn, bực bội, ghen
tức, ham muốn; không thái quá, cũng không bất cập, hiểu được quy luật vận
19


hành của vạn sự vạn vật để trở về hoà hợp với Đạo. Từ đó Đạo gia hướng
con người vào hành động “vô vi”, đề cao đức khiêm nhu và bất tranh, dĩ
đức báo oán và công thành thân thoái để đạt tới sự tự do, bình đẳng và hạnh
phúc tuyệt đối. Trong chính trị - xã hội thì Đạo gia chủ trương nên “vô vi
nhi trị”, tức là việc trị dân không phải bằng thể chế nhà nước, pháp luật mà
để dân tự do theo quy luật tự nhiên, không nên can thiệp, uốn nắn đời sống
của họ, thuận theo tự nhiên để bình trị xã hội.
Chương 3
ẢNH HƯỞNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA ĐẠO GIA
ĐỐI VỚI LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV - XVIII

màng đến danh lợi, thị phi, được mất nữa.
3.1.3. Thản nhiên trước sự sống chết của con người
Đối với Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hữu Trác xem việc
sống chết của con người cũng do tạo hóa, là lẽ sinh tử vốn có của trời đất.
Các ông cũng nhận thức đời người như các nhà triết học Đạo gia, con người
là một sinh linh nhỏ bé trong cái vũ trụ bao la, chỉ là một hạt cát trong sa
mạc mênh mông, như giọt nước trong đại dương, đời người thật ngắn ngủi
mà vạn vật thì vô tận. Vì vậy, theo họ, con người không thể làm trái với đạo
tự nhiên được mà phải sống thuận theo tự nhiên để được cảm nhận những
cái chân lý của tự nhiên. Từ đó, các ông cho rằng sống chết như nhau, như
là một quy luật vơi đầy của trời đất, con người không cưỡng lại được, con
người nên thản nhiên, lạc quan trước sự sống chết, ung dung tự tại để
hưởng cái thú vui nhàn ở đời.
3.2. Ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối với đạo làm
người trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII
3.2.1. Tư tưởng “vô dục”, không màng danh lợi để được ung dung
tự do, tự tại
Các nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu từ thế kỷ XV - XVIII, như
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Lê Hữu Trác đều cho rằng,
đời người thật ngắn ngủi nên danh lợi là huyễn hoặc, những cái đó chỉ làm
vướng víu bản thân con người, làm cho con người không thể ung dung tự
do, tự tại. Vì thế các ông coi thường vinh hoa phú quý, “tri túc” với những
gì mình đang có để sống hòa đồng với thiên nhiên để hưởng thú nhàn ẩn ở
đời. Vì đứng trước cảnh đất nước khủng hoảng nghiêm trọng, những mâu
21


thuẫn xã hội phát triển nên gay gắt, “nồi da xáo thịt” bởi các tập đoàn
phong kiến làm cho nhân dân lầm than cơ cực. Sự ứng xử của các ông cũng
là tiếng nói chung của nhiều danh sĩ lúc bấy giờ, họ không còn tha thiết với


hồn. Cái an nhàn trong lối xuất xử của các nhà tư tưởng trong thời kỳ này
không phải là thoát tục mà chỉ là một lối sống, một cách ứng xử, một
phương tiện nhằm thoát khỏi những ràng buộc danh lợi, để được sống lạc
thiên, tri mệnh, ung dung tự do, tự tại.
3.2.4. Đối với tư tưởng dưỡng sinh, đạt sinh trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII
Thời kỳ từ thế kỷ XV - XVIII, đã có nhiều nhà tư tưởng chịu ảnh
hưởng đến thuật dưỡng sinh của Đạo gia, trong đó điển hình nhất là Hải
Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác - ông tổ của nền y học cổ truyền Việt Nam.
Cũng giống như tư tưởng của Đạo gia về thuật dưỡng sinh, các nhà tư
tưởng thời kỳ này cho rằng, con người muốn sống khoẻ mạnh, hạn chế
được bệnh tật phát sinh cần phải sống “thuận theo tự nhiên” của trời đất. Vì,
bản thân con người cũng là một sinh vật của trời đất thì tất yếu cũng phải
hành động thuận theo những quy luật của tự nhiên. Đặc biệt là phải điều tiết
các mối quan hệ của mình với điều kiện tự nhiên. Cũng là tư tưởng “thanh
tĩnh vô vi”, “vô dục”, “vô tình”, “tri túc”,… trong thuật dưỡng sinh, đạt
sinh của Đạo gia, các nhà tư tưởng trong thời kỳ này đã vận dụng một cách
linh hoạt đến việc chăm sóc sức khoẻ, điều trị bệnh thân và bệnh tâm cho
nhân dân. Đây là một giá trị lớn, mang tính nhân văn, nhân đạo của triết lý
nhân sinh của Đạo gia Việt Nam.
Tiểu kết chương 3
Như vậy, ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo gia đối với lịch sử tư
tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII khá toàn diện và sâu sắc được thể
hiện trên nhiều lĩnh vực về vấn đề con người và đạo làm người. Nhưng sự
ảnh hưởng đó không phải rập khuôn, máy móc về kinh điển của Đạo gia
hay tiếp thu những tư tưởng tiêu cực từ triết lý nhân sinh của Đạo gia như
yếm thế, thoát tục, bi quan,… mà hầu như sự ảnh hưởng đó điều trên góc độ
tích cực. Một Ức Trai ở chốn Côn Sơn, một Tuyết Giang Phu tử ở am Bạch
Vân, một lão Tiều phu ở núi Na, một Lãn Ông ở làng quê Bàu Thượng,…

cần phải có những phép xử thế đúng với đời, như cần có đức “khiêm nhu”,
“bất tranh”, “dĩ đức báo oán”, “thành công thân thoái”, “vị ngã”, “quý
sinh”, “vô dục”, “tri túc”, “dưỡng sinh, đạt sinh”,… Đó chính là những
chuẩn mực về đạo làm người trong triết học nhân sinh của Đạo gia.
Trong chặng đường thăng trầm của lịch sử dân tộc từ thế kỷ XV XVIII, có không ít nhà tư tưởng lúc bấy giờ đã “lánh đục tìm trong” nhằm
giữ đạo thanh cao của người quân tử. Cho nên, nhiều nhà tư tưởng Việt
Nam tiêu biểu trong thời kỳ này, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Dữ, Lê Hữu Trác,… đã chịu ảnh hưởng triết lý nhân sinh của Đạo
gia được thể hiện trên nhiều nội dung về con người và đạo làm người. Mặc
dù chỉ là “gậy đỡ tinh thần” hay “chất phụ gia” nhưng những tư tưởng trên
các lĩnh vực đó đã tạo nên một giá trị rất riêng cho lịch sử tư tưởng Việt
Nam trong thời kỳ từ thế kỷ XV - XVIII.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status