VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THÙY LINH
THỦ CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG NGHIỆP
ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVII - XVIII
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THÙY LINH
THỦ CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG NGHIỆP
ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVII - XVIII
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 9 22 90 13
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.NGUYỄN ĐỨC NHUỆ
hiện những Đề tài Khoa học cấp cơ sở trong những năm qua và đó là bước chuẩn bị
đặc biệt quan trọng cho quá trình triển khai Luận án. Đồng thời, qua những Hội đồng
nghiệm thu Đề tài cấp cơ sở hàng năm, tôi nhận được những ý kiến phản biện quý báu,
không chỉ giúp tôi hoàn thiện kiến thức phục vụ cho đề tài Luận án Tiến sĩ mà còn là
những chỉ dẫn để hoàn thiện kỹ năng nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu của hoạt động
nghiên cứu khoa học lâu dài. Tác giả luận án xin gửi lời tri ân chân thành tới các thành
viên Hội đồng, là những nhà khoa học đã và đang công tác tại Viện Sử học.
Chân thành cảm ơn gia đình đã tạo cho tôi ý thức không ngừng học tập từ tấm bé,
cảm ơn Anh Hoàng Anh Tuấn vì những hỗ trợ thiết yếu trong thời gian tôi làm Luận án
và những người bạn, đồng nghiệp luôn quan tâm, khích lệ tôi trong suốt thời gian qua.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, mùa Xuân 2018
Tác giả
Lê Thùy Linh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ....................................... 6
1.1. Nghiên cứu trong nước ............................................................................................. 6
1.2. Nghiên cứu ở nước ngoài ....................................................................................... 22
1.3. Những vấn đề luận án kế thừa và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ......................... 27
CHƯƠNG 2: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ CÔNG, THƯƠNG
NGHIỆP ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVII - XVIII .................................................... 29
2.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực thế kỷ XVII - XVIII ................................................. 29
2.2. Bối cảnh trong nước ............................................................................................... 31
2.3. Vài nét về kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp Đàng Ngoài trước thế kỷ XVII .. 42
Tiểu kết chương 2 ......................................................................................................... 48
CHƯƠNG 3: KINH TẾ THỦ CÔNG NGHIỆP .......................................................... 49
3.1. Chính sách của Nhà nước Lê - Trịnh đối với thủ công nghiệp .............................. 49
Cầm quyền
CTQG
Chính trị Quốc gia
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
EIC
East India Company
KHXH
Khoa học Xã hội
KHXH&NV
Khoa học Xã hội và Nhân văn
LATS
Luận án Tiến sĩ
NCLS
Nghiên cứu Lịch sử
thường chỉ tập trung khai thác các nguồn tài liệu chính sử cùng một số tập du hành ký
của các thương nhân và giáo sỹ phương Tây. Các nguồn tư liệu phương Tây khác như
tư liệu lưu trữ của các công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh cũng như tư liệu truyền giáo
của Bồ Đào Nha,…có liên quan đến các khía cạnh thủ công nghiệp và thương nghiệp
Đàng Ngoài thời kỳ này về cơ bản vẫn còn để ngỏ.
Những năm gần đây, giới sử học trong nước ngày càng dành nhiều quan tâm cho
giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII. Nhiều nguồn tư liệu được tiếp cận khai thác nên các
công trình nghiên cứu tăng về số lượng và phong phú về lĩnh vực khảo cứu. Bên cạnh
đó, một số công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài cũng được dịch và xuất
bản, một số nguồn tư liệu bước đầu được biên dịch và công bố, góp phần phục vụ công
tác nghiên cứu lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại. Trong những ấn phẩm đó, vấn đề
thủ công nghiệp và thương nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII cũng được đề cập
ở các mức độ đậm, nhạt khác nhau.
Thủ công nghiệp và thương nghiệp là những bộ phận cấu thành của nền kinh tế,
xuất hiện từ chỗ đơn giản sơ khai là sản xuất tự cung tự cấp đến việc trao đổi hàng
hóa, cao hơn là những hoạt động thương mại tiền tệ đa dạng và phức tạp. Đặc điểm
chung của kinh tế công, thương nghiệp Việt Nam là khởi nguồn từ làng xã, là những
bộ phận của nền kinh tế làng xã và gắn bó chặt chẽ với hoạt động kinh tế nông nghiệp.
Trong quá trình chuyển biến của thủ công nghiệp có vai trò quan trọng của thương
nghiệp và ngược lại, thủ công nghiệp là cơ sở không thể thiếu để thương nghiệp phát
triển, chuyển từ hình thức trao đổi, buôn bán nhỏ lẻ sang hình thức kinh tế hàng hóa,
thể hiện yếu tố thị trường.
Thành tố quan trọng hàng đầu của một nền thương nghiệp là các thương phẩm. Ở
Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII, thương phẩm đa phần đến từ nguồn hàng thủ
công nghiệp. Nghiên cứu chung về thủ công nghiệp Việt Nam khá phong phú với
nhiều công trình nghiên cứu, chuyên luận và bài báo khoa học đề cập đến mọi
ngành nghề thủ công, làng nghề truyền thống …Tuy vậy, có thể khẳng định rằng,
đến nay chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào lấy thủ công nghiệp, thương
nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII làm đối tượng nghiên cứu độc lập, phân
tích mối quan hệ biện chứng giữa sự mở rộng của thủ công nghiệp và sự phát triển
công nghiệp; Nghiên cứu một số nghề thủ công nghiệp tiêu biểu trong các thế kỷ XVII
- XVIII dưới góc độ là nguồn cung cấp hàng hóa cho thương nghiệp.
- Thương nghiệp: Nghiên cứu chính sách của Nhà nước Lê - Trịnh đối với thương
nghiệp; Nghiên cứu thương nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII trên phương diện
nội thương và ngoại thương, thể hiện cụ thể trong các khía cạnh: đội ngũ thương nhân,
hàng hóa trao đổi và các trung tâm thương nghiệp.
- Những tác động của kinh tế công, thương nghiệp đối với Đàng Ngoài thế kỷ XVII
- XVIII trên các phương diện: chính trị, quân sự, những chuyển biến trong kinh tế
nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, hoạt động của các đô thị, chợ, bến và
các tuyến buôn bán; tác động đối với xã hội được thể hiện qua thành phần dân cư và
hiện tượng di dân, sự biến đổi của làng Việt, tôn giáo, tín ngưỡng, nếp nghĩ, lối sống,
khoa học kỹ thuật, chữ viết,…
2
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII, khi triều Lê sụp đổ
trước sự tấn công của quân Tây Sơn.
- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu vấn đề thủ công nghiệp và thương
nghiệp trong phạm vi không gian Đàng Ngoài, từ ranh giới sông Gianh trở ra Bắc quốc
gia Đại Việt.
Nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài 46 năm, từ năm 1627 đến năm 1672, hai bên
quyết định dừng cuộc chiến tranh và lấy sông Gianh làm giới tuyến, phân cắt Đại Việt
thành hai miền. Tên gọi Đàng Ngoài (Bắc Hà) và Đàng Trong (Nam Hà) xuất hiện từ
thời điểm này. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phân cắt lãnh thổ và quyền lực đã diễn ra từ
đầu thế kỷ XVII. Năm Canh Tý (1600), viện cớ đem quân đánh dẹp Phan Ngạn, Ngô
Đình Nga, Bùi Văn Khuê ở cửa Đại An, Nguyễn Hoàng chủ động đem quân vào
Thuận Hóa, ấp ủ ý tưởng xây dựng lực lượng và vùng đất đứng chân riêng của họ
Nguyễn ở phía Nam. Từ năm Quý Sửu (1613), Nguyễn Phúc Nguyên lên thay Nguyễn
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác-Lênin làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu. Vấn đề “Thủ công nghiệp và
thương nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII” được nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử
cụ thể của thế kỷ XVII - XVIII, không gian được giới hạn là Đàng Ngoài. Kinh tế thủ
công nghiệp và thương nghiệp được nghiên cứu trong sự vận động không ngừng của
thực tế lịch sử, xã hội thế kỷ XVII - XVIII nên có mối quan hệ tương tác giữa bối cảnh
lịch sử và tình hình kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp.
Mối quan hệ biện chứng được thể hiện sâu sắc giữa thủ công nghiệp và thương
nghiệp. Do đó, phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử là
những phương pháp quan trọng giúp tác giả nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện,
khách quan và thấy được tác động của thủ công nghiệp và thương nghiệp Đàng Ngoài
đối với chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích đề tài đề ra, các phương pháp nghiên cứu của khoa học
lịch sử được sử dụng, gồm những phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử: nghiên cứu vấn đề thủ công nghiệp
và thương nghiệp theo đồng đại và lịch đại để có sự đánh giá toàn diện và khoa học.
- Phương pháp so sánh: nhằm làm nổi bật đặc tính của đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic.
- Phương pháp khu vực học: đặt Đàng Ngoài trong bối cảnh khu vực và quốc tế thế
kỷ XVII - XVIII, nghiên cứu sự tương tác giữa khu vực, quốc tế với Đàng Ngoài và
ngược lại, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Công trình nghiên cứu về các nghề thủ công ở Việt Nam rất phong phú. Nghiên cứu
về kinh tế thương nghiệp, đặc biệt là vấn đề ngoại thương tăng lên đáng kể trong một
vài thập niên gần đây. Trên cơ sở khai thác tổng hợp các nguồn tài liệu trong nước và
Luận án ít nhiều đưa ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình hội
nhập hiện nay cũng như việc phải bảo tồn và phát huy giá trị của các nghề thủ công và
các làng nghề truyền thống trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 5
chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những yếu tố tác động đến kinh tế công, thương nghiệp Đàng Ngoài thế
kỷ XVII - XVIII
Chương 3: Kinh tế thủ công nghiệp
Chương 4: Kinh tế thương nghiệp
Chương 5: Tác động của kinh tế công, thương nghiệp đối với chính trị, kinh tế, xã
hội Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu trong nước
1.1.1. Những công trình nghiên cứu đề cập đến thủ công nghiệp và thương
nghiệp Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII
Trước năm 1975, trong bối cảnh cả nước tập trung vào hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ, vấn đề kinh tế nói chung và công, thương nghiệp nói riêng không
được chú trọng nghiên cứu. Thời kỳ này, công trình đáng chú ý hơn cả là Tình hình
công thương nghiệp Việt Nam trong thời Lê Mạt của Vương Hoàng Tuyên (Nxb. Văn
Sử Địa, Hà Nội, 1959). Tuy khái quát nhưng tác giả đã nêu được những đặc điểm các
nghề thủ công nghiệp, tình hình nội thương, ngoại thương, vấn đề tiền tệ thời Lê mạt.
Thủ công nghiệp, thương nghiệp Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam. Do đó, hầu hết nghiên cứu về làng xã Việt Nam đề cập đến công,
Giới, Hà Nội, 1998, 1999) (sách in lần thứ 2 có chỉnh lý, do Nxb. Thế Giới xuất bản
năm 2011); Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb. Giáo Dục,
Hà Nội, 1999; Nguyễn Quang Ngọc, Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo Dục, Hà
Nội, 2000; Lịch sử Việt Nam, Tập IV: Thế kỷ XVII - XVIII do Trần Thị Vinh chủ biên,
Nxb. KHXH, Hà Nội, 2013 thuộc bộ thông sử 15 tập do Viện Sử học chủ trì. Năm
2017, bộ sách đã được tái bản, tập IV có chỉnh sửa, bổ sung. Sự phát triển và ảnh
hưởng của kinh tế công, thương nghiệp đối với kinh tế - xã hội thế kỷ XVII - XVIII
được nghiên cứu trên phạm vi cả nước. Trong tập II bộ thông sử “Lịch sử Việt Nam”
do Phan Huy Lê chủ biên (Nxb. Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội, 2012), chương VI phản
ánh kinh tế hàng hóa nước Đại Việt từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Các vấn
đề thủ công nghiệp, nội thương, ngoại thương được nghiên cứu hệ thống, đặt trong bối
cảnh chung của quốc gia Đại Việt và bối cảnh quốc tế của kỷ nguyên thương mại. Vấn
đề nghiên cứu được mở trên diện rộng: nước Đại Việt. Thời gian nghiên cứu giới hạn
đến đầu thế kỷ XVIII. Do đó, vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn với
phạm vi thời gian rộng mở hơn.
Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học quy tụ nhiều nhà nghiên cứu về Việt Nam trong
và ngoài nước. Trong nội dung bài viết của nhiều tác giả, qua 4 lần tổ chức hội thảo
quy mô, vấn đề thủ công nghiệp, thương nghiệp đã được đề cập nghiên cứu trên nhiều
phương diện, góc độ khác nhau.
Một số bài viết in trong kỷ yếu hội thảo Chúa Trịnh Cương: Cuộc đời và sự nghiệp
(Nxb. VHTT, Hà Nội, 2010) tập trung nghiên cứu thương nghiệp như: Ngoại thương
Đại Việt thời Lê - Trịnh qua một số nguồn sử liệu phương Tây (Nguyễn Văn Kim); Từ
vụ áp phe thương mại đến chính sách cấm xuất dương của chính quyền Lê - Trịnh
(Hoàng Anh Tuấn)…Nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu về lịch sử Việt
Nam, làng xã Việt Nam, thủ công nghiệp và thương nghiệp được nghiên cứu một cách
khái quát trên phạm vi cả nước.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến thủ công nghiệp
Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII
Nghiên cứu về thủ công nghiệp Việt Nam rất đa dạng, phong phú, thường đề cập
đến lịch sử hình thành và phát triển của nghề và làng nghề, đặc trưng của nghề như là
Tác phẩm Con đường phát triển tiểu công nghiệp thủ công nghiệp Việt Nam của tác
giả Nghiêm Phú Ninh, Nxb. Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1986 có thể coi là nghiên cứu
mang tính tổng kết và định hướng khi tác giả chỉ ra tính quy luật, vai trò, vị trí của tiểu
thủ công nghiệp trong nền kinh tế cũng như đời sống nhân dân. Đồng thời, tác giả nêu
những phương hướng, chính sách khuyến khích sự bảo tồn và phát triển tiểu, thủ công
nghiệp truyền thống ở địa phương.
Những bàn tay tài hoa của cha ông của các tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang
Ngọc (Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1988) đề cập đến 15 nghề thủ công truyền thống trên
các khía cạnh: tổ sư nghề, quy trình kỹ thuật, lịch sử phát triển của từng nghề. Để hiểu
rõ hơn về nguồn gốc các ngành nghề thủ công nghiệp Việt Nam, vai trò của những con
Năm 1976, Hội đồng chính phủ ra nghị quyết “Tổ chức lại sản xuất, tăng cường và cải tiến một bước quản lý,
phát huy hơn nữa tác dụng của tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp nhằm phát triển kinh tế và phục vụ đời sống
nhân dân”.
2
8
người tài hoa sáng tạo ra nghề thủ công mới, không thể không kể đến Lược truyện thần
tổ các ngành nghề của Vũ Ngọc Khánh (Nxb. KHXH, Hà Nội, 1990); Nghề thủ công
truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1996 của
Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo.
Công trình nghiên cứu của Vũ Huy Phúc Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 1945, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1995 là một trong những nghiên cứu đáng chú ý trong
thời gian này. Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu tiểu thủ công nghiệp Việt Nam thời cận
đại, tác giả còn phác dựng lại quá trình hình thành, phát triển của các ngành nghề thủ
công truyền thống từ những thế kỷ trước đó.
Tình hình nghiên cứu về thủ công nghiệp chuyển biến rõ rệt hơn sau Hội thảo “Hội
nghề truyền thống 1995” và Hội thảo Quốc tế với chủ đề “Bảo tồn và phát triển các
làng nghề truyền thống Việt Nam” năm 1996. Tác giả Bùi Văn Vượng nghiên cứu
chuyên sâu về thủ công nghiệp Việt Nam với một số công trình như Việt Nam truyền
Vũ Huy Phúc, Bùi Thị Tân cũng cung cấp những thông tin căn bản về các nghề thủ
công nghiệp Việt Nam từ trong lịch sử.
*Bên cạnh những nghiên cứu chung, khái quát về tình hình thủ công nghiệp của cả
nước, còn có những công trình chuyên khảo về từng nghề thủ công riêng biệt và ở
những địa phương cụ thể:
Từ những năm 70, tỉnh Hà Nam Ninh đã xuất bản tạp chí Tiểu công nghiệp, thủ
công nghiệp, đăng tải những bài viết về thủ công nghiệp của tỉnh. Hiện nay, các số từ
năm 1973 đến năm 1986 được lưu trữ trong Thư viện Quốc gia không đầy đủ.
Đến thập niên 90, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế ở các địa phương, nhiều công
trình, tập hợp công trình được xuất bản, đặc biệt ở các tỉnh có truyền thống nghề thủ
công như Hải Hưng, Hà Tây, Hà Nội…
Hải Hưng thuộc phạm vi không gian văn hóa xứ Đông, là cái nôi khởi phát của nhiều
nghề thủ công nghiệp truyền thống. Từ xứ Đông, các nghệ nhân tỏa đi khắp các tỉnh
thành trong cả nước, đặc biệt ở kinh đô Thăng Long - Hà Nội, đem theo những giá trị
của nghề thủ công truyền thống. Nhận thức sâu sắc thực tế lịch sử này, Sở Văn hóa Thông tin Hải Hưng xuất bản công trình Nghề cổ truyền gồm 3 tập (Tập 1 - năm 1985,
Tập 2 - năm 1987, Tập 3 - năm 1995) nghiên cứu khái quát về quá trình phát sinh, phát
triển của các nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở Hải Hưng.
Bên cạnh những giá trị văn hóa tinh thần, vùng văn hóa xứ Đoài, xứ Bắc còn mang
đậm dấu ấn văn hóa vật chất, được phản ánh qua những công trình nghiên cứu như:
Nghề đẹp quê hương, Nhiều tác giả, Sở Văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình, 1977; Vũ Từ
Trang, Nghề đẹp tỉnh Bắc, Ty Văn hóa, Ban liên hợp xã tiểu thủ công nghiệp Hà Bắc,
1982; Nhiều tác giả, Hà Tây làng nghề, làng văn, 2 tập, Tập 1: Làng nghề, Sở Văn hóa
Thông tin - Thể thao Hà Tây xuất bản năm 1992 và nhiều bài viết, chuyên khảo khác.
Ở vị trí trung tâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Thăng Long - Hà Nội là nơi hội tụ
tinh hoa nghề thủ công của miền Bắc Việt Nam. Hoa tay đất rồng của Nguyễn Thọ Sơn,
Hội Văn nghệ Hà Nội xuất bản năm 1976 là thể truyện ký nhưng có thể coi là một trong
những công trình sớm và có quy mô về các nghề thủ công truyền thống của Hà Nội như
gốm, khảm, giấy, thêu, đúc, mộc, nghề đúc đồng. Tính nghiên cứu được thể hiện đậm
công nghiệp trong phát triển kinh tế nhiều thành phần ở các đô thị. Đồng thời, tác giả
đưa ra những giải pháp để phát triển và quy hoạch tiểu thủ công nghiệp Việt Nam.
*Thủ công nghiệp Việt Nam đa dạng ngành nghề, có lịch sử phát triển lâu đời. Mỗi
nghề có quá trình phát sinh, phát triển riêng, trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều
nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, khảo cổ học. Trong đó, nghề gốm, nghề đúc, nghề dệt
được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả. Không chỉ được đề cập đến trong tất cả
những công trình nghiên cứu chung về thủ công nghiệp, các nghề thủ công nghiệp
riêng biệt còn được khảo cứu công phu trong những công trình nghiên cứu và bài viết
đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, luận văn, luận án. Những công trình này được
công bố chủ yếu trong giai đoạn 1980 -1990.
Nghề gốm và các sản phẩm gốm được các nhà sử học và khảo cổ học đầu tư nghiên
cứu. Những bài viết nghiên cứu mang tính khái quát như: Nguyễn Văn Y, Truyền
thống gốm Việt Nam, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 1, 1972, tr.34; Minh Tú, Gốm
nguyên thủy ở Việt Nam, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 8, 1973, tr.31; Nguyễn Bích,
Đồ gốm từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII, tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ
thuật, số 1, 1978, tr.39; Nguyễn Văn Y, Nghệ thuật gốm Việt Nam - đặc điểm truyền
thống và hướng phát triển, tạp chí Mỹ thuật, số 1, 1981; Nghệ thuật gốm Việt Nam từ
11
thế kỷ 10 đến thế kỷ 19, tạp chí Văn hóa dân gian số 3, 1984, tr.18; Viện Khảo cổ học,
Gốm cổ Việt Nam, Tư liệu Viện Khảo cổ học, 1993; Nguyễn Bích, Lịch sử phát triển
nghệ thuật gốm Việt Nam, tạp chí Mỹ thuật thời nay, số 3, 1994, tr.7…Trong đó, công
trình đáng kể nhất, công phu và chứa đựng nội dung thông tin đầy đủ, phong phú hơn
cả về gốm Việt Nam là nghiên cứu Gốm cổ Việt Nam của Viện Khảo cổ. Cách tiếp cận
chủ yếu dưới góc độ khảo cổ học. Trong cuốn Văn hóa gốm của người Việt vùng đồng
bằng sông Hồng, Nxb. Lao động, 2012, tác giả Trương Minh Hằng không chỉ trình
bày lịch sử hình thành, không gian phân bố và quy trình sản xuất, vai trò, chức năng,
giá trị của đồ gốm trong đời sống xã hội mà còn tổng kết được những đặc trưng cơ bản
đầu tìm hiểu một số ngành nghề ở Thổ Hà từ 1945 đến 2009; Vũ Thị Vân, Bước đầu tìm hiểu sản xuất sành sứ ở
Đức Thọ Vạn - Lò Chum (1954 - 2003), Khoá luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2004…
5
Trương Minh Hằng: “Thực trạng nghề gốm Thổ Hà”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, 2003, tr. 70-73; “Tìm
hiểu nguồn gốc nghề gốm Thổ Hà”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2004, tr.54-59; “Gốm Phù Lãng - truyền
12
Nghề đúc là một trong những nghề thủ công lâu đời của Việt Nam với những địa
danh nổi tiếng như Ngũ Xã, Đại Bái,…Công trình nghiên cứu tiêu biểu là Làng Đại
Bái gò đồng của Đỗ Thị Hảo do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam xuất bản năm 1987
trình bày tổng quan về làng Đại Bái và đi sâu nghiên cứu về nghề đúc đồng ở Đại Bái
từ một nghề thủ công kim khí đến mỹ nghệ dân gian, những dấu tích và niềm tin của
nhân dân về một nghề thủ công truyền thống; Đỗ Thị Hảo, Làng Vó và nghề đúc đồng
truyền thống, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1991 và loạt bài viết của tác giả Bùi Văn Vượng
về nghề đúc đồng6. Một số khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tập
trung nghiên cứu nghề đúc ở một số địa phương nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở những
nghiên cứu độc lập, riêng lẻ7.
Nghề dệt xuất hiện từ rất sớm, đóng vai trò là nghề thủ công quan trọng ở Việt
Nam. Nghiên cứu về nghề dệt và đa dạng sản phẩm (vải, thổ cẩm, chiếu cói),… gồm
có các nghiên cứu sau: Duy Việt, “Nghề tằm tơ”, tạp chí Khoa học, số 152, 1937,
tr.141; Lâm Bá Nam, “Nghề dệt cổ truyền La Khê”,tạp chí Dân tộc học, số 3, 1986,
tr.38; “Nghề dệt cổ truyền làng lụa Vân, Vạn Phúc”, tạp chí Dân tộc học, số 2, 1990,
tr.54; “Nghề dệt cổ truyền của một làng ven đô”, tạp chí Dân tộc học, số 2, 1992; Bùi
Văn Vượng, “Tơ lụa Hà Đông - Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”, tạp chí
Công nghiệp nhẹ, số 2 (296), 1995, tr.14-16; “Nghề dệt chiếu Hới”, tạp chí Dân tộc
học số 3-1993 của tác giả Lưu Thị Tuyết Vân; Lê Thị Bình, “Nghề dệt thảm thủ công
truyền thống Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo “Hội nghề truyền thống 1995”, Hà Nội,
1996, tr.70-75. Một số luận văn tốt nghiệp Khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp tập
Thế kỷ XXI, xu hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế tác động trực tiếp đến định
hướng phát triển kinh tế Việt Nam nói chung, thủ công nghiệp Việt Nam nói riêng. Bài
toán đặt ra không chỉ đối với những nhà hoạch định chính sách mà cả với người lao
động sản xuất trong lĩnh vực thủ công nghiệp là làm thế nào để mở rộng thị trường,
giải quyết vấn đề đầu ra cho các sản phẩm thủ công truyền thống; làm thế nào để nghề
thủ công không bị mai một và giữ được bản sắc làng nghề trước xu hướng hội nhập?
Do đó, vấn đề nghiên cứu về làng nghề, nghề thủ công truyền thống được nghiên cứu
trở lại với tầm quy mô và mang tính tổng kết, phục vụ cho việc hoạch định chính sách
phát triển kinh tế trong tương lai. Kết quả nghiên cứu cần kể đến là Làng thủ công mỹ
nghệ miền Bắc của tác giả Trương Minh Hằng, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội, 2006 cung cấp
cái nhìn tổng quan về làng nghề thủ công mỹ nghệ miền Bắc và việc bảo tồn các giá trị
văn hóa nghề, giới thiệu khái quát về một số nghề và làng nghề tiêu biểu. Vấn đề bảo
tồn được đặt ra có trọng tâm hơn trong bài viết “Làng nghề truyền thống với việc bảo
tồn các giá trị văn hóa nghề” của tác giả, đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam
Á, số 4, 2006, tr.59-64.
Công trình nghiên cứu đồ sộ, có sự đầu tư lớn về công và tâm của những người
tham gia là Tổng tập làng nghề truyền thống Việt Nam do Trương Minh Hằng chủ biên
(Nxb. KHXH, Hà Nội, 2012), gồm 6 tập9. Tổng tập cung cấp những nghiên cứu tổng
quan về nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam và các ngành nghề thủ công cơ bản.
Có thể nói, cho đến thời điểm này, đây được coi là công trình nghiên cứu đồ sộ, tập
hợp được đầy đủ và toàn diện nhất về các ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống
của Việt Nam.
Sau khi xuất bản bộ tổng tập trên, nhóm tác giả công bố công trình Nghề và làng
nghề truyền thống Việt Nam (Trương Minh Hằng chủ biên), gồm 3 tập. Quyển 1: Nghề
chế tác đá, nghề sơn và một số nghề khác; Quyển 2: Nghề mộc, nghề chạm; Quyển 3:
Nghề chế tác kim loại, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2015.
Năm 2012, Nghề cổ nước Việt của Vũ Từ Trang được Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà
Nội ấn hành, cung cấp những thông tin căn bản về từng ngành nghề thủ công truyền
thống của Việt Nam. Tác giả đã khái lược lịch sử và quá trình phát triển của các ngành
nghề thủ công, đặc điểm làng nghề, kỹ thuật sản xuất của 21 nghề chính. Một số bài
thống trong thời kỳ trung đại.
Dù nghiên cứu vấn đề thủ công nghiệp của cả nước hay của tỉnh, địa phương, điểm
chung của các luận án là nêu lên thực trạng của các ngành nghề, xác định giải pháp chủ
yếu nhằm đẩy mạnh sự phát triển của làng nghề, nghề thủ công truyền thống, đáp ứng
những yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Nhìn chung nghiên cứu về thủ công nghiệp Việt Nam đa dạng nhưng phần lớn thiên
về mô tả các ngành nghề. Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu thủ công nghiệp
trong mối quan hệ với kinh tế thương nghiệp trong các thế kỷ XVII - XVIII.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến thương nghiệp Đàng
Ngoài thế kỷ XVII - XVIII
1.1.3.1. Nghiên cứu về kinh tế nội thương
Trong tương quan so sánh với những nghiên cứu về ngoại thương, những công trình
nghiên cứu về nội thương Việt Nam nói chung và Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII nói
riêng ít ỏi và tản mạn hơn rất nhiều. Trong nhãn quan của các sử gia phong kiến, vì tư
tưởng “dĩ nông vi bản”, “trọng nông ức thương” chi phối, việc buôn bán không được
coi là một nghề có giá trị và thương nhân bị xếp vào vị trí cuối cùng của thang giá trị
phân tầng xã hội “sĩ, nông, công, thương”. Do đó, những ghi chép một cách cẩn thận
và toàn diện về nội thương hoàn toàn vắng bóng, có chăng chỉ là những chép nhặt vụn
15
vặt về chợ và sản vật của vùng, miền, địa phương. Trong khoảng thời gian dài mấy thế
kỷ và gần hơn là mấy chục năm của thế kỷ XX đến nay, vấn đề nội thương Việt Nam
nói chung, Đàng Ngoài nói riêng chưa thực sự được đầu tư nghiên cứu một cách thỏa
đáng. Cho đến nay, chưa có một công trình sách nghiên cứu riêng biệt, toàn diện về
vấn đề nội thương Việt Nam hoặc cụ thể hơn là về nội thương của Đàng Ngoài trong
những thế kỷ này. Phần lớn, vấn đề nội thương được nghiên cứu như một bộ phận cấu
thành của kinh tế thương nghiệp, được trình bày trong những nghiên cứu chung, khái
quát theo diễn trình lịch sử Việt Nam. Một số nghiên cứu về nội thương nhưng không
Thăng Long - Hà Nội trong những thế kỷ XVII-XVIII-XIX”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử (NCLS) số 208, 1983; “Phố phường Thăng Long - Hà Nội trong những thế kỷ
XVII-XVIII-XIX”, Tạp chí NCLS, số 210 & 211, 1983; Đô thị Việt Nam thế kỷ XVIIXVIII qua khảo sát một số đô thị tiêu biểu (Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản, mã số
CB-01-12, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, 2004); “Quá
trình hình thành, biến chuyển và những nét đặc trưng của kinh tế hàng hoá Thăng
Long - Hà Nội giai đoạn trước Cận đại”, Tạp chí NCLS, số 6 (374), 2007, tr. 3-15 (viết
chung với Nguyễn Quang Ngọc); “Về nền kinh tế đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ thế kỷ
XVI-XVII”, trong Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII, Nxb.
Thế Giới, Hà Nội, 2007; “Cộng đồng cư dân đô thị và văn hóa thị dân Thăng Long Kẻ Chợ thế kỷ XVII-XVIII”, Tạp chí NCLS, số 2 (382), 2008, “Suy nghĩ về kinh tế xã hội Thăng Long - Hà Nội - hôm qua, hôm nay và mai sau”, NCLS, số 3 (431), tr.316,… Những nghiên cứu chuyên sâu kể trên tập trung vào các khía cạnh của nội
thương kinh đô Thăng Long - Kẻ Chợ, cung cấp nhiều thông tin khoa học góp phần
phục dựng lại toàn cảnh kinh tế nội thương của đô thị Thăng Long giai đoạn thế kỷ
XVII - XVIII. Tuy đóng vai trò trung tâm chính trị - kinh tế lớn nhất của Đàng Ngoài
nhưng Thăng Long không thể phản ánh toàn diện tình hình nội thương của Đàng
Ngoài thế kỷ XVII - XVIII.
Trong số những công trình nghiên cứu về đô thị, không thể không kể đến công trình
Đô thị cổ Việt Nam của Viện Sử học xuất bản năm 1989. Hệ thống đô thị cổ từ thế kỷ
III đến thế kỷ XIX được nghiên cứu trên các mặt lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội… Do đó, kinh tế nội thương các đô thị Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII phần nào
được khắc họa.
Nông thôn, làng xã Việt Nam thu hút lượng lớn các nhà nghiên cứu sử học và cũng
là đề tài có số lượng công trình nghiên cứu đồ sộ nhất. Đặc thù của kinh tế nội thương
Việt Nam là gắn với làng xã. Do đó, khi nghiên cứu về làng xã Việt Nam, nội thương
hiện diện như một thực thể không thể tách rời kinh tế làng xã.
Có thể nói, với công trình Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIIIXIX (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 1993) của tác giả Nguyễn Quang
Ngọc, nội thương ở nông thôn Việt Nam mới thực sự trở thành một vấn đề nghiên cứu
độc lập, không bị khuất lấp trong những đa tầng sự kiện lịch sử và vô số đặc điểm của
nông thôn Việt Nam. Công trình đã cung cấp cho người đọc những kiến thức quan
trọng về nội thương của vùng đồng bằng Bắc Bộ trong các thế kỷ XVIII - XIX. Tác
Nội, 1959. Chỉ đến nghiên cứu của Thành Thế Vỹ “Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ
XVII, XVIII và đầu XIX” (Nxb. Sử học, Hà Nội, 1961), thương nghiệp mới trở thành
một đối tượng nghiên cứu độc lập. Tuy nhiên, tài liệu này được xuất bản cách ngày
nay hơn nửa thế kỷ, quan điểm và nguồn sử liệu cần được bổ sung, cập nhật.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX, vấn đề thương nghiệp Việt Nam từng bước được
nghiên cứu một cách hệ thống. Trên cơ sở khai thác những nguồn tài liệu mới từ
phương Tây (trọng tâm là Anh, Hà Lan, Pháp), nhiều học giả trong nước đã có những
nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt là lĩnh vực ngoại thương Đàng Ngoài thế kỷ XVII XVIII. Từ thập niên đầu của thế kỷ XXI trở lại đây, vấn đề ngoại thương được nghiên
cứu một cách hệ thống với số lượng tác giả cũng như công trình nghiên cứu ngày một
nở rộ. Tiêu biểu là những công trình của các tác giả Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Quang
Ngọc, Nguyễn Văn Kim, Hoàng Anh Tuấn. Những khoảng trống trong vấn đề ngoại
thương Đại Việt nói chung, Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII nói riêng từng bước được
khỏa lấp. Điều đó có được là do có sự hiện diện của những nguồn tài liệu nước ngoài
ngày càng được khai mở.
18
Một số nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ về ngoại thương: “Sông Đàng
Ngoài và Domea - Một đô thị cổ đã biến mất?”, Tạp chí Xưa & Nay, số 4, 1994; “Phải
chăng ngoại thương tư nhân Việt Nam đã phát triển từ thế kỷ XVIII?”, Tạp chí NCLS,
số 7 (363), 2006; “Những thương nhân Hà Lan đầu tiên đến Đàng Ngoài và Kẻ Chợ
năm 1637”, Tạp chí NCLS, số 4 (396), 2009, số 5 (397), 2009.
Tác giả Nguyễn Quang Ngọc có những chuyên luận về ngoại thương như: “Sông Đàng
Ngoài và vị thế phố Hiến xưa”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 10 (208), 2001; “Domea,
the Border Port at a Northern Eastuary in the 17th century”, in trong Vietnam on the Road
to Development and Integration: Tradition and Modernity, The Second International
Conference on Vietnamese Studies, Ho Chi Minh City, July 14-16, 2004; “Hệ thống cảng
biển vùng Đông Bắc thế kỷ XI - XIX - Lịch sử và hiện trạng”, Đề tài Khoa học trọng
điểm ĐHQGHN, mã số QGTĐ.04.10; “Domea (Đô-mê-a) trong hệ thống thương mại
10
19